17/08/2026
Ở TRONG VÀ Ở NGOÀI
Ở nhà xứ Giang Xá đang có một cha khách là bạn của cha phó, ngài từ Mỹ bay sang Việt Nam để đi Lễ ở Đại hội La Vang. Là một người nước ngoài đến với những giáo xứ Việt Nam, ngài cảm thấy nhiều khác biệt, từ ngôn ngữ đến khí hậu và cả thức ăn nữa. Đa số những cha và giáo dân gặp ngài thì rất vui vẻ, thân thiện, thích chụp hình, chụp ảnh, vì lâu lắm mới có một “Cha Tây” về dâng lễ ở trong xứ. Sáng nay ngài cũng dâng Lễ hành hương ở giáo xứ.
Đây là câu chuyện của thời hiện tại, tuy nhiên người nước ngoài, người thuộc một dân tộc khác mà sống giữa dân Do thái thời Chúa Giêsu thì không được coi trọng như thế. Vì sao? Trong thế giới của người Do thái chỉ có hai loại dân: Một là Dân được tuyển chọn bởi Thiên Chúa, được Thiên Chúa mạc khải và ban cho lời hứa cũng như nền phụng tự-là chính họ, dân riêng của Thiên Chúa. Còn tất cả những dân khác, người ta gọi với danh xưng “Dân ngoại,” một danh xưng không mấy chi là đáng kính hay là được trân trọng, đúng hơn đó là một danh xưng có tính chất khinh bỉ. Người Do thái cũng coi những người Do thái mà đi kết hôn với các dân xung quanh, không giữ lề luật, không trung thành với vương triều Đavid, cũng là “Dân ngoại,” dân “tạp chủng,” đó là những người sống ở vương quốc Israel, có thủ đô Samaria từ thế kỷ thứ 10 trước Chúa Giáng Sinh. Sau này khi không còn chia cắt hai vương quốc nữa nhưng mà những người Do thái vẫn coi dân ở Samaria là dân ngoại. Người Do thái cũng coi những người Do thái làm nghề thu thuế cho đế chế với những người gái điếm là dân ngoại, và luôn muốn tránh càng xa càng tốt.
Người Do thái không vào nhà dân ngoại vì sợ ô uế. Có lần ở chương 5 trong Tin Mừng theo Thánh Mat-thêu, có một vị tướng chỉ huy quân đội người La-mã xin Chúa chữa người đầy tớ của mình, khi Chúa định đến nhà ông chữa thì ông nói: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh.” Chúa đã khen đức Tin mạnh mẽ của người này, và Chúa còn nói về con người khắp nơi sẽ đến với Chúa và Tin vào Ngài: “Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời.”
Khi Chúa Giêsu đi rao giảng về Nước trời như cái lưới bắt đủ mọi thứ cá, dù tốt dù xấu. Chúa đã kêu gọi tất cả mọi người, để họ ăn năn sám hối mà tin vào Chúa. Chúa cũng từng nói: Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau yếu mới cần, Thầy đến không để kêu gọi người công chính nhưng kêu gọi người tội lỗi.
Người bệnh, người yếu, người dân ngoại hôm nay tự động chạy đến tìm thầy thuốc là Chúa Giêsu. Bà là người dân gốc Canaan, từng là dân thù địch với người Do thái, bà ấy vô danh, chạy đến xin Chúa chữa cho đứa con gái. Bà ta phải thật sự can đảm mới có thể đến gặp Chúa vì những rào cản: Rào cản nam-nữ, rào cản người bình thường nói chuyện với bậc Thầy-Rabbi nổi tiếng trong dân Do thái, rào cản bà ta với các môn đệ, rào cản mang tiếng dân ngoại, mà chạy đến xin ơn của Đấng Mêsia với danh xưng Con Vua Đavid.
Đúng như những gì ngôn sứ Isaia đã loan báo trong bài đọc thứ nhất về người ngoại bang sẽ tìm đến và gắn bó với Thiên Chúa: Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cùng trở nên tôi tớ của Người, hết những ai giữ ngày sa-bát mà không vi phạm, cùng những ai tuân thủ giao ước của Ta, đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta. Bà ấy đã chạy đến với Chúa Giêsu, con Vua Đavid, là danh xưng của Đấng Cứu Thế.
