Chùa Pháp Vân

Chùa Pháp Vân Phát tâm phật thì sinh cõi phật ,Phát tâm ma thì sinh cõi ma !

GIỚI THIỆU CLB THANH NIÊN PHẬT TỬ THIỆN TÍN
Câu lạc bộ thanh niên phật tử Thiện Tín được thành lập dưới mái chùa Pháp Vân, chịu sự quản lý trực tiếp của TT Thích Thanh Huân, trụ trì chùa Pháp Vân và là tổ thanh niên của Đạo tràng Quan Thế Âm, chùa Pháp Vân, clb lấy ngày truyền thống là ngày 19/9 AL. Câu lạc bộ được thành lập với mục đích để cho các bạn trẻ có cơ hội được tịnh hóa thân tâm trong gi

áo lý Đức Phật, lấy lời dạy của Đức Phật làm kim chỉ nam trên bước đường tu học, góp phần đối trị, chuyển hóa phiền não, xung đột, áp lực, để tránh xa các cám dỗ, mê hoặc có thể dẫn đến vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật. Trên cơ sở đó giúp các bạn khai sáng được những giá trị tâm linh, dần hoàn thiện bản thân, áp dụng lời Phật dạy trong cuộc sống hàng ngày nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho bản thân, gia đình và xã hội. Chủ trương của câu lạc bộ là tạo thành một mô hình, sân chơi lành mạnh cho lớp trẻ phụng sự đạo pháp, phụng sự dân tộc, luôn tín tâm với Tam Bảo, phát nguyện tự mình là ngọn đuốc sáng luôn hướng dẫn các bạn trẻ xa rời cái ác, trở về với cái thiện, lấy nhân từ, vị tha để đối xử với mọi người, rèn đức, luyện tài, tin vào nhân quả, góp phần xây dựng Phật Pháp xương minh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta. Clb có 2 tiểu ban chính:
- Tiểu ban thiếu niên phật tử: tuổi đời từ 12 – 17
- Tiểu ban thanh niên phật tử: tuổi đời từ 18 – 35
Clb có trụ sở tại: chùa Pháp Vân 1299 Giải Phóng, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội

10 ĐIỀU VÔ ÍCH Tâm còn chưa thiện, phong thủy vô íchBất hiếu Cha Mẹ, thờ cúng vô íchAnh em chẳng hòa, bè bạn vô íchViệc ...
20/12/2018

10 ĐIỀU VÔ ÍCH

Tâm còn chưa thiện, phong thủy vô ích
Bất hiếu Cha Mẹ, thờ cúng vô ích
Anh em chẳng hòa, bè bạn vô ích
Việc làm bất chánh, đọc sách vô ích
Làm trái lòng người, thông minh vô ích
Kiêu căng ngã mạn, học rộng vô ích
Thời vận không thông, vọng cầu vô ích
Trộm cắp của người, bố thí vô ích
Chẳng giữ nguyên khí, uống thuốc vô ích
Dâm tà loạn phép, âm đức vô ích.
..................................
Tiên sinh Lâm Tắc Từ

Đừng nói những kẻ chẳng biết đến Pháp môn Tịnh Độ đành không biết làm cách nào, phải theo Nghiệp thọ sinh. Dù là đã biết...
13/12/2018

Đừng nói những kẻ chẳng biết đến Pháp môn Tịnh Độ đành không biết làm cách nào, phải theo Nghiệp thọ sinh. Dù là đã biết nhưng chẳng chăm chú tu hành thật sự thì cũng giống hệt như vậy, bị ác nghiệp lôi kéo vào trong Tam đồ, Lục đạo, vĩnh viễn luân hồi.
...........................
Ấn Quang Đại Sư

Dưới bầu trời này, không có ai là tôi không yêu thương.Dưới bầu trời này, không có ai là tôi không thể tha thứ.Dưới bầu ...
13/12/2018

Dưới bầu trời này, không có ai là tôi không yêu thương.
Dưới bầu trời này, không có ai là tôi không thể tha thứ.
Dưới bầu trời này, ai cũng là người đáng để tôi học tập.
............................
Tịnh Không ân sư

