Đình Kim Bí,Xã Tiên Phong, Ba Vì

Đình Kim Bí,Xã Tiên Phong, Ba Vì Hồn Thiêng Quê Hương

26/05/2026

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU HÀ NỘI TỪ NĂM 1831 ĐẾN NAY

(Sắp xếp theo trình tự thời gian lịch sử và hệ thống hành chính)

I. THỜI NHÀ NGUYỄN – TỔNG ĐỐC HÀ NINH / HÀ NỘI (1831 – 1888)
STT Thời gian Người đứng đầu Chức vụ
1 1831 – 1835 Lê Văn Đức Tổng đốc Hà Ninh
2 1835 – 1839 Đặng Văn Hòa Tổng đốc Hà Ninh
3 1839 – 1846 Trịnh Quang Khanh Tổng đốc
4 1839 – 1846 Tôn Thất Bật Tổng đốc
5 1839 – 1846 Nguyễn Đình Tân Tổng đốc
6 1846 – 1847 Đặng Văn Hòa Tổng đốc Hà Ninh (lần 2)
7 1848 – 1873 Nguyễn Đăng Giai Tổng đốc tiêu biểu
8 1848 – 1873 Cao Xuân Dục Tổng đốc tiêu biểu
9 1848 – 1873 Nguyễn Tri Phương Tổng đốc Hà Nội
10 1874 – 1879 Trần Đình Túc Tổng đốc
11 1879 – 1882 Hoàng Diệu Tổng đốc Hà Nội
12 1882 – 1888 Nguyễn Hữu Độ Tổng đốc
II. THỜI PHÁP THUỘC – ĐỐC LÝ HÀ NỘI (1888 – 1945)
Các Đốc lý tiêu biểu
STT Thời gian Người đứng đầu Chức vụ
1 1885 – 1886 Léandre Salle Xavier Đốc lý Hà Nội
2 1886 – 1888 Charles Halais Đốc lý
3 1901 – 1908 Haeuser Đốc lý
4 1940 – 1945 Ch. de Lasteyrie Đốc lý cuối cùng thời Pháp

Giai đoạn này có hơn 40 đời Đốc lý người Pháp thay nhau quản lý Hà Nội.

III. GIAI ĐOẠN CHUYỂN GIAO – CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1945 – 1946)
STT Thời gian Người đứng đầu Chức vụ
1 7/1945 – 8/1945 Trần Văn Lai Thị trưởng Hà Nội
2 20/8/1945 – 30/8/1945 Trần Quang Huy (Nguyễn Huy Khôi) Chủ tịch UBND Cách mạng lâm thời
3 30/8/1945 – 19/12/1946 Trần Duy Hưng Chủ tịch UBHC Hà Nội
IV. GIAI ĐOẠN KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1947 – 1954)
1. Chính quyền Kháng chiến
STT Thời gian Người đứng đầu Chức vụ
1 1947 – 1949 Ngô Ngọc Du Chủ tịch UB Kháng chiến Hành chính
2 1949 – 1954 Nguyễn Thừa Kế Chủ tịch UB Kháng chiến Hành chính
2. Chính quyền vùng tạm chiếm
STT Thời gian Người đứng đầu Chức vụ
1 1948 Bùi Văn Quý Trưởng Hội đồng An dân Bắc Việt
2 1949 – 1950 Phan Xuân Đài Thị trưởng
3 1950 – 1952 Thẩm Hoàng Tín Thị trưởng
4 1952 – 10/1954 Đỗ Quang Giai Thị trưởng Hà Nội
V. GIAI ĐOẠN TIẾP QUẢN VÀ XÂY DỰNG THỦ ĐÔ (1954 – 1977)
STT Thời gian Người đứng đầu Chức vụ
1 10/1954 – 11/1954 Vương Thừa Vũ Chủ tịch Ủy ban Quân chính
2 11/1954 – 1/1977 Trần Duy Hưng Chủ tịch UBHC Hà Nội
VI. GIAI ĐOẠN ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI (1977 – NAY)
STT Thời gian Người đứng đầu Chức vụ
1 1977 – 1987 Trần Vỹ Chủ tịch UBND TP Hà Nội
2 1987 – 1989 Trần Tấn Chủ tịch UBND TP
3 1989 – 1994 Lê Ất Hợi Chủ tịch UBND TP
4 1994 – 2004 Hoàng Văn Nghiên Chủ tịch UBND TP
5 2004 – 2006 Nguyễn Quốc Triệu Chủ tịch UBND TP
6 2006 – 2015 Nguyễn Thế Thảo Chủ tịch UBND TP
7 2015 – 2020 Nguyễn Đức Chung Chủ tịch UBND TP
8 2020 – 2022 Chu Ngọc Anh Chủ tịch UBND TP
9 2022 – 2025 Trần Sỹ Thanh Chủ tịch UBND TP
10 2025 – nay Vũ Đại Thắng Chủ tịch UBND TP Hà Nội
NHẬN XÉT TỔNG QUAN

Từ khi vua Minh Mạng thành lập tỉnh Hà Nội năm 1831 đến nay, bộ máy lãnh đạo Thủ đô đã trải qua gần hai thế kỷ với nhiều biến động lịch sử lớn lao.

