11/09/2019
ĐỀN CỔ – ĐỀN ĐOAN - Xưa và nay
(Đền thờ Quan Lớn Tuần Chanh)
Sơ lược gốc tích cổ xưa và quá trình 10 năm phục dựng mới (2009-2019)
1. Đền Cổ - Đền Đoan: Những thăng trầm lịch sử
Từ thời xa xưa không biết từ khi nào đã có ngôi đền thờ Quan lớn Tuần Chanh toạ lạc tại ngã ba sông Chanh. Trong tài liệu “Đồng Khánh Địa dư chí“ biên soạn từ đời Vua Đồng Khánh, Triều Nguyễn (1885-1888) có bản đồ chỉ rõ vị trí ngôi đền này nhưng không ghi rõ nó đã tồn tại trước đó từ bao giờ. (Đính kèm ảnh chụp trích lục bản đồ). Theo sử chép ghi, sự tích về Quan lớn Tuần đã có từ thời Vua Hùng thứ 18 (tức khoảng 300 năm trước công nguyên - tính tới nay đã là hơn 2300 năm).
Như vậy ngôi đền đã có từ rất lâu đời toạ lạc tại vị trí đúng như hiện nay. Trải qua hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa, nhân dân đã phụng thờ gìn giữ qua nhiều thế hệ. Vì sự tồn tại lâu đời này nên mới có tên gọi là Đền Cổ.
Hiện người dân còn nhớ được tên của các cố lão Đồng Đền là cụ Đồng Vừng rồi tới cụ Lý Lụa là những cụ Đồng trông coi Đền Cổ từ khoảng những năm đầu của thế kỷ 20. Sau đó tiếp đến là trước năm 1945, cố lão Đồng Đền Nguyễn Quang Thoại là Thủ nhang Đồng đền của ngôi Đền Cổ này. Đến năm 1953, ngôi đền được Cụ Nguyễn Quang Thoại trùng tu xây dựng khang trang nhất thời bấy giờ. Hiện bản đền còn giữ bức ảnh chụp ngôi đền năm 1953-1954 (Cụ Thoại là người mặc áo the đen). Cụ Nguyễn Quang Thoại là Thủ nhang Đồng đền của ngôi đền này từ trước năm 1945 cho tới tháng 8/1970, như vậy Cụ có gần 30 năm xây dựng và gìn giữ ngôi Đền Cổ. Tên tuổi của Cụ Đồng Thoại vang bóng một thời vì những đóng góp của Cụ trong việc công đức xây dựng nhiều ngôi đền lớn trên khắp đất nước Việt nam, trong đó phải kể đến việc Cụ Thoại là người trực tiếp phát tâm xây dựng Đền Chầu Lục Lạng Sơn vào khoảng những năm 1955-1956.
Những năm 1970 nhà nước chưa xây đập thuỷ điện Sông Đà nên hàng năm nước lũ dâng cao gây ảnh hưởng rất lớn đến ngôi đền. Ngày 31/7/1970 theo lệnh của chính quyền yêu cầu tháo dỡ ngôi đền, di dời các đồ thờ vào Phủ Bà trong thị trấn Ninh Giang (Hiện nay Phủ Bà vẫn đang còn tồn tại và thờ phụng Thánh Mẫu và Bà Thủ đền - Chầu Bà Đệ Tứ Khâm sai, Thủ nhang Đồng đền Phủ Bà là ông Nguyễn Quang Tòng, con trai trưởng cố lão Đồng đền Nguyễn Quang Thoại).
Tháng 12 năm 1994, thuỷ điện Sông Đà hoàn thành, từ đó không còn xảy ra lũ lụt lớn tại khu vực ngôi đền toạ lạc. Nhà nước cũng xoá bỏ bờ kè phía ngoài sông và xây dựng đường ven sông như hiện nay.