Bổn phận làm con phải biết rõ tuổi tác của cha mẹ, một mặt là mừng, vì song thân tuổi cao mà vẫn còn mạnh khỏe, mặt khác...
25/11/2018

Bổn phận làm con phải biết rõ tuổi tác của cha mẹ, một mặt là mừng, vì song thân tuổi cao mà vẫn còn mạnh khỏe, mặt khác lại lo, vì tuổi cao chồng chất, e rằng thời gian song thân ở với ta sẽ không được bao lâu.
.......................
Đức Khổng Tử

THÔNG MINH CHẲNG CỰ NỔI NGHIỆP, PHÚ QUÝ CHẲNG TRÁNH KHỎI LUÂN HỒI. SINH TỬ XẢY ĐẾN, KHÔNG CÓ GÌ NƯƠNG TỰA CẢ, ...
10/11/2018

THÔNG MINH CHẲNG CỰ NỔI NGHIỆP, PHÚ QUÝ CHẲNG TRÁNH KHỎI LUÂN HỒI. SINH TỬ XẢY ĐẾN, KHÔNG CÓ GÌ NƯƠNG TỰA CẢ, CHỈ CÓ CÂU A DI ĐÀ PHẬT LÀ NƯƠNG NHỜ ĐƯỢC THÔI

* Quang âm vùn vụt, thời thế đổi dời trong mỗi sát-na, một niệm chẳng trụ. Ðấy chính là tạo vật vì hết thảy bọn chúng sanh ta hiện tướng lưỡi rộng dài giảng vô thượng diệu pháp: Mạng người vô thường, vinh hoa chẳng bền, gấp tìm nẻo về để khỏi phải chịu cái khổ trầm luân vậy.

* Việc lớn sanh tử phải dự bị trước. Nếu đợi đến lúc sắp ra đi mới tu, chỉ e sẽ bị nghiệp lực đoạt mất.

* Sanh tử là việc lớn. Vô thường nhanh chóng. Nghe đến kinh sợ, nhưng còn lâu mới bằng khi thân trải qua nỗi đớn đau kịch liệt.

* Cổ nhân nói: “Thông minh bất năng địch nghiệp. Phú quý khởi miễn luân hồi” (Thông minh chẳng cự nổi nghiệp. Phú quý chẳng tránh khỏi luân hồi). Sanh tử xảy đến, không có gì để nương dựa cả, chỉ có mỗi A Di Ðà Phật là nương nhờ được thôi! Tiếc người đời quá ít ai biết. Kẻ biết đến, tin chân thật và thật sự niệm Phật lại càng ít hơn nữa!

* Ngày ba mươi tháng Chạp là ngày chấm dứt một năm. Nếu chẳng thu xếp trước cho khéo thì chủ nợ, oán gia sẽ xúm lại lôi kéo, chẳng dung cho lỗi lầm của mình. Lúc lâm chung chính là ngày ba mươi tháng Chạp của cả một đời. Nếu tư lương Tín – Nguyện – Hạnh chưa đủ, vẫn còn tham – sân – si, tập khí ác thì oán gia, chủ nợ từ vô lượng kiếp đến nay sẽ kéo đến bức bách, đòi nợ, chẳng dung cho mình.

Ðừng nói những kẻ chẳng biết đến pháp môn Tịnh Ðộ đành không biết làm cách nào, phải theo nghiệp thọ sanh; dù là đã biết nhưng chẳng chăm chú tu hành thật sự thì cũng giống hệt như vậy: bị ác nghiệp lôi kéo vào trong tam đồ, lục đạo, vĩnh viễn luân hồi! Muốn cầu con đường thoát khổ, chỉ có cách niệm niệm lo nghĩ đến lúc chết, sợ rằng chết đi sẽ đọa lạc trong tam đồ ác đạo thì Phật niệm sẽ tự thuần, Tịnh nghiệp sẽ tự thành; hết thảy trần cảnh sẽ chẳng thể đoạt được chánh niệm nữa!

