Nhà cô đồng Linh Nguyễn - Kim Ngọc Điện Từ

Nhà cô đồng Linh Nguyễn - Kim Ngọc Điện Từ Tâm linh xem bói âm - căn số - phụng thờ việc thánh.

22/01/2023

Đầu Năm đi xem bói ở đâu chuẩn.?
_Tại Hà Nội

𝙉𝙖̆𝙢 𝙢𝙤̛́𝙞 2023 đ𝙖̃ 𝙗𝙖̆́𝙩 đ𝙖̂̀𝙪 . 𝘾𝙤̂ 𝙭𝙞𝙣 𝙩𝙝𝙤̂𝙣𝙜 𝙗𝙖́𝙤 𝙡𝙞̣𝙘𝙝 𝙭𝙚𝙢 𝙗𝙤́𝙞 𝙘𝙝𝙤 𝙘𝙖́𝙘 𝙜𝙞𝙖 𝙘𝙝𝙪̉ : 𝚌𝚘̂ 𝚋𝚊̆́𝚝 đ𝚊̂̀𝚞 𝚗𝚑𝚊̣̂𝚗 𝚕𝚊̀𝚖 𝚟𝚒𝚎̣̂𝚌 𝚝𝚞̛̀ 𝚗𝚐𝚊̀𝚢 𝚖𝚞̀𝚗𝚐 𝟸/𝟷 𝚊̂𝚖 𝚕𝚒̣𝚌𝚑 .

ℂ𝕒́𝕔 𝕓𝕒̣𝕟 𝕢𝕦𝕒 𝕩𝕖𝕞 𝕧𝕦𝕚 𝕝𝕠̀𝕟𝕘 đ𝕒̣̆𝕥 𝕝𝕚̣𝕔𝕙 𝕥𝕣𝕦̛𝕠̛́𝕔 𝕢𝕦𝕒 𝔽𝔹 𝕙𝕠𝕒̣̆𝕔 𝕝𝕚𝕖̂𝕟 𝕙𝕖̣̂ 𝕤𝕠̂́ : 𝟘𝟠𝟠.𝟞𝟞𝟛.𝟚𝟚𝟞𝟚 đ𝕖̂̉ 𝕜𝕙𝕠̂𝕟𝕘 𝕡𝕙𝕒̉𝕚 𝕔𝕙𝕠̛̀ đ𝕠̛̣𝕚!. 𝕏𝕚𝕟 𝕥𝕣𝕒̂𝕟 𝕥𝕙𝕒̀𝕟𝕙 𝕔𝕒̉𝕞 𝕠̛𝕟!!!

𝗟𝗨̛𝗨 𝗬́ : 𝗞𝗵𝗶 đ𝗲̂́𝗻 𝗯𝗮̉𝗻 đ𝗶𝗲̣̂𝗻 𝗮̆𝗻 𝗺𝗮̣̆𝗰 𝗹𝗶̣𝗰𝗵 𝘀𝘂̛̣ (𝗸𝗼 𝗺𝗮̣̆𝗰 𝘃𝗮́𝘆 𝘃𝗮̀ 𝗮́𝗼 𝘀𝗮́𝘁 𝗻𝗮́𝗰𝗵 𝗵𝗼𝗮̣̆𝗰 𝗻𝗵𝘂̛̃𝗻𝗴 𝗯𝗼̣̂ đ𝗼̂̀ 𝗵𝗼̛̉ 𝗵𝗮𝗻𝗴)
𝗕𝗮̣𝗻 𝗻𝗮̀𝗼 đ𝗲̂́𝗻 𝗻𝗴𝗮̀𝘆 đ𝗲̀𝗻 đ𝗼̉ 𝘃𝘂𝗶 𝗹𝗼̀𝗻𝗴 đ𝗼̛̣𝗶 𝘀𝗮̣𝗰𝗵 𝘁𝗵𝗶̀ 𝗵𝗮̃𝘆 đ𝗮̣̆𝘁 𝗹𝗶̣𝗰𝗵 đ𝗲̂́𝗻 𝘅𝗲𝗺 𝗻𝗵𝗲́!

Tâm linh xem bói âm - căn số - phụng thờ việc thánh.

