Chùa Thiên Niên Tây Hồ Hà Nội

Chùa Thiên Niên Tây Hồ Hà Nội Cung cấp các thông tin hoạt động tại chùa.

🙏🙏🙏🙏🙏🙏
07/03/2019

🙏🙏🙏🙏🙏🙏

19/02/2019
Mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy Âm lịch, toàn thể Phật tử Việt Nam chúng ta và Phật tử khắp năm châu đều tổ chức long trọ...
19/08/2018

Mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy Âm lịch, toàn thể Phật tử Việt Nam chúng ta và Phật tử khắp năm châu đều tổ chức long trọng lễ Vu Lan, cúng dường Phật và chúng Tăng, dựa vào uy lực và Giới đức của Đức Phật và chúng Tăng, cầu nguyện cho cha mẹ đang còn sống được an lạc và cha mẹ đã quá cố được siêu thăng cõi Tịnh Độ.
Vu Lan là gọi tắt, nếu nói đầy đủ sẽ là Vu Lan Bồn. Vu Lan Bồn là cứu tội bị treo ngược, từ Sanskrit là Ulambana, hay là Avalamba nghĩa là "treo ngược". Có tác giả nói từ Bồn là từ Trung Quốc nghĩa là "Chậu" đựng các thứ cúng dường Đức Phật và Chư Tăng.
Tôn giả Mục Kiền Liên là một đệ tử lớn của Đức Phật, và được suy tôn là bậc thần thông đệ nhất. Sau khi chứng quả A la hán. Ngài dùng thiên nhãn quan sát khắp các cõi sống thì thấy mẹ mình đang bị nạn đói khát dày vò trong cõi sống quỷ đói. Tôn giả bèn cầm bát cơm xuống cõi quỷ đói đưa cho mẹ. Mẹ cầm lấy bát cơm đưa vào miệng, thì cơm hóa thành than hồng cháy đỏ không tài nào ăn được. Tôn giả Mục Kiền Liên không biết làm sao, bèn trở về xin Phật ra tay cứu giúp. Đức Phật nói: "Mẹ ông bao nhiêu đời sống xan tham keo kiệt, nên phải chịu khổ báo là quỷ đói, một mình ông không thể cứu nổi mẹ đâu. Phải nhân ngày rằm tháng bảy tổ chức cúng dường Đức Phật và chúng Thánh Tăng mười phương nhờ vào sức mạnh chú nguyện của Đức Phật và chúng Tăng mười phương thì mẹ ông mới có thể siêu thoát được".
Tôn giả Mục Kiền Liên vâng lời Đức Phật dạy, đến ngày rằm tháng bảy là ngày tự tứ ra hạ của Chư Tăng, đem thức ăn, đèn, sáp, hương hoa... đặt vào chậu lớn, cúng dường trai Tăng. Bà mẹ của Tôn giả Mục Kiền Liên nương nhờ vào uy lực của Giới đức và phước đức của Chư Tăng mười phương, và cũng nương nhờ vào công đức bố thí và lòng chí thành của Tôn giả Mục Kiền Liên, mà sớm thoát khỏi nỗi khổ của quỷ đói, nỗi khổ ví như nỗi khổ của người bị treo ngược, siêu thăng lên các cõi lành.
Nhân đó, Đức Phật Thích Ca có lời dạy Tôn giả Mục Kiền Liên rằng: "Làm người đệ tử Phật có đức hiếu thuận, phải thường xuyên ghi lòng tạc dạ công ơn cha mẹ đời này cho đến cha mẹ bảy đời. Mỗi năm vào ngày rằm tháng bảy, hãy nên làm lễ Vu Lan Bồn, cúng dường Đức Phật và chúng Tăng, để báo ơn sanh thành nuôi dưỡng của cha mẹ, cầu cho cha mẹ sống lâu trăm tuổi và sau khi mạng chung được sanh vào các cõi lành".