Khoảng những năm 2000, trong lúc Đền Cổ chưa được phục hưng xây dựng lại thì người ta tự ý xây dựng ngôi miếu nhỏ và dần dần xây thành ngôi đền bên ngoài mép sông. Cũng vì lý do này mà hiện nay tồn tại 2 ngôi đền ở cửa sông cạnh nhau gây nhiều phiền toái và nhầm lẫn cho du khách. Đền Cổ gốc tích xưa lại phục dựng sau nên đôi khi người ta hiểu nhầm là đền mới xây không có gốc tích gì, hoặc nhiều người lại nhầm lẫn 2 đền là một hoặc có người lại nhầm lẫn đền bên mép sông là một nhánh của Đền Đoan. Việc nhầm lẫn này đôi khi là sự vô tình của du khách hoặc chủ ý của một số người cố tình thêu dệt các câu chuyện mang tính liêu trai huyền bí. Chỉ cần nhìn rõ trên bản đồ đính kèm là chúng ta có thể dễ dàng nhận ra vị trí chính xác của Đền Đoan (Đền Cổ). Việc lễ bái tại đâu là do chữ duyên của mỗi người, tuy nhiên sự thật cần được nói rõ để tránh những nhẩm lẫn không đáng có.
Giải thích vì sao có tên Đền Đoan vì thời Pháp thuộc có sở thu thuế của Pháp (gọi là Nhà Đoan hay Sở Đoan) ngay gần ngã ba sông phía sau đền nên ngôi đền thời Pháp thuộc có tên gọi là Đền Đoan. Lại nói thêm rằng Phủ Ninh Giang xưa kia rất phát triển so với các nơi khác trên đất nước Việt Nam ta, tại ngã ba Sông Chanh, trên bến dưới thuyền người người mua bán tấp nập, nhân dân quanh vùng buôn bán làm ăn rất phát đạt vì vậy mà Pháp đặt sở thu thuế ngay tại đây.
Tóm lại, ngôi Đền Đoan chính là ngôi Đền Cổ, chính xác như tên gọi và vị trí của nó. Không phải bỗng dưng mà lại có tên gọi như vậy. Người ta có thể gọi Đền Cổ - Đền Đoan - Chanh Giang Cổ Từ hay Chanh Giang Chính Từ.
2. Tại sao lại là “Chanh” mà không phải là “Tranh”?
Dòng sông chảy qua ngôi Đền Cổ có tên gọi sông Chanh, nơi đây được gọi là ngã ba sông Chanh, là một nhánh của sông Luộc, đôi khi người ta cũng gọi là sông Luộc.
Quan lớn Tuần Chanh - theo sách cổ xưa ghi đúng là “Chanh”, tuy nhiên người ta hay đọc và viết chưa đúng hoặc tránh nói chính xác sợ phạm huý nên người ta hay nói chệch ra là Tranh, hoặc cũng có thể do phát âm sai hoặc không thống nhất nên có lúc viết thế này, lúc lại thế khác. Vì vậy không phải ông Quan lớn ở Đền Đoan là Quan lớn Tuần Chanh còn các nơi khác là Quan lớn Tuần Tranh. Hiện nay trong các tài liệu biên chép chưa có sự thống nhất là Quan Lớn Tuần Chanh hay Quan lớn Tuần Tranh, tuy nhiên hai tên gọi này là để chỉ cùng một vị Quan lớn Tuần.
3. Quá trình 10 năm phục hưng xây dựng mới ngôi Đền Cổ (2009-2019)
Từ tháng 8 năm 1970 đến cuối năm 2010 (40 năm), di tích Đền Cổ đã bị rơi vào tình trạng “đền mất, đất còn”, trong lúc đó gia đình cụ Nguyễn Quang Thoại vẫn duy trì việc thờ phụng Quan lớn tại Phủ Bà (1970-1978), sau đó lại đến thời kỳ chống mê tín dị đoan, gia đình cụ Thoại vẫn duy trì việc thờ cúng và phụng sự Quan lớn tại tư gia trong thị trấn Ninh Giang (1978-2010). Toàn bộ các cổ vật của Quan lớn được gia đình Cụ gìn giữ chu đáo, quý hơn cả mạng sống của mình. Cụ Thoại mất năm 1981, khi đó Cụ 75 tuổi. Có thể nói, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, chân nhang ngọn khói thờ Quan lớn chưa bao giờ ngừng cháy với sự gìn giữ bằng trái tim và cả tính mạng của một gia tộc họ Nguyễn Quang.