Các thế hệ lãnh đạo Hà Nội phản chiếu rõ từng giai đoạn phát triển của đất nước:

Thời phong kiến là tinh thần giữ thành, giữ nước và bảo vệ chủ quyền dân tộc.
Thời Pháp thuộc là quá trình đô thị hóa phương Tây xen lẫn phong trào yêu nước.
Thời kháng chiến là ý chí chiến đấu và bảo vệ Thủ đô.
Thời hòa bình là công cuộc tái thiết, mở rộng địa giới và hiện đại hóa đô thị.

Từ Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu đến Trần Duy Hưng và các thế hệ lãnh đạo hiện đại, mỗi người đều để lại dấu ấn riêng trong hành trình phát triển của Hà Nội — một Thủ đô ngàn năm văn hiến, anh hùng và không ngừng đổi mới.

25/05/2026

SÔNG TÍCH HỒI SINH – “MẠCH NƯỚC XANH” CHIẾN LƯỢC CHO PHÍA TÂY THỦ ĐÔ

Dự án tiếp nước, cải tạo, khôi phục Sông Tích là một trong những công trình thủy lợi – môi trường lớn và có ý nghĩa chiến lược của Hà Nội trong nhiều thập niên gần đây. Với tổng mức đầu tư gần 7.000 tỷ đồng, dự án không chỉ nhằm “hồi sinh” một dòng sông lịch sử mà còn tái cấu trúc không gian sinh thái, nông nghiệp và phát triển vùng phía tây, tây nam Thủ đô.

Vai trò đặc biệt của sông Tích

Sông Tích từng là trục thủy văn quan trọng của vùng xứ Đoài, gắn với đời sống cư dân, sản xuất nông nghiệp và hệ thống tiêu thoát nước tự nhiên của nhiều huyện như Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Chương Mỹ và Mỹ Đức.

Tuy nhiên, nhiều năm trước khi dự án triển khai, dòng sông này rơi vào tình trạng bồi lấp, cạn kiệt, ô nhiễm, nhiều đoạn bị lấn chiếm hoặc gần như “sông chết”. Điều đó khiến khả năng tưới tiêu, tiêu úng và điều hòa sinh thái suy giảm nghiêm trọng.

Quy mô và mục tiêu của dự án

Dự án được khởi công từ năm 2011 với các hạng mục lớn:

Nạo vét, mở rộng, chỉnh trị dòng chảy.
Xây dựng cống đầu mối và hệ thống lấy nước từ sông Đà.
Duy trì lưu lượng cấp nước khoảng:

Q=60 m
3
/s

Cấp nước tưới cho:

S=16,000 ha

đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Bảo đảm tiêu thoát lũ cho lưu vực phía tây, tây nam Thủ đô.
Kết hợp phát triển giao thông ven sông, cầu dân sinh và cảnh quan đô thị.

Cống đầu mối tại xã Thuần Mỹ (Ba Vì) hiện cơ bản đã hoàn thành, từng bước đưa nước từ sông Đà qua kênh dẫn vào sông Tích, tạo tiền đề khôi phục dòng chảy liên tục.

Hơn một thập niên “trễ hẹn”

Dù mang ý nghĩa lớn, dự án từng trở thành một trong những công trình chậm tiến độ kéo dài của Hà Nội. Có thời điểm sau 7 năm triển khai, khối lượng thực hiện mới đạt khoảng 60%.

Nguyên nhân chủ yếu gồm:

Khó khăn giải phóng mặt bằng.
Thiếu đồng bộ trong triển khai các gói thầu.
Biến động nguồn vốn và thủ tục đầu tư.
Một số đoạn sông bị lấn chiếm phức tạp.

Từ năm 2023–2024, thành phố đã tăng cường chỉ đạo quyết liệt, tháo gỡ các “điểm nghẽn”, đặc biệt là công tác giải phóng mặt bằng. Hơn 26 km đầu tiên đã được thông dòng, từng bước phát huy hiệu quả cấp nước vùng hạ lưu.

Ý nghĩa chiến lược của việc “hồi sinh” dòng sông

Điểm quan trọng nhất của dự án không chỉ nằm ở thủy lợi, mà ở tư duy phát triển bền vững theo hệ sinh thái.

1. Chống ngập và thích ứng khí hậu

Khi biến đổi khí hậu khiến mưa cực đoan gia tăng, việc khôi phục các dòng sông nội vùng giúp:

tăng khả năng tiêu thoát lũ;
giảm úng ngập cục bộ;
giảm áp lực cho hệ thống thoát nước đô thị.

Đây là hướng tiếp cận “dựa vào tự nhiên” thay vì chỉ phụ thuộc vào bê tông hóa.

2. Hồi sinh nông nghiệp vùng xứ Đoài

Nguồn nước ổn định sẽ giúp:

giảm nguy cơ hạn cục bộ mùa khô;
nâng cao năng suất nông nghiệp;
phát triển nuôi trồng thủy sản;
tạo điều kiện chuyển đổi mô hình sản xuất sinh thái.