Kinh Vu Lan Bồn chủ yếu được lưu hành rộng rãi ở các nước Phật giáo Á Châu, là nơi có truyền thống hiếu kính cha mẹ và thờ phụng tổ tiên rất sâu đậm. Ngày lễ Vu Lan được nhân dân các xứ này tổ chức như một lễ lớn trong năm và trong cả nước, ngày lễ báo ơn báo hiếu đối với cha mẹ, ông bà, sư trưởng, cũng như đối với tất cả những người xứng đáng được tri ân, nhưng trước hết là công ơn cha mẹ và ông bà cho tới bảy đời.
Ở Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và nhiều nước khác ở Đông Nam Á, ngày lễ Vu Lan được quần chúng hưởng ứng rất rộng rãi. Có thể nói là mọi người kể cả những người không theo đạo Phật, những gia đình theo Nho giáo hay theo Lão giáo cũng đều làm lễ Vu Lan, nhân ngày lễ đó tưởng nhớ ông bà, cha mẹ đến bảy đời, công ơn thầy dạy, công ơn Quốc gia cũng như công ơn của tất cả chúng sinh.
Trong kinh tạng Pàli của Phật giáo Nguyên thủy, chúng ta có thể đọc được những lời Đức Phật dạy về chữ Hiếu thật là đầy đủ, sinh động và cụ thể, những lời mà chỉ có Đức Phật là bậc đại trí tuệ mới có thể nói ra được.
"Này các Tỳ kheo, có hai hạng người, Ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Đó là mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm như vậy suốt một trăm năm cho đến khi cha mẹ trăm tuổi. Như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn cho mẹ và cha. Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dù tại đấy, mẹ cha có vãi đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn mẹ và cha... (Tăng Chi I, 75).
Các kinh Bắc tông nói về đạo hiếu cũng rất nhiều, ngoài Kinh Vu Lan Bồn ra, có thể kể các kinh khác như: Nhẫn Nhục Kinh, Đại Tập Kinh, Tứ Thập Nhị Chương Kinh... lời lẽ trong các kinh này cũng thống thiết, sinh động như trong các kinh Nguyên thủy vậy. Như Kinh Nhẫn Nhục nói: "Thiện cùng cực, không có gì hơn hiếu; ác cùng cực, không gì hơn bất hiếu". Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: "Phàm người phụng thờ quỷ thần, không bằng phụng thờ cha mẹ. Cha mẹ là vị thần tối thượng". Kinh Đại Tập nói: "Nếu ở đời không có Phật thì hãy khéo phụng thờ cha mẹ. Khéo phụ thờ cha mẹ cũng giống như khéo phụng thờ Phật".
Như vậy kinh điển của Phật giáo Nam Tông cũng như Bắc Tông đều nói đến đạo hiếu và rất coi trọng đạo hiếu. Trước đây và hiện nay vẫn còn có một số người chưa hiểu hết giáo lý giải thoát của nhà Phật, cho rằng các vị đi tu không có vợ con nên không có con nối dõi tông đường, họ cho là bất hiếu. Vì họ hiểu sai về lý tưởng xuất gia của đạo Phật. Xuất gia không phải là từ bỏ cha mẹ và người thân. Xuất gia chỉ có nghĩa là từ bỏ danh lợi thế gian, từ bỏ mọi tình cảm hẹp hòi vị kỷ, từ bỏ ba độc tham sân si. Sách Phật thường nói về sự xuất gia và lý xuất gia. Cạo tóc, mặc áo Cà sa vào chùa ở chỉ mới là sự xuất gia. Từ bỏ được ân ái hẹp hòi, từ bỏ được danh lợi thế gian tầm thường, từ bỏ được mọi tham muốn thấp hèn về ăn uống, tiền tài danh sắc, ngủ nghỉ, từ bỏ được tham sân mới gọi là lý xuất gia.