Từ những năm 2008-2009, căn cứ vào các tài liệu còn lưu giữ, gia đình ông Nguyễn Quang Dư là con trai của cố lão đồng đền Nguyễn Quang Thoại đã làm hồ sơ xin phép xây dựng lại ngôi Đền Cổ. Được sự đồng ý của chính quyền địa phương các cấp, công đức đóng góp của thập phương bách gia trăm họ, ngôi đền bắt đầu được khởi công xây dựng mới.
Sau đây là một số cột mốc quan trọng:
⁃ Đêm 30.5 rạng sáng 1.6 năm 2009: Đặt viên gạch đầu tiên xây bệ thờ Quan lớn
⁃ Tháng 10.2010: Xây nhà tạm mái tôn và rước bát hương, tượng pháp, cổ vật của Quan lớn từ tư gia về đền (Tháng 11 năm 2010)
⁃ 2011-2012: Khởi công xây dựng kiên cố và khánh thành Cung Cấm, Cung Đức Vua, Cung thờ Mẫu
⁃ 2013-2014: Xây dựng và khánh thành Cung Công Đồng
⁃ 2016: Xây mới Phủ Mẫu và Nhà thờ Tổ (khánh thành 21.4.2016)
⁃ 2018: Xây dựng và khánh thành “Sông Chanh Bến Ngự” (khánh thành 14.9.2018)
Sau 10 năm liên tục xây dựng và phát triển, trước hết là sự quyết tâm và công sức rất lớn của Thủ nhang Đồng đền hiện tại (ông Nguyễn Quang Dư), sau đó là công đức đóng góp của toàn thể bách gia trăm họ nên Đền Cổ - Đền Đoan xưa kia đã được hoàng dương khang trang tố hảo như ngày hôm nay, xứng đáng là nơi tôn nghiêm thờ phụng để ghi nhớ công lao to lớn của đức Thượng đẳng Thần Long Cung Hiển Thánh Giảo Long Hầu- Chanh Giang Đại Vương.
Về cửa sông Ninh Giang, Hải Dương ngày nay, bách gia trăm họ được chiêm bái ngôi đền nguy nga lộng lẫy, cảnh sông nước vốn đã nên thơ nay lại được tô điểm thêm bức hoạ “Sông Chanh Bến Ngự’ đẹp như trong tranh, làm bồi hồi xúc động cho bất cứ ai có nhân duyên được về bái yết Quan lớn Tuần Chanh.
Đền Cổ - Đền Đoan hiện nay đã và đang tái hiện lên đúng như những gì mà các bản văn dâng Quan lớn đã thể hiện:
Chính quán quê nhà Ninh Giang,
Chính quán quê nhà
Danh lam cổ tích một toà ngôi cao…
Lẫm liệt tung hoành uy gia,
Lẫm liệt tung hoành
Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài…
Cảnh thiên thai Quan lớn Tuần giá ngự
Bộ tiên nàng thứ tự dâng huê…
Đệ tử tâm thành khấu đầu bái tạ long ân, cầu mong Quan lớn khuông phù, tác đại chứng minh !
2:30 sáng ngày 14 tháng 5 năm Kỷ Hợi 2019
Con cả Đền Đoan (con cả của thủ nhang đồng đền hiện tại Nguyễn Quang Dư)
Chấp bút dựa vào các tư liệu lịch sử và lời kể của thủ nhang đồng đền
Đính kèm một vài tư liệu tham khảo, một số bảo vật quan trọng không công bố
Lưu ý một vài mốc thời gian có thể sai lệch đôi chút nên tác giả chỉ ghi “khoảng những năm…”