* Cầu sanh Tây Phương đừng nên sợ chết. Nếu chết ngay ngày hôm nay thì liền sanh về Tây Phương. Ðấy là như lời [người xưa] đã nói: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ!” (Sáng nghe đạo, chiều chết cũng được!) Lẽ đâu, ngày hôm nay phải chết lại chẳng chịu chết, cứ tham luyến trần cảnh chẳng thể buông xuống, khiến cho do tham thành chướng, cảnh Tịnh Ðộ chẳng hiện, khiến cho cảnh tùy nghiệp thọ sanh trong đường thiện ác liền hiện.

Cảnh hiện, liền theo nghiệp thọ sanh trong đường thiện ác; vãng sanh Tây Phương hóa thành bánh vẽ! Vì thế, đối với người tu Tây Phương, chết hôm nay cũng tốt; sống thêm một trăm hai mươi năm rồi chết cũng hay. Hết thảy phó mặc nghiệp trước, chẳng lầm sanh ý tưởng tính toán, so đo. Nếu như tín nguyện chân thành, thiết tha, báo hết mạng tận, thần thức bèn siêu Tịnh vực, nghiệp trả lại trần lao, sen vàng chín phẩm nở hoa, Phật thọ ký một đời thành Phật!
...........................
Ấn Quang Đại Sư

ĐỐI VỚI NHỮNG BẰNG CHỨNG, CŨNG NHƯ PHÁP MẠCH TRUYỀN THỪA CỦA TỊNH ĐỘ TÔNG, CHÚNG TA CẦN PHẢI NẮM CHO VỮNGNgày nay chúng ...
09/11/2018

ĐỐI VỚI NHỮNG BẰNG CHỨNG, CŨNG NHƯ PHÁP MẠCH TRUYỀN THỪA CỦA TỊNH ĐỘ TÔNG, CHÚNG TA CẦN PHẢI NẮM CHO VỮNG

Ngày nay chúng ta tu học, bên cạnh những oan gia trái chủ thường xuyên quấy phá, chúng ta còn bị những người có kiến giải sai lầm từ trên các tông phái khác đến gây khó dễ, làm giảm sút lòng tin.

Thông thường dễ gặp nhất là họ nói rằng Phật A Di Đà là không thật có, và phủ nhận 3 bộ Kinh của Tịnh Tông là: Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ.

Đứng trước tình trạng này, những hành giả tu Tịnh Độ và quyết phát dương Tịnh Độ Tông như chúng ta phải làm sao đây?!

Những người đưa ra kiến giải cá nhân cho rằng 3 bộ Kinh của Tịnh Độ Tông là không thật có, nhưng họ không thể phủ nhận Kinh Hoa Nghiêm.

Kinh Hoa Nghiêm chính là đệ nhất Kinh, điều này đã được bao đời các tổ sư Đại Đức của các tông phái công nhận. Chúng ta thấy được phần sau của Kinh Hoa Nghiêm nói về 53 lần tham học của Thiện Tài Đồng Tử. Thiện Tài Đồng Tử sau khi theo học với Văn Thù Bồ Tát đã đắc Căn Bản Trí, Văn Thù Bồ Tát khuyên Thiện Tài Đồng Tử nên đi tham học các nơi với những Thiện Tri Thức khác nhau.

Đầu tiên là Thiện Tài Đồng Tử tham học với ngài Đức Vân nghe pháp môn Niệm Phật, liền chứng bậc Sơ Trụ. Kế đó lần lượt tham học mọi nơi đều được chứng đắc, cho đến vị Thiện Tri Thức cuối cùng là Phổ Hiền Bồ Tát.

Bấy giờ, Bồ Tát Phổ Hiền dùng oai thần gia bị khiến cho chỗ chứng của Thiện Tài Đồng Tử ngang bằng mình, cũng tức là Thiện Tài Đồng Tử đã chứng được địa vị Đẳng Giác Bồ Tát.