Người tu sĩ sau khi xuất gia, chấp nhận tất cả chúng sinh, tất cả mọi người trong xã hội đều là cha mẹ, anh em, con cái của mình, và thương yêu với một tình thương không phân biệt. Đức Phật Thích Ca được tôn xưng là đấng Từ phụ, tức là cha lành, vì Ngài thương yêu tất cả chúng sinh như con một của mình. Mọi người xuất gia cũng vậy, noi gương đức cha lành, cũng xem mọi người trong xã hội đều như cha mẹ anh em, bà con ruột thịt của mình.
Hơn nữa người xuất gia làm tròn đạo hiếu của mình bằng một cách khác. Tức là bằng cách xây dựng đức tin cho cha mẹ thiếu đức tin, khuyến khích cha mẹ bỏ ác làm lành, khuyến khích cha mẹ bố thí và tu học chánh pháp, đạt tới trí tuệ chơn chánh. Và làm như vậy, theo như lời Đức Phật nói, chính là báo hiếu cha mẹ một cách đầy đủ trọn vẹn nhất.
Chữ báo hiếu không có nghĩa cha mẹ làm gì mình cũng tán thành, dù rằng làm ác, làm điều bất thiện. Ngay báo hiếu cũng phải có trí tuệ. Đạo Phật nói đến chữ Nhân và chữ Hiếu như đạo Nho, nhưng với một nội dung rộng lớn hơn nhiều, như có thể thấy qua câu mở đầu toát yếu toàn bộ ý tứ trong tập truyện thơ dân gian "Nam Hải Quan Âm", rất được ưa chuộng của dân chúng Việt Nam:
"Chơn như Đạo Phật rất mầu,
Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân,
Hiếu là độ được song thân,
Nhân là cứu vớt trầm luân muôn loài...
Trên thời hiếu báo sanh thành,
Dưới thời nhân cứu chúng sinh Ta bà".
Độ thoát cha mẹ khỏi vòng sống chết luân hồi là cách thức báo hiếu cha mẹ đầy đủ nhất, hoàn hảo nhất, nhưng không phải ai cũng làm được. Bởi vì mình có tu hành chứng quả, độ thoát được mình, mới có thể độ thoát cho cha mẹ được. Đó là việc làm đức Phật bà Quan Âm Diệu Thiện trong truyện Nam Hải Quan Âm.
Thế nhưng tất cả chúng ta, dù xuất gia hay tại gia đều có thể trả ơn đầy đủ cho cha mẹ, nếu chúng ta học tập và thực hành theo lời đức Phật dạy trong Tăng Chi bộ Kinh Tập I trang 75:
"Những ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ với của cải vật chất, tiền bạc thời không bao giờ đủ để trả ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỳ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, thì khuyến khích cha mẹ an trú vào lòng tin; đối với cha mẹ theo ác giới, thì khuyến khích hướng dẫn cha mẹ an trú vào thiện giới; đối với cha mẹ xan tham, khuyến khích hướng dẫn cha mẹ an trú vào bố thí; đối với cha mẹ theo ác trí tuệ, thì khuyến khích cha mẹ an trú vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỳ kheo tức là làm đủ và trả ơn đủ cho cha và mẹ".
Những lời dạy đó của đức Phật, tất cả Phật tử chúng ta đều có thể thực hành được.