Những tưởng Chúa sẽ chào đón người phụ nữ dân ngoại sau bao nhiêu lời dạy ở những chương trước đó. Những tưởng Chúa sẽ cho bà hoan hỷ mừng vui vì được nhập đoàn con cái Thiên Chúa. Nhưng Chúa Giêsu không nói gì với bà ta, dù bà ta cũng dùng danh xưng Con Vua Đavid. Các môn đệ đã muốn Chúa: một là cho bà ơn đó luôn cho nhanh, hai là đuổi bà ấy đi cho rảnh nợ. Nhưng Chúa lại nói một câu thật khó nghe khi gạt bà ấy sang một bên vì bà là dân ngoại: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.” Chúa Giêsu đã có phần quá đáng và có lẽ thử thách hơn quá. Đỉnh cao của sự thử thách đó là Chúa coi bà ấy không xứng là con cái, mà chỉ như “lũ chó con” mà thôi. Nếu đặt mình vào vị trí là người lạ đến xin ơn như thế, chúng ta sẽ cảm thấy gì và sẽ làm gì? Có lẽ chúng ta sẽ rất tức giận, thậm chí chửi lại, thậm chí lao vào đánh nhau vì bị khinh miệt, bị coi thường không bằng con người. Thế nhưng bà ta lại khiêm nhường đến mức chấp nhận địa vị chó con, địa vị “vật nuôi,” địa vị dân ngoại, địa vị thấp kém mà người Do thái nhìn về phía mình. Và bà tin tưởng rằng chỉ một chút ân sủng rớt trên từ bàn chủ rơi xuống thôi cũng đủ làm cho con bà được khỏi bệnh. Thật xúc động với lòng tin mạnh mẽ từ bà ấy. Những sự thử thách của Chúa làm cho những người cho là người trong, những dân riêng, phải xấu hổ về Đức Tin của dân ngoại.
Đây là lần thứ hai, và cũng lần cuối cùng trong toàn bộ Tin Mừng theo thánh Mat-thêu mà Chúa Giêsu khen đức Tin của một người, và lại là người dân ngoại: “Lòng tin của bà mạnh thật ! Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy.” Thế đấy, dân ngoại mà khiêm nhường, kiên trì cầu nguyện và bất cứ gì họ xin đểu được nhận lời. Chúng ta nghĩ sao khi người Công Giáo, người có Đạo, là những người đã trở nên dân riêng, dân ở trong giao ước với Chúa qua bí tích Rửa Tội, đôi khi xin mãi một điều mà không được? Chúng ta có đức tin mạnh như thế không? Chúng ta có ghen tị không? Thánh Phaolô khi đi rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại và được nhiều người đón nhận, đã viết: tôi làm cho anh em đồng bào tôi phải ganh tị, và tôi cứu được một số anh em đó. Ngài muốn dân Do thái ghen để họ nhờ thế mà nỗ lực gắn bó với Thiên Chúa, với giao ước của Ngài.
Thực ra chúng ta đã từng là những người dân ngoại, người ngoài, những người không được ở trong giao ước với Thiên Chúa. Tin Mừng nhắc nhở chúng ta là chúng ta đã trở thành dân riêng của Chúa thì đừng sống như dân ngoại. Tôi nghe biết một vài trường hợp sáng đi Lễ, chiều đi viết điếu văn, cầu hồn. Sáng đọc kinh chiều cúng thần tài ngày đầu tháng và ngày rằm. Như thế có lẽ là chưa xứng đáng với ân huệ là dân riêng, dân được tuyển chọn của Thiên Chúa. Chúng ta đừng tự loại mình ra khỏi vinh dự dân riêng của Chúa kẻo chúng ta có thể bị quăng ra chỗ tối tăm, phải khóc lóc nghiến răng. Và chúng ta cũng đừng quên cầu nguyện cho muôn dân nhận biết Chúa và được trở nên một với chúng ta để chỉ có một đàn chiên duy nhất và một chủ chiên là chính Chúa, như chính Chúa Giêsu đã từng cầu nguyện như thế.
✍️ 𝑭𝒓. 𝑳𝒖𝒎𝒃𝒆𝒓 𝑱𝒐𝒔𝒆𝒑𝒉