Sau đó, Bồ Tát Phổ Hiền khuyên ngài Thiện Tài cùng với hải chúng Bồ Tát trong ba cõi Hoa Tạng phát 10 nguyện rộng lớn, đem công đức ấy hồi hướng về Cực Lạc, để cầu mau vuông tròn quả Vô Thượng Bồ Đề.

Qua đây ta thấy được, nếu Phật A Di Đà và Tây Phương Cực Lạc là không thật có, vậy sao Bồ Tát Phổ Hiền lại dùng 10 nguyện vương để đưa ngài Đồng Tử về Tây Phương Cực Lạc?

Từ trên dòng pháp mạch truyền thừa của Tịnh Độ Tông, chúng ta thấy được vào thế kỷ thứ 6 Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi đem theo rất nhiều Kinh điển từ Ấn Độ sang Trung Quốc, mà nổi bật nhất trong đó chính là quyển Vãng Sanh Luận của Bồ Tát Thiên Thân. Lúc bấy giờ đại sư Đàm Loan là người kế thừa pháp mạch Tịnh Độ trực tiếp từ Bồ Đề Lưu Chi.

Sau đó, đại sư Đàm Loan truyền cho đại sư Đạo Xước. Từ đại sư Đạo Xước truyền cho đại sư Thiện Đạo. Cứ thế pháp mạch của Tịnh Độ được truyền thừa qua các đời tổ sư đại đức đến ngày hôm nay đã trải qua 1.500 năm.

Có thể nói Tịnh Độ Tông cũng như các tông phái khác như Thiền Tông, Mật Tông...cũng đều trải qua sự khảo nghiệm của lịch sử, và đứng vững đến ngày hôm nay.

Nếu Phật A Di Đà và Cực Lạc là không thật có, vậy sao Tịnh Độ Tông không bị lịch sử đào thải, không bị các tông phái khác loại bỏ? Mà ngược lại các tông phái khác đều thừa nhận Tịnh Độ Tông là 1 trong 8 tông phái lớn của Phật giáo.

Vậy thì những người bài bác Tịnh Độ, họ cũng chỉ là dựa trên chính tri kiến sai lầm của họ hoặc nghe người khác nói lại mà thôi!

Nói thật, cõi Cực Lạc có thật hay không, chính bản thân họ cũng hoài nghi lấy chính mình. Còn chúng ta là những hành giả tu Tịnh Độ, tuy rằng chưa đặt chân đến Cực Lạc, nhưng chúng ta có cơ sở để tin tưởng Cực Lạc là thật có thông qua các Kinh điển như:

1. Kinh Vô Lượng Thọ.

2. Kinh Quán Vô Lượng Thọ.

3. Kinh A Di Đà.

4. Kinh Hoa nghiêm, phẩm Phổ Hiền Thập Đại Nguyện Vương Hồi Quy Cực Lạc.

5. Kinh Lăng Nghiêm, chương Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông.

6. Vãng Sanh Luận của Bồ Tát Thiên Thân.

Cùng với pháp mạch truyền thừa rất rõ ràng qua 1.500 năm của Tịnh Độ Tông chưa hề đứt đoạn.

Đặc biệt, các tấm gương vãng sanh của những vị đã vãng sanh Cực Lạc chính là bằng chứng xác thật nhất, hùng hồn nhất, thực tế nhất để chứng minh Thích Ca Mâu Ni Phật chưa từng dối gạt chúng sanh khi đem pháp môn Tịnh Độ cùng với Phật A Di Đà đến giới thiệu với tất cả mọi người.

Đối với những người bài bác Tịnh Độ, chúng ta không cần phải đi so đo với họ, cũng chẳng cần cố gắng đi giải thích với họ.

Họ đi con đường A Tỳ địa ngục của họ, còn ta đi con đường Tịnh Độ Tây Phương của ta.