Chúng ta đều là đệ tử Phật, là con Phật. Chúng ta đều đã thọ Tam quy: Quy y Phật; Quy y Pháp; Quy y Tăng. Nếu cha mẹ chúng ta chưa tin Tam bảo, thì chúng ta khéo léo hướng dẫn, khuyến khích cha mẹ đặt niềm tin ở Tam bảo, và tiến dần tới Tam quy y. Phép quy y cũng có sự quy y và lý quy y. Làm lễ quy y Tam bảo mới chỉ là sự quy y. Chúng ta còn phải giảng giải cho cha mẹ rõ thế nào là Phật, Pháp, Tăng và quy y Phật, Pháp, Tăng có lợi ích như thế nào? Nếu cha mẹ có làm những điều ác bất thiện nơi thân hay nơi lời nói như sát, đạo, dâm, nói dối, nói chia rẽ, nói ác, nói lời vô nghĩa, thì chúng ta phải khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành, khuyến khích cha mẹ phóng sanh, thay vì sát sanh; bố thí thay vì lấy của không cho; sống chánh hạnh thay vì tà hạnh; nói lời thật thay vì nói dối; nói lời đoàn kết thay vì nói chia rẽ; nói lời dịu hiền thay vì nói ác độc; nói lời có ý nghĩa thay vì nói vô nghĩa... Những lời dạy của đức Phật, mặc dù nói ra cách đây hơn hai ngàn rưỡi năm, nhưng vẫn mang tính thời sự nóng bỏng đối với xã hội chúng ta hiện nay. Những lời nói đó xứng đáng là khuôn vàng thước ngọc cho đời sống chúng ta, cho mọi cung cách ứng xử của chúng ta trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Tất cả chúng ta hãy sống theo lời dạy của đức Phật, tức khắc chúng ta sẽ được an lạc và hạnh phúc. Nếu làm ngược lại, chúng ta sẽ bất hạnh và đau khổ.
Vì lợi lạc của mọi người, của số đông, chúng ta hãy phổ biến rộng rãi những lời dạy vàng ngọc đó của đức Phật. Mỗi chúng ta, chứ không gì riêng Tăng sĩ, đều phải nói pháp, khéo nói pháp, có như vậy bánh xe pháp mới thường chuyển, ngọn đèn pháp mới ngày đêm sáng tỏ.
Đức Phật đã từng dạy rằng: "Trong tất cả hình thức bố thí, thì bố thí pháp là đệ nhất".
Cho nên tất cả chúng ta phải học nói pháp, biết nói pháp, khéo nói pháp. Đừng nên nghĩ rằng nói pháp phải là đăng đàn thuyết pháp, nói hai ba giờ liền và dẫn chứng nhiều kinh điển mới là thuyết pháp. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật đã từng răn dạy rằng: "Nói trăm ngàn lời cũng không bằng nói một lời làm cho tâm người nghe được an tịnh".
Học pháp là học những lời Đức Phật dạy để biết rõ đâu là thiện, đâu là bất thiện; đâu là gốc rễ của thiện, của bất thiện. Không sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh trong các dục, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham, không sân, có chánh kiến là thiện. Ngược lại là bất thiện. Tham sân si là gốc rễ của bất thiện. Ngược lại là thiện. Học rồi đem sở học ấy áp dụng vào nếp sống hàng ngày của chính mình và khuyến khích người khác áp dụng thì gọi là hành pháp.
Học pháp và hành pháp là nếp sống tu học song đôi của người Phật tử. Nếp sống ấy vừa phù hợp với đạo lý tu nhân tích đức của người Việt Nam, vừa nói lên ý nghĩa đúng đắn của một người con Phật biết sống vì mình vì người. Đó là cách báo hiếu báo ân tốt đẹp nhất của mỗi người Phật tử chúng ta.