Đối với nhiều vùng bán sơn địa phía tây Hà Nội, nước không chỉ là hạ tầng kỹ thuật mà còn là điều kiện tồn tại của sinh kế nông thôn.

3. Tái tạo cảnh quan và không gian phát triển

Một dòng sông được hồi sinh sẽ kéo theo:

phục hồi hệ sinh thái ven sông;
tăng giá trị quỹ đất;
mở ra tiềm năng du lịch sinh thái, văn hóa;
hình thành các tuyến giao thông và không gian công cộng mới.

Trong dài hạn, sông Tích có thể trở thành “trục xanh” kết nối vùng xứ Đoài với trung tâm Thủ đô.

Bình luận: Khôi phục một dòng sông cũng là khôi phục năng lực phát triển của một vùng đất

Thực tế cho thấy, nhiều đô thị hiện đại trên thế giới đã phải trả giá đắt khi bê tông hóa quá mức, lấp sông, thu hẹp hồ tự nhiên và phá vỡ hệ thống thủy văn truyền thống. Khi biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, các dòng sông không còn chỉ là yếu tố cảnh quan mà trở thành “hạ tầng sinh tồn” của đô thị.

Vì vậy, dự án khôi phục sông Tích mang ý nghĩa vượt xa một công trình thủy lợi thông thường. Đây là sự thay đổi tư duy phát triển: từ khai thác tự nhiên sang phục hồi tự nhiên; từ phát triển ngắn hạn sang phát triển bền vững.

Điều đáng chú ý là sông Tích không chỉ phục vụ nông nghiệp mà còn có thể trở thành trục sinh thái – văn hóa – giao thông mới của vùng phía tây Hà Nội trong tương lai. Khi dòng nước được khơi thông, hệ sinh thái ven sông sẽ hồi sinh, đất đai được đánh thức, không gian phát triển mới sẽ mở ra cho cả một vùng xứ Đoài giàu truyền thống lịch sử.

Tuy nhiên, bài học lớn nhất của dự án cũng nằm ở hơn một thập niên chậm tiến độ. Điều đó cho thấy các công trình hạ tầng quy mô lớn nếu thiếu đồng bộ về giải phóng mặt bằng, quản trị đầu tư và phối hợp liên ngành sẽ rất dễ bị kéo dài, đội vốn và giảm hiệu quả xã hội.

Bởi vậy, việc hoàn thành đúng tiến độ và vận hành hiệu quả dự án không chỉ là câu chuyện của riêng một dòng sông, mà còn là phép thử năng lực quản trị đô thị, quản trị tài nguyên và tầm nhìn phát triển dài hạn của Hà Nội trong thế kỷ XXI.

“Bà CuộnG Tràng” – Người giữ hồn quê và nếp chùa làng“Bà Cuộng Tràng”, tên thật là Nguyễn Thị Phương, sinh ra và lớn lên...
25/05/2026

“Bà CuộnG Tràng” – Người giữ hồn quê và nếp chùa làng
“Bà Cuộng Tràng”, tên thật là Nguyễn Thị Phương, sinh ra và lớn lên tại xóm Tràng, xã Chu Minh, huyện Ba Vì – vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa của xứ Đoài. Nơi đây nổi tiếng với Đình Chu Quyến – di tích quốc gia đặc biệt, một kiệt tác kiến trúc gỗ thời Lê Trung Hưng, gắn với truyền thuyết Đức Thánh Chàng và câu thành ngữ dân gian: “To như cột đình Chàng.”
Lớn lên từ miền quê giàu đạo nghĩa ấy, bà về làm dâu làng Kim Bí, kết duyên cùng ông Nguyễn Khắc Dự và sinh được hai người con trai. Người con cả tên cúng cơm là Cuộng, người con thứ hai tên Tình. Từ đó, bà được bà con quen gọi bằng cái tên mộc mạc, thân thương: “Bà Cuộng Tràng” – cái tên gắn với quê gốc xóm Tràng và tên người con đầu lòng.
Cuộc đời bà gắn bó sâu nặng với mái chùa làng Kim Bí. Thuở đầu, bà theo bà Trần Thị The – người trụ trì chùa – lễ Phật, quét dọn, chăm nom hương khói và giúp bà con trong làng việc lễ nghi. Dù không biết chữ, nhưng bằng lòng thành kính và sự chuyên tâm học hỏi nơi cửa Phật, bà thuộc làu nhiều bài kinh, lời kệ, nghi lễ cúng bái. Tiếng tụng kinh của bà trở nên quen thuộc với biết bao thế hệ dân làng.
Sau khi bà Trần Thị Thu viên tịch, bà Nguyễn Thị Phương tiếp tục thay bà đứng ra chăm nom chùa làng, hướng dẫn nhân dân lễ Phật, làm việc thiện, tổ chức các nghi lễ tiễn đưa người quá cố về cõi Tây Trúc. Trong những năm tháng bao cấp còn nhiều khó khăn, bà vẫn giữ cho ngôi chùa nhỏ luôn đỏ lửa hương nhang, trở thành chốn tâm linh ấm áp, nơi gửi gắm niềm tin và sự bình yên của dân làng.
Không chỉ là người giữ chùa, bà còn là người gieo mầm thiện lương cho bao thế hệ. Bà sống chân chất, bao dung, lấy đạo nghĩa làm gốc, lấy lòng nhân hậu để đối đãi với mọi người. Những việc bà làm lặng lẽ mà bền bỉ đã góp phần vun đắp tình làng nghĩa xóm, giữ gìn nếp sống văn hóa quê hương.
Nay bà đã đi xa, nhưng hình ảnh người phụ nữ quê mùa, hiền từ, sớm hôm bên tiếng chuông chùa và làn khói hương vẫn còn sống mãi trong ký ức con cháu và bà con làng xóm.
Một nén tâm hương xin được tưởng nhớ bà, tri ân tấm lòng thiện lương và những đóng góp âm thầm mà sâu nặng của bà đối với quê hương, với mái chùa làng Kim Bí thân yêu.