Nếu có duyên, nên đem những bằng chứng rõ ràng về Tịnh Độ để khuyên bảo mọi người, nhằm giúp mọi người tăng thêm Tín-Nguyện đối Cực Lạc, có như vậy ta mới không đến nỗi phụ rẫy Phật ân và hổ thẹn với tổ sư đại đức bao đời của Tịnh Độ Tông.
.............................
Tịnh Không Ân Sư

LỜI PHẬT DẠY VỀ 7 LOẠI VỢ Chính tôi được nghe, một buổi sáng nọ, Đức Phật đến dự lễ cúng dường tại nhà của cư sĩ Cấp Cô ...
02/11/2018

LỜI PHẬT DẠY VỀ 7 LOẠI VỢ

Chính tôi được nghe, một buổi sáng nọ, Đức Phật đến dự lễ cúng dường tại nhà của cư sĩ Cấp Cô Độc. Khi thân hành tới nơi, Đức Phật thoáng nghe những lời chửi bới ồn ào vọng lên từ sau nhà. Ngài hỏi cư sĩ Cấp Cô Độc rằng:

– Này cư sĩ, trong nhà có việc gì mà ồn ào như thế ?

Cư sĩ Cấp Cô Độc thẹn thùng cung kính thưa rằng:

– Bạch Đức Thế Tôn, đó là sự ngỗ nghịch lớn tiếng của nàng dâu của con, Su-cha-ta. Tuy là dâu trong gia đình, nhưng nó ỷ vào sự giàu có của gia đình cha mẹ ruột nên nó thất lễ, không chịu vâng lời, không biết cung kính cha mẹ chồng. Bạch Đức Thế Tôn, ngay cả chồng nó, nó cũng xử sự thô lỗ và vô lễ như vậy. Ngoài ra, nó cũng không biết cung kính đảnh lễ những Bậc Đạo Sư. Dù biết Thế Tôn thân lâm, nó cũng không tỏ ra trọng nể, vẫn ồn ào lớn tiếng nãy giờ. Kính xin Thế Tôn từ bi cảm hóa nó.

Lúc bấy giờ Đức Phật cho gọi nàng dâu ra và dạy rằng:

– Này Su-cha-ta, có bảy loại người vợ trên đời này. Con hãy chín chắn suy nghĩ, so sánh và trả lời cho Như Lai biết con thuộc loại vợ nào:

– Một là vợ như kẻ sát nhân.
– Hai là vợ như người ăn trộm.
– Ba là vợ như chủ nhân.
– Bốn là vợ như người mẹ.
– Năm là vợ như người em.
– Sáu là vợ như người bạn.
– Bảy là vợ như người hầu.

Với gương hạnh hiền từ, cứu độ của Đức Phật, nàng dâu bắt đầu tỏ ra vâng phục rồi lễ phép thưa:

– Bạch Đức Thế Tôn, lời dạy của Ngài quá ngắn gọn, con không thể hiểu được. Kính xin Ngài từ bi chỉ dạy cặn kẽ thêm.

Lúc ấy, Đức Phật ân cần dạy như sau:

– Một là, Người vợ nào có tâm địa hiểm độc, hai lòng không chung thủy trong hôn nhân, bỏ rơi chồng mình, quan hệ bất chính với các đàn ông khác chỉ vì choáng ngộp trước sự giàu có hay vẻ bề ngoài của họ, khinh bỉ chồng và tính tình hiếu sát. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ sát nhân.

– Hai là, người vợ nào không chung lo kinh tế gia đình, trái lại còn tiêu xài hoang phí tài sản hợp pháp của chồng tạo ra. Người vợ như vậy Như Lai gọi là loại vợ trộm cướp.

– Ba là, người vợ nào sống ỷ lại, lười biếng, không có lời từ ái, nhu hòa với chồng mà chỉ biết phát ngôn thô tháo, lấn lướt chồng. Người vợ như vậy Như Lai gọi là vợ chủ nhân.

– Bốn là, người vợ nào biết thương yêu chăm sóc, giúp đỡ chồng, biết cách giữ gìn và làm giàu tài sản của chồng như một người mẹ lo lắng chu tất cho con cái. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như mẹ.