Đàn lễ Phả độ gia tiên - Giải oan cắt kết.
19/08/2018

Đàn lễ Phả độ gia tiên - Giải oan cắt kết.

Vu lan🙏🙏🙏
18/08/2018

Vu lan🙏🙏🙏

28/05/2018

Kệ Tắm Phật

Con nay dội tắm thân Như Lai
Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ
Ngũ trược chúng sanh lìa trần cấu
Đồng chứng Như Lai tịnh pháp thân
Thành Tỳ La thật chưa từng sanh
Rừng Sa La thật chưa từng diệt
Không sanh không diệt Đức Cù Đàm
Con mắt xem nhìn càng thêm vọng
Hôm nay chính là ngày sinh nhật
Tịnh Phạn Vương cung sanh Tất Đa
Chín rồng khắp tưới mưa nước tắm
Bảy bông nâng gót đỡ chân đi
Án Mâu Ni, Mâu Ni, Tam Mâu Ni, Ta Bà Ha

Bảy bước Sen hồng nâng gót ngọc.Ba ngàn thế giới đón Như Lai
28/05/2018

Bảy bước Sen hồng nâng gót ngọc.
Ba ngàn thế giới đón Như Lai

Đại lễ Phật Đản 2018 (Pl 2562)
27/05/2018

Đại lễ Phật Đản 2018 (Pl 2562)

Ý Nghĩa Của Nghi Lễ Tắm Phật       Đức Thế Tôn giáng trần phổ thiên đồng khánh, nhạc trời vang dậy, chư thiên tán hoa cú...
22/05/2018

Ý Nghĩa Của Nghi Lễ Tắm Phật

Đức Thế Tôn giáng trần phổ thiên đồng khánh, nhạc trời vang dậy, chư thiên tán hoa cúng dường, đại địa sáu lần rung động, vườn Lâm Tỳ Ni, hoa Vô Ưu ngàn năm nay bổng nở, Thiên Long nhất niệm đón chào, chín rồng phúng thủy tắm Phật sơ sanh, tiên A Tư Đà báo trước điềm lành, nhân gian sắp có một bậc Đại Giác. Từ thuở chín rồng phúng thủy tắm Phật sơ sanh, hôm nay mỗi khi đến ngày Đại lễ Phật giáng trần gian, vạn người con Phật trên khắp năm châu bốn biển, cung thiết Phật đài, kính cẩn tác Lễ tắm Phật, một nghi thức truyền thống xuyên suốt 2000 năm vẫn còn nguyên giá trị cho tới tận ngày nay.Trong Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả quyển thứ nhất chép: "Ma Da phu nhân mang thai, đến khi gần đến ngày sinh nở, một buổi sáng nọ khi đang dạo chơi tại vườn Lâm Tỳ Ni, khi đi đến dưới cây Vô Ưu thì đản sanh thái tử Tất Đạt Đa. Bấy giờ Nan Đà Long Vương cùng Phục Ba Nan Đà Long Vương phúng nước thanh tịnh, tắm cho thái tử".

Trong sách Thích Ca Như Lai Ứng Hóa Sự Tích chương Cửu Long Quyền Dục chép: "...Phật bước bảy bước, mỗi bước nở một hoa sen lớn đỡ chân Ngài... tất cả thế gian trời người cung kính cúng dường. Bổng nhiên dưới đất có hai dòng nước vọt lên biến thành hai cái hồ, một hồ nước nóng, một hồ nước lạnh, nước trong hồ thơm tho thanh tịnh, trên không trung có cửu long phúng thủy tắm cho thái tử, chư thiên trỗi nhạc, rưới hoa cúng dường...".

Nghi thức tắm Phật có nguồn gốc từ Ấn Độ, do ảnh hưởng tập tục tưới nước tắm tượng thần, cầu phước diệt tội của Bà La Môn Giáo, trong Kinh Đại Bảo Tích quyển 100 có chép: "Con gái của vua Ba Tư Nặc thành Xá Vệ là Vô Cấu Thí, vào ngày mồng 8 tháng 2 cùng với 500 vị đạo sĩ của Bà La Môn Giáo, bưng bình đựng đầy nước đi ra ngoài thành, tắm rửa cho tượng Thiên Thần, bấy giờ các đạo sĩ Ba La Môn thấy rất nhiều vị Tỳ Kheo đứng ở cổng thành cho là điều không tốt, có một vị trưởng giả khuyên Vô Cấu Thí nên quay về thành, nhưng Vô Cấu Thí không chịu, bèn sanh tranh cãi, cuối cùng Vô Cấu Thí cảm hóa được 500 vị Bà La Môn quy y Đức Phật...". Nghi thức tắm Phật có nguồn gốc ảnh hưởng từ tập tục cổ xưa của Ấn Độ nhưng được Phật Giáo tiếp nhận rồi lồng vào đó những quan niệm đạo đức Phật Giáo, cho nên ý nghĩa, cũng như nghi thức, khác đi với hình thức tắm tượng ban đầu của Bà La Môn Giáo là cầu phước diệt tội. Trong sách Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện, quyển 4 Quyền Mộc Tôn Nghi Chương của ngài Nghĩa Tịnh đời Đường chép: " Đức Phật tuy nhập diệt, nhưng hình tượng của Ngài vẫn còn, tâm Phật cũng còn đây, đúng như lý nên tôn kính, nên đem hương hoa cúng dường để sanh thanh tịnh tâm, hoặc tắm rửa tôn tượng để xóa sạch nghiệp chướng hôn trầm...".

