Tiên Phong là một xã đồi gò bán sơn địa thuộc trung du miền núi phía Bắc. Địa hình có nhiều quả đồi sàn sàn như bát úp trong đó nổi bật lên là gò đất cao nhất xã có tên là Chùa Kho thuộc địa phận thôn Vị Nhuế.
Đồi Kho có độ cao so với mực nước biển khoảng 120m, là khu vực cao thứ 3 (sau đồi Cốc ở xã Thụy An, đồi Đùm ở xã Xuân Sơn) nên nhân dân ta có câu: “Nhất Cốc, nhì Đùm, tam Kho, tứ Viễn
”. Đồi Kho là miền đất cao ráo, thoáng mát, phía Nam là dãy núi Tản Viên Sơn, phía Bắc là dòng sông Tích và cánh đồng lúa phì nhiêu, màu mỡ. Hiện nay mất hết gia phả nên không xác định rõ thời gian xây dựng Chùa, chỉ nghe các cụ già trong xã kể lại Chùa có từ rất lâu, cùng thời với đình Thanh Lũng ở thế kỷ 16. Chùa Kho được xây dựng theo kiểu chữ TAM hướng chính Nam gồm 3 tòa nhà:
+ Tòa thứ nhất phía trước gọi là Tiền Đường là ngôi nhà ba gian xây theo kiểu tường hồi bít dốc, bên trong có bài trí tượng Phật.
+ Tòa thứ hai ở giữa gọi là Chính Điện là nơi thờ Phật Thích Ca Màu Ni
+ Tòa thứ ba ở sau được bài chí kết hợp thờ Tổ, thờ Mẫu.. Kho Sơn Tự mang đầy đủ yếu tố tâm linh như các ngôi chùa cổ khác của Xứ Đoài. Ở chùa có các tấm bia được khắc bằng đá, có chuông đồng khánh đá, 2 câu đối, 2 bức hoành phi, khảm thờ, một bức long ng*i bài vị, 1 pho tượng Hậu, 3 pho tượng Tổ, 1 pho Đức Thánh Trần, 1 pho Nam Tào Bắc Đẩu, 3 pho tam thế bài vị Uy Nghị, tiếp đến là tượng A Di Đà và Quan thế Âm Bồ Tát. Dưới chân đồi trước của Chùa các cụ xưa có đào một cái ao thường gọi là Ao Chùa , một cái giếng được gọi là Giếng Găng, sau chùa phía Tây Bắc có một cái giếng gọi là giếng Xay Củ (giếng dốc Chùa). Nay 2 cái giếng vẫn còn dấu vết. Năm 1947 Pháp tấn công Sơn Tây thực hiện chính sách của Đảng lúc đó là tiêu thổ kháng chiến và vườn không nhà chống nên trước khi Chùa bị đốt các già vãi và nhân dân 2 làng Thanh Lũng – Vị Nhuế chuyển các pho tượng Phật và các di vật và tả mạc đình Thanh Lũng và lập lại chùa ở đó. Năm 1954 máy bay mỹ đã bắn đạn pháo, ném bom Napan xuống làng Thanh Lũng, tả mạc đình Thanh lũng bị sập đổ, bốc cháy, một số pho tượng phật bị hư hỏng. Cho đến khi hòa bình lặp lại ở miền Bắc, nhân dân 2 làng chuyển phật ở đình còn lại nên lập chùa ở đình trên (sau đình Thanh lũng bây giờ). Năm 1989 được sự quan tâm của Đảng về việc gìn giữ và bảo vệ di sản văn hóa, nhân dân ủng hộ công sức, tiền của, vật liệu cùng sự đóng góp cùa các nhà hảo tâm đã xây dựng lại chùa trên nền tả mạc ở đình Thanh lũng. Chùa Kho từ năm 1947 đến năm 1994 chỉ là đồi cây, cỏ giác, g*i bụi. Thực hiện dự án 327 phủ xanh đất trống, đồi trọc của Nhà nước. Năm 1994 ông Kiều Văn Thìn ở thôn Thanh lũng đã nhận hợp đồng với địa phương trồng cây ăn quả trong 50 năm, vốn nơi đây là chùa cổ, là vùng đất địa linh với tấm lòng tâm linh nên gia đình ông Thìn đã lập đền thờ mẫu và đồng thời đã tìm lại những di tích cổ xưa xây nhà đúng móng chùa cũ, gìn giữ những cổ vật còn sót lại như bia đá, đầu sư tử, gạch cổ… thể theo nguyện vong của nhân dân 2 làng Thanh lũng, Vị nhuế. Các cụ 2 làng đã họp tại đình Thanh lũng vào ngày 05/7/2006 thống nhất ra Nghị quyết chuyển chùa từ tả mạc đình Thanh lũng về chùa Kho là nơi đất cổ. Với tấm lòng hảo tâm gia đình ông Kiều Văn Thìn đã cung tiến 3ha để xây dựng lại chùa. Trải qua bao năm tháng thăng trầm của lịch sử, nhiều lần di chuyển nên hiện nay một số di vật không còn nữa. Chùa Kho đã được khôi phục lại vào ngày 25 tháng 09 năm 2006. Tuy đã được địa phương xây dựng lại nhưng cho đến nay Chùa Kho vẫn chưa được phục hồi như hình dáng cổ, diện tích trật trội, tượng Phật còn sơ sài, đặc biệt công trình đã bị xuống cấp nghiêm trọng, hơn nữa đường đi xuống khó khăn, phối cảnh Chùa chưa hợp lí… không thuận lợi đến việc sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân, chưa phát huy được những giá trị tốt đẹp vốn có của ngôi Chùa.