13/05/2026

"Con nguyện đem công đức này hồi hướng cho hương linh những Anh hùng Liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc và những người quá cố của họ Nguyễn tại làng Kim Bí được siêu thoát. Nguyện cầu người được nương nhờ Phật lực gia hộ, tiêu trừ nghiệp chướng, siêu sinh tịnh cảnh.Đồng thời, hồi hướng cho pháp giới chúng sinh đều được an triêm công đức, thân tâm an lạc, sớm thành Phật đạo."

13/05/2026

"Con nguyện đem công đức này, hồi hướng cho [Tên người quá cố] và khắp tất cả chúng sinh, đều được ân chiêm công đức, sớm thành Phật đạo."

12/05/2026

Các Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam qua các thời kỳ
Tôn Đức Thắng
Chủ tịch từ năm 1955 – 1977
Hoàng Quốc Việt
Chủ tịch từ năm 1977 – 1988
Nguyễn Hữu Thọ
Chủ tịch từ năm 1988 – 1993
Lê Quang Đạo
Chủ tịch từ năm 1994 – 1999
Phạm Thế Duyệt
Chủ tịch từ năm 1999 – 2008
Huỳnh Đảm
Chủ tịch từ năm 2008 – 2013
Nguyễn Thiện Nhân
Chủ tịch từ năm 2013 – 2015
Trần Thanh Mẫn
Chủ tịch từ năm 2015 – 2021
Đỗ Văn Chiến
Chủ tịch từ năm 2021 đến nay
Bùi Thị Minh Hoài
Lãnh đạo nữ tiêu biểu của Đảng và Thủ đô Hà Nội hiện nay
Bình luận và tri ân
Suốt hơn bảy thập kỷ hình thành và phát triển, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc — nơi quy tụ sức mạnh của nhân dân, của các tầng lớp xã hội, các tôn giáo, dân tộc và những người Việt Nam yêu nước.
Mỗi vị Chủ tịch qua từng thời kỳ đều gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt của đất nước:
Thời kỳ kháng chiến và xây dựng nền độc lập dân tộc.
Thời kỳ thống nhất non sông sau năm 1975.
Thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước.
Thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hôm nay.
Từ Tôn Đức Thắng với tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đến các thế hệ lãnh đạo kế tiếp như Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Thế Duyệt hay Đỗ Văn Chiến hôm nay, tất cả đều để lại dấu ấn trong việc củng cố lòng dân, tăng cường đồng thuận xã hội và chăm lo quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Sự xuất hiện của những nhà lãnh đạo nữ tiêu biểu như Bùi Thị Minh Hoài cũng cho thấy vai trò ngày càng lớn của phụ nữ trong đời sống chính trị và công cuộc xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới.
Đó không chỉ là những người giữ cương vị lãnh đạo, mà còn là những người góp phần gìn giữ tinh thần đoàn kết — một giá trị cốt lõi làm nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam qua mọi biến động lịch sử.
Xin trân trọng tri ân các thế hệ lãnh đạo Mặt trận qua các thời kỳ đã tận tâm vì nhân dân, vì khối đại đoàn kết toàn dân tộc và vì sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam.
HUYỀN THOẠI “CON RỒNG CHÁU TIÊN”
BẢN TUYÊN NGÔN ĐẦU TIÊN VỀ CỘI NGUỒN DÂN TỘC VIỆT NAM
Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ kể về nguồn gốc “con Rồng cháu Tiên” của dân tộc Việt Nam. Âu Cơ (nàng tiên) kết duyên cùng Lạc Long Quân (dòng dõi Rồng), sinh ra bọc trăm trứng, nở thành một trăm người con khỏe mạnh. Câu chuyện biểu trưng cho tinh thần đoàn kết và cội nguồn chung của các dân tộc Việt Nam.
Nội dung chính của truyền thuyết
Lương duyên Tiên - Rồng:
Lạc Long Quân, con trai của Kinh Dương Vương, gặp và kết duyên cùng nàng Âu Cơ, con gái Thần Nông.
Bọc trăm trứng:
Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con hồng hào, khỏe mạnh.
Chia con mở cõi:
Vì sự khác biệt giữa loài Rồng quen sống dưới nước và loài Tiên quen sống trên non cao, Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con: 50 người con theo cha xuống biển,
50 người con theo mẹ lên núi để cai quản các phương.
Nguồn gốc quốc gia Văn Lang:
Người con trưởng theo mẹ lên vùng đất Phong Châu, được tôn làm Hùng Vương, lập nên nhà nước Văn Lang — quốc gia đầu tiên của người Việt cổ.
Ý nghĩa lịch sử và văn hóa sâu sắc
1. Bản tuyên ngôn về sự thống nhất dân tộc
Khái niệm “đồng bào” — cùng sinh ra từ một bọc trứng — là giá trị đặc biệt của dân tộc Việt Nam.
Dù miền xuôi hay miền ngược, miền biển hay miền núi, các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều có chung một cội nguồn.
Tinh thần ấy đã trở thành sức mạnh đoàn kết giúp dân tộc Việt Nam vượt qua bao cuộc chiến tranh, thiên tai và thử thách trong lịch sử.
2. Giá trị lịch sử về công cuộc dựng nước
Sự hòa hợp giữa núi và biển:
Cuộc hôn phối giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ tượng trưng cho sự kết nối giữa văn hóa miền núi và văn hóa vùng biển, hình thành nền tảng quốc gia Văn Lang sơ khai.
Tư duy mở cõi của người Việt cổ:
Hình ảnh “50 con lên rừng, 50 con xuống biển” phản ánh quá trình khai phá lãnh thổ, mở mang không gian sinh tồn của cư dân Việt cổ từ miền núi đến đồng bằng và ven biển.
3. Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”
Truyền thuyết không chỉ là câu chuyện dân gian mà còn là biểu tượng thiêng liêng của lòng biết ơn tổ tiên.
Tri ân Lạc Long Quân — người được xem là đã dạy dân trồng lúa, mở mang cuộc sống và bảo vệ dân lành.
Tri ân Âu Cơ — người mẹ biểu tượng của đức hy sinh, tình thương và sự gìn giữ nòi giống.
Tri ân các Hùng Vương — những người đặt nền móng đầu tiên cho quốc gia Văn Lang.
Ngày nay, việc hướng về Đền Hùng trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương không chỉ là hoạt động tín ngưỡng mà còn là sự khẳng định bản sắc dân tộc và tinh thần đoàn kết Việt Nam.
Lời kết
Có thể nói, truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ chính là “giấy khai sinh tinh thần” của dân tộc Việt Nam.
Từ câu chuyện bọc trăm trứng, người Việt hình thành ý thức cộng đồng, tình nghĩa đồng bào và niềm tự hào về cội nguồn “Con Rồng Cháu Tiên”.
Dù trải qua hàng nghìn năm lịch sử, truyền thuyết ấy vẫn sống mãi trong tâm thức dân tộc như một biểu tượng thiêng liêng của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân Việt Nam.
TỰ HÀO CON RỒNG CHÁU TIÊN
(Lời 1)
Từ thuở hồng hoang đất trời mở lối,
Mẹ Âu Cơ sinh bọc trăm trứng thiêng liêng.
Cha Lạc Long Quân từ biển xanh dâng sóng,
Gọi giống nòi Việt Nam vững bước qua bao miền.
Năm mươi con lên non cao giữ núi,
Năm mươi con xuôi biển lớn dựng cơ đồ.
Từ một cội nguồn kết thành sông núi,
Triệu trái tim chung nhịp đập Việt Nam ta.
(Điệp khúc)
Tự hào thay con Rồng cháu Tiên,
Ngàn năm bão giông vẫn sáng hồn thiêng.
Tay nắm tay vượt bao gian khó,
Giữ non sông bền chí kiên cường.
Tự hào thay đất Việt yêu thương,
Đoàn kết chung lòng viết tiếp quê hương.
Từ cội nguồn cha ông truyền lại,
Việt Nam vươn mình rạng rỡ tương lai.
(Lời 2)
Qua bao chiến chinh vẫn không khuất phục,
Hồn dân tộc như lửa đỏ không tàn.
Từ đồng lúa thơm đến trùng khơi sóng bạc,
Người Việt Nam chung một tiếng đồng bào.
Dòng máu Lạc Hồng chảy trong tim nóng,
Cho hôm nay đất nước mãi đi lên.
Dẫu muôn phương vẫn chung màu cờ thắm,
Vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam.
(Điệp khúc)
Tự hào thay con Rồng cháu Tiên,
Ngàn năm bão giông vẫn sáng hồn thiêng.
Tay nắm tay vượt bao gian khó,
Giữ non sông bền chí kiên cường.
Tự hào thay đất Việt yêu thương,
Đoàn kết chung lòng viết tiếp quê hương.
Từ cội nguồn cha ông truyền lại,
Việt Nam vươn mình rạng rỡ tương lai.
(Kết)
Ơi Việt Nam đất nước của nghĩa tình,
Từ bọc trăm trứng kết muôn triệu niềm tin.
Nguyện cùng nhau dựng xây non nước,
Cho giống nòi mãi sáng giữa trời xanh.