Trong Kinh Quyền Tẩy Phật Hình Tượng chép: "Này các Thiện Nam Thiện Nữ, sau khi Phật diệt độ, nên chí tâm niệm Phật được vô lượng công đức lực, tắm hình tượng Đức Phật cũng như Phật còn đang tại thế, được vô lượng công đức, không thể tính đếm được". Còn trong Kinh Dục Phật Công Đức có chép về tắm phật có 15 công đức: "... Những ai chí tâm cúng dường như thế sẽ có được mười lăm công đức thù thắng sau: 1. Thường biết tàm quý; 2. Phát khởi niềm tin thanh tịnh; 3. Tâm ngay thẳng; 4. Được gần gũi bạn lành; 5. Chứng huệ vô lậu; 6. Thường gặp chư Phật; 7. Luôn hành trì chánh pháp; 8. Làm đúng với lời nói; 9. Tuỳ ý sanh vào quốc độ chư Phật; 10. Nếu sanh trong nhân gian thì sanh vào dòng họ tôn quý, được người khác tôn kính, khởi tâm hoan hỷ; 11. Nếu sanh trong nhân gian thì tự nhiên biết niệm Phật; 12. Không bị ma quân gây tổn hại; 13. Hay hộ trì chánh pháp trong thời mạt pháp; 14. Được chư Phật trong mười phương gia hộ; 15. Mau thành tựu được năm phần pháp thân".

Nghi thức tắm Phật của Ấn Độ ngày xưa cũng được ngài Nghĩa Tịnh miêu tả rất rõ ràng, trong sách Nam Hải Kỳ Quy Nội Pháp Truyện, quyển 4 Quyền Mộc Tôn Nghi Chương chép: "các chùa ở Tây Trúc, nghi thức tắm Phật được tổ chức rất là long trọng và tôn kính, mỗi khi làm Lễ tắm Phật, thì vị Chức sự đánh Kiền chùy, trong sân chùa treo Bảo cái, trong Đại điện để các bình đựng nước thơm, để tượng Phật được làm bằng vàng, bạc, đồng, đá.v.v... để trong các bồn làm bằng vàng, bạc, đồng, đá. Rồi cho các Nhạc công tấu nhạc, lấy các thứ bột báu thơm thoa lên Phật tượng rồi dùng các thứ nước hoa tưới lên tượng Phật, sau đó lấy lụa báu thanh tịnh lau khô thân tượng, rồi thỉnh tượng vào trong Đại điện tôn trí trang nghiêm, dùng các thứ hoa vây quanh để cúng dường...".