– Năm là, người vợ nào thùy mỵ, đoan trang, khiêm tốn, biết chiều chuộng và thuận phục chồng mình như đối với một người anh trong gia đình. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như em.

– Sáu là, người vợ nào luôn luôn niềm nở, vui vẻ, hòa thuận với chồng như thể khi hội ngộ một người bạn thân từ lâu mới gặp lại. Luôn giữ tiết hạnh và thủy chung với chồng. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như bạn.

– Bảy là, người vợ nào luôn mềm mỏng, không nóng tánh, không sân hận, giận dỗi. Dù bị chồng đối xử không đẹp nhưng vẫn nhường nhịn, không tỏ thái độ lỗ mãng, lớn tiếng. Trái lại còn biết tùy thuận để khuyên răn và chinh phục chồng mình. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như người hầu.

– Này Su-cha-ta, trong bảy loại người vợ mà Như Lai vừa nói, ba hạng đầu là loại vợ như sát nhân, ăn trộm và chủ nhân như những người bất hảo, do đó con nên xa tránh. Những hạng vợ như vậy do sống không giới hạnh, ác khẩu và vô lễ, sau khi qua đời phải sanh vào cõi xấu. Bốn loại vợ sau là đáng tôn kính và noi theo. Đó là vợ như mẹ, vợ như em, vợ như bạn và vợ như người hầu. Những hạng vợ này khi sống thì tạo ra hạnh phúc cho gia đình và con cái; khi qua đời thì được sanh vào cõi lành.

Nghe Đức Phật ân cần giáo dục, nàng dâu của cư sĩ Cấp Cô Độc tỏ ra ân hận và thành tâm sám-hối. Nàng phát nguyện sẽ chung sống và phụng sự chồng với tư cách như người hầu. Từ đó, gia đình của cư sĩ Cấp Cô Độc trở nên đầm ấm, an lạc và hạnh phúc thật sự.

Kinh Tăng Chi Bộ (II. 515-7, ấn bản 1988)

ĐẠO CỦA NGƯỜI VỢ:1.Phụ nữ là mẹ của đất nước, là con gái trong gia đình, là vợ của người ta.2.Phụ nữ phải nhu hòa, mỉm c...
02/11/2018

ĐẠO CỦA NGƯỜI VỢ:

1.Phụ nữ là mẹ của đất nước, là con gái trong gia đình, là vợ của người ta.

2.Phụ nữ phải nhu hòa, mỉm cười hiền hòa, dung hợp nhân duyên của mọi người trong gia đình.

3. Mềm mại ứng biến như nước, hòa hợp không tranh giành với vạn vật, luôn đặt mình nơi thấp nhất, chảy nơi chỗ trũng, thường nhận cái sai về mình, là bổn phận của người phụ nữ.

4.Phụ nữ nhiều chuyện thì đàn ông sẽ im lặng, phụ nữ không nhu thuận thì gia tài không vượng.

5. Không nên cứng nhắc thô bạo, không được nóng nảy, không được than vãn nhiều lời, lại càng không nên quản việc của đàn ông.

6. Phụ nữ cũng có 3 kiểu người: hãn phụ (người phụ nữ hung hãn), nhược phụ (Người phụ nữ nhu nhược), tức phụ (con dâu). Người phụ nữ cứng nhắc thô bạo, quản việc của đàn ông, áp chế người đàn ông về mặt tinh thần, nói năng như sấm chớp, được gọi là hãn phụ (Người phụ nữ hung hãn). Gia đình kiểu này âm thịnh dương suy, người chồng chưa già đã yếu, thậm chí còn chết yểu, con cái sinh ra cũng vô dụng.
...
St

Address

1299, Giải Phóng
Hanoi

Opening Hours

Monday 14:00 - 20:00
Tuesday 06:00 - 20:00
Wednesday 06:00 - 20:00
Thursday 06:00 - 20:00
Friday 06:00 - 11:30
Saturday 06:00 - 20:00
Sunday 06:00 - 20:00

Telephone

+84 4 8582 0677

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Pháp Vân posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share