Việt – Ấn nghĩa nặng tình sâu,Song hành chiến lược nhịp cầu năm châu.Mười năm gắn kết bền lâu,Hữu nghị tỏa sáng trước sa...
07/05/2026

Việt – Ấn nghĩa nặng tình sâu,
Song hành chiến lược nhịp cầu năm châu.
Mười năm gắn kết bền lâu,
Hữu nghị tỏa sáng trước sau vẹn tròn.
Tháp tùng chuyến thăm nước non,
Tô Lâm dẫn bước tâm còn nghĩa chung.
Nguyễn Đình Khang đã ung dung,
Hội đàm hữu nghị tương phùng bạn xa.
Kiren Rijiju chan hòa,
Jual Oram nghĩa đậm đà anh em.
Cùng nhau trao đổi ngày đêm,
Dân tộc, tôn giáo vững bền tương lai.
Việt Nam – Ấn Độ hôm nay,
Quan hệ sâu sắc nối dài niềm tin.
Không chỉ chính trị, hòa bình,
Mà còn văn hóa nghĩa tình nhân dân.
Hai bên cùng đặt trọng tâm,
Tôn giáo, tín ngưỡng âm thầm kết giao.
Giao lưu văn hóa nâng cao,
Bắc cầu hữu nghị dạt dào tình thân.
Ấn Độ nghĩa nặng ân cần,
Phật giáo kết nối muôn phần thiêng liêng.
Vesak rạng sáng mọi miền,
Xá lợi Phật tỏa bình yên nhân hòa.
Lan truyền thông điệp bao la,
Hòa bình, nhân ái chan hòa muôn nơi.
Việt Nam tín ngưỡng sáng ngời,
Đa dạng tôn giáo khắp trời quê hương.
Nhà nước bảo đảm yêu thương,
Tự do tín ngưỡng mở đường nhân văn.
Khuyến khích đạo đẹp góp phần,
Đồng hành xã hội, xây dân mạnh giàu.
Ấn Độ kinh nghiệm thâm sâu,
Chính sách thiểu số dẫn đầu tiến xa.
Giáo dục, phúc lợi hài hòa,
Giữ gìn bản sắc đậm đà niềm tin.
Việt Nam học hỏi chân tình,
Nâng cao quản lý, giữ gìn đoàn kết.
Hai bên cùng hướng tha thiết,
Hợp tác bền chặt nối kết lâu dài.
Trao đổi đoàn những sớm mai,
Hội thảo khoa học dựng xây nhịp cầu.
Đào tạo cán bộ chuyên sâu,
Học giả, chức sắc cùng nhau giao hòa.
Bản ghi nhớ sớm ban ra,
Làm nền pháp lý mở ra tương lai.
Họp thường niên để triển khai,
Đánh giá hiệu quả từng ngày tiến lên.
Đồng bào dân tộc vững bền,
Việt Nam năm mươi bốn nền anh em.
Đại đoàn kết dựng ngày đêm,
Xuyên suốt chiến lược vững thêm nước nhà.
Miền núi đổi mới gần xa,
Hạ tầng, giáo dục nở hoa y tế.
Sinh kế phát triển bốn bề,
Giữ gìn văn hóa miền quê đậm tình.
Ấn Độ cũng rất văn minh,
Nhiều chương trình tốt cho mình bộ lạc.
Giáo dục, y tế mở mang,
Bảo tồn văn hóa, đời càng ấm no.
Hai bên cùng nguyện chung lo,
Đào tạo nhân lực, điểm tô tương lai.
Du lịch cộng đồng vươn dài,
Kinh tế sáng tạo dựng xây bản làng.
Khởi nghiệp phát triển đàng hoàng,
Sản phẩm bản địa mở mang thị trường.
Không ai bị bỏ giữa đường,
Bao trùm phát triển yêu thương đồng bào.
Việt – Ấn nghĩa đẹp biết bao,
Hợp tác sâu rộng dạt dào niềm tin.
Quốc phòng, kinh tế đồng tình,
Văn hóa, dân tộc thắm tình thủy chung.
Quan hệ chiến lược vô cùng,
Ngày thêm sâu sắc, sáng bừng tương lai. Ẩn bớt Ẩn bớt