Cùng với Phật Giáo đông truyền nghi thức tắm Phật trong pháp hội Phật Đản Sanh được truyền vào Đông Độ rất sớm, trong sách Ngô Thư quyển thứ 4 chép: "...Ở đây xây dựng Phù Đồ (tháp Phật) rất lớn...mỗi khi đến lễ tắm Phật, làm rất nhiều cỗ bàn đồ ăn thức uống ra đến tận đường, dài đến 10 dặm, để cho người đến tham gia và đi coi lễ hơn cả vạn ăn, tiền chi phí để làm pháp hội nhiều không thể tính hết...". Đến cuối thế kỷ thứ 4 đầu thế kỷ thứ 5 thì nghi thức tắm Phật đã hoàn toàn du nhập vào xã hội Trung Quốc từ Hoàng cung cho đến Nhân gian, mỗi năm cứ đến ngày lễ Phật Đản thì nơi nơi đều rộn ràng tổ chức lễ tắm Phật. Theo sách Phật Tổ Thống Kỷ chép: "ngày mồng tám tháng tư năm thứ sáu niên hiệu Đại Minh (462), vua Hiếu Võ Đế thiết lễ tắm Phật...".

Việt Nam nghi thức Lễ tắm Phật được du nhập rất sớm vào Giao Châu trong sách Ngô Chí có đoạn chép: “…ở Giao Châu…khi ra đường người ta thường nghe tiếng Kiểng, lẫn tiếng Trống, Kèn, những người rợ Hồ (chỉ các vị Tăng và Phật tử người Ấn) đi theo thắp hương hai bên có từng đoàn xe có mười người..” . Đây là đoạn văn diễn tả về nghi thức hành tượng trong lễ Phật Đản xưa của Giao Châu, tục lệ ngày xưa thường trước khi làm lễ hành tượng người ta thường cử hành nghi thức tắm Phật. Trong sách Thơ Văn Lý Trần dịch văn bia Tháp Sùng Thiện Diên Linh có đoạn nói về tắm Phật rồi hành tượng như: “Nhà vua thân ngồi xe ngọc, đến mở tiệc chay. Hương hoa bày hình thức kỳ an, bồn chậu đặt lễ nghi tắm Phật...sai Phụng Thường chỉnh đốn kiệu xe, khiến Phong Bá quét sạch bụi bặm...Chuông trống vang ầm, khánh tiêu rộn rã. Phía trước xe mây Tam Bảo, đằng sau kiệu báu Thánh hoàng".

Sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 2 viết: “Từ đời Lý, mỗi năm hội Phật Đản đã được tổ chức thật lớn lao rồi. Vua Lý Thánh Tông có lẽ là người đầu tiên đã làm cho lễ Phật Đản trở thành quốc lễ lớn. Lễ tắm Phật bằng nước Ngũ vị hương được cử hành sáng mồng tám tháng tư tại chùa Diên Hựu. Vua, Hoàng hậu, các Hoàng tử và Công chúa cùng Triều thần bách quan đều có mặt. Dân chúng các nơi tụ về rất đông để dự lễ. Sau khi chư Tăng tụng kinh Phật Thuyết Dục Tượng Công Đức, thì nước thơm được rưới lên tượng Phật. Trong khi đó, Vua Quan và Quần chúng chắp tay hướng về niệm Phật”.

Người xưa như vậy, hết sức kiền thành cung kính tác lễ tắm Phật mừng ngày Đản Sanh, chúng ta những người nối chân các bậc tiền nhân luôn phải nhớ một niệm tri ân Đức Phật vô bờ bến, ngoài ý nghĩa của tín ngưỡng tắm Phật để nguyện cầu sự gia hộ của chư Phật ra, chúng ta phải luôn ghi nhớ chính sự ra đời của Ngài mà ngày hôm nay chúng ta mới được thấm nhuần, chan hòa ánh sáng của giác ngộ, để trong đêm trường khổ não tăm tối, ánh sáng trí tuệ của Phật đưa chúng ta thoát khỏi u mê vượt qua khổ chướng, trong biển phiền não luân hồi chỉ cho chúng ta thấy rõ bến bờ của giải thoát. Cho nên những giọt nước mà chúng ta rưới lên thân tượng của Đức Phật, những giọt nước đó sẽ trở thành cam lộ vì sự cảm ứng của Đức Phật và tâm thành của chúng ta, tất cả những công năng của giải thoát sẽ được hình thành vì tâm niệm chí thành và nhất tâm kính tin của từng người con Phật.