04/05/2026

BÀI CA QUÊ TÔI – KIM BÍ XỨ ĐOÀI
Quê tôi đó – Làng Kim Bí
Một dải đất trung du ôm nắng gió
Lưng tựa núi, mắt nhìn về đồng lúa
Hồn Xứ Đoài hun đúc tự ngàn xưa.
Qua tháng năm, đổi thay cùng đất nước
Nhập thành Xã Quảng Oai hôm nay
Vẫn giữ trọn nghĩa tình quê mộc mạc
Giữa nhịp đời rộng mở phía tương lai.
Quốc lộ ba hai ngang làng rộn bước
Xe ngược xuôi chở khát vọng đi xa
Nhưng trong tim người Kim Bí muôn thuở
Vẫn ru nhau câu lúa, giấc hiền hòa.
Ơi Đình Cả linh thiêng thờ Thành hoàng
Ông Trương Tin – mục đồng thành huyền thoại
Từ ụ mối hóa thần soi nhân nghĩa
Giữ xóm làng qua bão táp thời gian.
Đình Tiên đó – nơi chữ hiền nảy nở
Bạch Vân Tiên Sinh dạy đạo làm người
Gieo con chữ thành mùa vàng trí tuệ
Để quê nghèo sáng rực những niềm vui.
Đình Cụ giữa đồng xa – nơi nghỉ gió
Bóng tre già che nắng những mùa cày
Hạt mồ hôi rơi thành mùa bội thu
Thấm đất mẹ, nuôi đời bao thế hệ.
Chùa Ngạch ngân tiếng chuông chiều tĩnh tại
Miếu Cây Đa giữ bóng mát bình yên
Mỗi mái đình, mỗi xóm là một mạch
Chảy trong tim nghĩa xóm với tình làng.
Kim Bí đó – đâu chỉ là đất ở
Mà là nguồn, là cội của yêu thương
Nơi hun đúc những con người trung dũng
Biết nghĩa tình, biết đứng thẳng kiên cường.
Trong kháng chiến, lửa lòng không tắt
Cùng Thanh Lũng, Vịnh Huê, Bằng Lũng kiên gan
Góp sức nhỏ thành non sông độc lập
Viết nên trang sử đẹp của quê hương.
Hôm nay đứng giữa đổi thay rộng mở
Quảng Oai vươn mình giữa đất Ba Vì
Người Kim Bí vẫn vẹn nguyên cốt cách
Sống nghĩa tình, bền bỉ, bước kiên trì.
Mai sau dẫu đi muôn nơi đất nước
Tim vẫn về nơi có tiếng chuông ngân
Có mái đình, cây đa và bến nước
Có quê nhà – Kim Bí mãi trong tâm.
Quê tôi đó – không ồn ào rực rỡ
Nhưng sáng ngời bởi văn hiến, nghĩa nhân
Một làng nhỏ mà mang hồn đất nước
Đủ tự hào để gọi: Quê tôi – Kim Bí muôn phần thân thương.

04/05/2026

XỨ ĐOÀI MIỀN THƯƠNG NHỚ
Khổ 1
Xứ Đoài ơi, miền quê thương nhớ
Núi Ba Vì xanh thẳm bóng mây bay
Sông Đà lặng trôi, sông Hồng bồi đắp
Phù sa nuôi hồn đất Việt hôm nay.
Đường Lâm mái ngói rêu phong cổ kính
Đá ong vàng kể chuyện tháng năm dài
Hai vị vua từ quê hương đứng dậy
Viết non sông bằng chí lớn anh tài.
Điệp khúc
Ôi Xứ Đoài, miền linh thiêng đất Việt
Hồn dân tộc còn ngân mãi ngàn sau
Tản Viên Sơn như bóng hình che chở
Giữ quê hương qua mưa nắng dãi dầu.
Tự hào lắm bao lớp người đi trước
Dựng cơ đồ từ đất mẹ thân yêu
Nay tiếp bước xây tương lai tươi sáng
Cho Xứ Đoài rạng rỡ sớm chiều.
Khổ 2
Thành Sơn Tây còn in màu lịch sử
Đình Tây Đằng vang tiếng trống hội làng
Chùa Tây Phương, chùa Thầy nghiêng bóng cổ
Nét thanh bình trong khói tỏa dịu dàng.
Đường mới mở nối gần hơn phố thị
Nhịp đổi thay lan tỏa khắp quê nhà
Nhưng vẫn giữ hồn quê trong gió nội
Một tình yêu chẳng thể nhạt phôi pha.
Điệp khúc 2
Ôi Xứ Đoài, miền quê xanh mơ ước
Mai vươn mình thành điểm sáng tương lai
Đô thị mới nhưng lòng còn nguyên vẹn
Nghĩa tình xưa như nắng ấm ban mai.
Bao thế hệ cùng chung tay gìn giữ
Nét văn hiến nghìn năm vẫn ngời ngời
Xứ Đoài đó – niềm tin và sức sống
Một miền thương đi cùng đất nước tôi.
Kết
Ai qua đây xin dừng chân lắng lại
Nghe hồn thiêng trong gió núi mây ngàn
Xứ Đoài mãi là trang thơ bất tận
Khắc trong tim hai tiếng: Việt Nam.

02/05/2026

HỘI LÀNG KIM BÍ QUÊ TÔI
Verse 1
Xuân về mở hội quê tôi
Đình làng Kim Bí rộn ràng tiếng cười
Cờ bay trong gió thảnh thơi
Người đi trẩy hội, lòng vui sum vầy
Verse 2
Nhớ xưa giữ đất quê mình
Dân làng đoàn kết, quên mình đánh tan
Giặc từ Ba Vì kéo tràn
Nghĩa tình còn mãi, tiếng vang muôn đời
Chorus
Ơi hội làng, ơi quê hương
Bao đời giữ trọn yêu thương nghĩa tình
Hương trầm quyện mái đình xinh
Cầu cho cuộc sống yên bình ấm no
Verse 3
Thành hoàng che chở dân làng
Khói hương nghi ngút, lòng càng thành tâm
Gặp nhau tay bắt ân cần
Nụ cười chân chất, bao lần nhớ thương
Bridge
Ai đi xa cũng nhớ về
Đường làng, bến nước, lời quê dịu dàng
Tình người như ánh trăng vàng
Soi bao thế hệ, dịu dàng bước đi
Chorus (lặp lại)
Ơi hội làng, ơi quê hương
Bao đời giữ trọn yêu thương nghĩa tình
Kim Bí mãi sáng niềm tin
Một miền ký ức ân tình không phai

28/04/2026

NHỚ NGÀY ẤY – HÀNH TRÌNH THÁNG 4, THÁNG 5 NĂM 1975

Từ tháng 3 năm 1975, bộ đội ta mở nhiều trận đánh lớn, thừa thắng xốc tới, lần lượt giải phóng Buôn Ma Thuột, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Phan Rang, Phan Thiết, Xuân Lộc rồi tiến vào Sài Gòn.

Ngày 1/5/1975, chúng tôi được lệnh đi công tác từ Sân bay Sao Vàng. Nhận quân trang, quân dụng xong, anh em lên xe về Đông Sơn nghỉ lại một đêm, rồi sáng hôm sau lên tàu hỏa ra Hà Nội, tiếp tục xuống Hải Phòng.

Tại Quân cảng Hải Phòng, chúng tôi lên tàu vận tải quân sự của Quân chủng Hải quân Việt Nam, bắt đầu hành trình vào Nam. Tàu rời bến khoảng 5 giờ chiều, hướng ra Biển Đông. Khi trời tối hẳn, anh em nghe tin tàu đã vượt qua “phao số 0”. Ngoài biển đêm mù mịt, chỉ lấp lánh ánh đèn của ngư dân đánh cá xa xa.

Đêm ấy hầu như không ai ngủ. Hơn 500 người trên tàu – người ngồi, người đứng, người trên boong, người dưới hầm. Có người say sóng, có người lặng im theo đuổi suy nghĩ riêng.

Sáng ngày 2, tàu vẫn lướt sóng. Biển hiện ra với vẻ đẹp hùng vĩ, từng đàn cá heo bơi theo hai bên mạn tàu, tạo nên một cảnh tượng khó quên. Chiều hôm đó, tàu cập Quân cảng Đà Nẵng, nghỉ lại một đêm. Đêm xuống vẫn còn căng thẳng khi tàn quân từ bán đảo Sơn Trà quấy nhiễu, nhưng rồi cũng qua.

Ngày 3, tàu tiếp tục hành trình và đến Quân cảng Cam Ranh, nghỉ thêm một đêm. Sang ngày 4, tàu lại ra khơi, vượt sóng tiến vào Nam.

Từ ngoài khơi, chúng tôi nhìn thấy Vũng Tàu và tượng Tượng Chúa Kitô Vua sừng sững trên núi. Nhưng tàu không dừng, mà hướng thẳng vào sông. Kia là khu xăng Nhà Bè với những bồn chứa trắng trải dài.

Tàu tiến vào Sông Sài Gòn, hai bên bờ là rặng dừa nước xanh mướt. Gần chiều, thành phố hiện ra với những tòa nhà cao tầng. Bên trái, tượng Trần Hưng Đạo uy nghi bên bến sông. Tàu từ từ cập Quân cảng Sài Gòn – điểm cuối của hành trình trên biển.

Sáng hôm sau, chúng tôi lên xe GMC, đi thẳng xuống Sân bay Cần Thơ tiếp quản sân bay và Sư đoàn 4 Không quân của Việt Nam Cộng hòa. Việc bàn giao diễn ra nhanh chóng, đánh dấu một chặng đường hoàn thành nhiệm vụ.

Đến ngày 15/5/1975, bộ đội ta tham gia Lễ duyệt binh mừng chiến thắng 1975 trong niềm vui vỡ òa của ngày đất nước thống nhất.

Bình luận:
Đó không chỉ là một chuyến hành quân, mà là hành trình của lịch sử – nơi mỗi người lính là một nhân chứng sống. Những đêm không ngủ trên biển, những bước chân nối dài từ Bắc vào Nam, những khoảnh khắc giữa ranh giới bình yên và bất trắc… tất cả đã tạo nên một ký ức không thể phai mờ.

Giá trị lớn nhất của những ngày ấy không chỉ là chiến thắng, mà là tinh thần, ý chí và sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Khi nhìn lại, có thể thời gian đã lùi xa, nhưng cảm xúc thì vẫn còn nguyên vẹn – như con sóng biển năm nào, vẫn dội vào ký ức của những người lính, không bao giờ ngừng nghỉ.

Address

Làng Kim Bí Xã Tiên Phong
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đình Kim Bí,Xã Tiên Phong, Ba Vì posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Đình Kim Bí,Xã Tiên Phong, Ba Vì:

Share