Vì sao giọt nước tắm Phật lại có công hiệu vi diệu như thế, chúng ta hãy đọc lại một đoạn trong Kinh Dục Phật Công Đức để nghe đức Phật dạy ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát về cách thức Tắm Phật: "... Đức Phật dạy rằng khi tắm tôn tượng nên dùng các loại hương thơm như ngưu đầu chiên đàn, bạch đàn, tử đàn, trầm hương, uất kim hương, long não, xạ hương… pha vào nước sạch, đựng trong bình sạch. Chọn một nơi thanh tịnh, đẹp đẽ thiết lập đàn tràng, hoặc vuông hay tròn, kích thước xứng hợp, trên đàn đặt một bệ tắm, ở giữa bệ này tôn trí tượng Phật. Khi tắm tượng thì dùng nước nóng thơm, trong sạch rưới từ trên xuống, sau đó tiếp dùng nước tinh khiết để tắm lại. Nước dùng để tắm này phải được lọc cho thật sạch để không làm tổn hại đến các vi trùng. Nếu lấy hai ngón tay thấm vào nước vừa được dùng để tắm tượng rồi nhỏ lên đầu, thì nước này được gọi là nước cát tường. Không được giẫm chân lên dòng nước tắm tượng đang chảy trên đất sạch. Sau khi tắm tượng xong, dùng khăn mềm, mịn và sạch lau khô tượng, xông các loại hương trầm thơm quanh tượng, rồi đặt tượng về vị trí cũ trong điện Phật”. Đức Phật còn dạy rằng, nhờ việc tắm tượng như thế, chúng sanh trong hiện đời được nhiều phước báu thù thắng, sở nguyện thành tựu, quyến thuộc được an ổn, mau thành chánh giác. Sau khi an trí tượng về chỗ cũ, nên đối trước tượng dâng hương cúng dường chắp tay, cung kính tụng bài kệ tắm Phật:

“Con nay tắm gội chư Như Lai
Công đức trang nghiêm tịnh trí đầy
Nguyện cho chúng sanh lìa năm trược
Mau chứng Như Lai tịnh pháp thân
Giới, định, tuệ… năm phần hương báu
Tỏa ngạt ngào trong khắp mười phương
Khói hương này xin hằng lan mãi
Phật sự làm vô lượng, vô biên
Nguyện khổ nạn ba đường bặt dứt
Nhiệt não trừ, an trú thanh lương
Đồng phát tâm vô thượng Bồ-đề
Thoát biển ái lên bờ đại giác.”

Vì vậy nhớ đến ngày Phật Đản Sanh là nhớ đến cội nguồn của giác ngộ, lễ tắm Phật có năng lực đưa chúng ta quay lại với chính tự tâm của mình, bằng những giọt nước cam lộ thanh tịnh tưới trên thân tượng Phật, cũng như đang tưới vào chính tâm điền của tất cả mọi người, làm tươi mát ngọn nguồn của giác ngộ. "Dương chi nhất trích chân cam lộ, tán tác sơn hà đại địa xuân" giọt nước cành dương là cam lộ, tưới mát sơn hà trời đất thành mùa xuân.
Thích Tâm Mãn

Tiếng Chuông ChùaThăm thẳm tiếng chuông ngânRu hồn về cửa PhậtLô xô ngàn đợt sóngMênh mông Trăng Tây HồVút thẳng vào thi...
22/05/2018

Tiếng Chuông Chùa

Thăm thẳm tiếng chuông ngân
Ru hồn về cửa Phật
Lô xô ngàn đợt sóng
Mênh mông Trăng Tây Hồ

Vút thẳng vào thinh không
Chuông mang ngàn điệu nhớ
Thì thào trong mộng ảo
Đây Phật đường mênh mông.

Address

158 Lạc Long Quân
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Thiên Niên Tây Hồ Hà Nội posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share