Xin thông báo tới các gia chủ, con hương, đệ tử ai cần đăng ký dâng sao giải hạn, lập cung , cầu tài, cầu lộc đầu năm tạ...
13/01/2023

Xin thông báo tới các gia chủ, con hương, đệ tử ai cần đăng ký dâng sao giải hạn, lập cung , cầu tài, cầu lộc đầu năm tại BẢN ĐIỆN (từ bây giờ đến ngày 5/1 năm Quý Mão) để bản điện dâng sao giải hạn cho các gia chủ ngày 6/1 năm Quý Mão
⬇️⬇️ Bảng sao chiếu hạn 2023⬇️⬇️
🔹 THÂN - TÝ - THÌN Tam tai năm thứ 2;
🔹 TÝ - NGỌ - MÃO - DẬU - THÌN thái tuế;
❗️ TÝ - THÌN vừa tam tai vừa thái tuế;
▪Những tuổi phạm sao xấu: Kế Đô, La Hầu, Vân Hớn, Thái Bạch mn cùng tra xem có phạm sao xấu ko nhé
🔅 Những người phạm sao hung tinh,Thái Tuế,Tam Tai thì đóng riêng.
Trân trọng./. @ Nhà cô đồng Linh Nguyễn - Kim Ngọc Điện Từ

🪷CUNG NGHINH THÁNG TIỆC QUAN HOÀNG 10 🙏🙏🙏        “Đất Nghệ An anh hùng hào kiệt         Tiếng Ông Mười lẫm liệt ngàn xưa...
24/10/2022

🪷CUNG NGHINH THÁNG TIỆC QUAN HOÀNG 10 🙏🙏🙏

“Đất Nghệ An anh hùng hào kiệt
Tiếng Ông Mười lẫm liệt ngàn xưa
Cung gươm lên ngựa đề cờ
Ra tay gìn giữ cõi bờ Việt Nam”

_Cô Linh lên lịch xem bói cho bách gia trăm họ. Xin lộc QUAN HOÀNG 10
💁‍♀️ Lịch xem bói tháng 10_ 11 của Cô Linh.!
🙇‍♀️ Từ 10h sáng đến 20h tối các ngày trong tuần nhớ đặt lịch trước để không phải chờ.!
🤳 Liên hệ: 088.66.322.62 cô linh ( cô không xem online nhé.! )
Add Facebook của cô : Linh Nguyễn (hiệu đồng thành)
Ticktok:
🫶 Cô là một trong những địa chỉ xem bói uy tín ở Hà Nội (k bắt ép làm lễ k dọa dẫm hay làm tiền)
🙏 Đến điện cô xem bói cầu tình duyên, cắt duyên âm, cầu tài lộc, giải hạn, dâng tiến căn số, mở phủ,… cô đều giúp được toại nguyện.
👀 Mọi người có thể xem chỗ khác rồi cần làm lễ thì đến cô xem lại có thật sự cần thiết không
🙏 Lưu ý là đến điện cô phải thành tâm, mọi vấn đề sắm lễ, cúng bái cô sẽ chỉ dẫn và làm nhiệt tình không mưu lợi!
🙏🙏🙏 A DI ĐÀ PHẬT.. 🕯🕯🕯

QUAN HOÀNG MƯỜI VÀ TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ ÔNGTrong số Thập vị quan Hoàng, Thánh ông Hoàng Mười là một trong những...
07/10/2022

QUAN HOÀNG MƯỜI VÀ TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ ÔNG
Trong số Thập vị quan Hoàng, Thánh ông Hoàng Mười là một trong những vị tồn tại nhiều dị bản về thân thế. Thánh ông Hoàng Mười được gắn với các nhân vật có thật trong sử sách.
Cõi Trần mở tiệc mừng vui
Đông về nhớ Đức Hoàng Mười giáng sinh
Rượu đào kính chúc Thánh minh
Phong hoa, tuyết nguyệt phẩm bình mấy chương
Ngẫm câu Thế sự vô thường
Tấc son mượn nước cành dương tưới nhuần
Vắng người vắng cả mùa Xuân
Nhớ người vì Nước, vì Dân, vì Đời
Thế gian nhớ miệng Hoàng cười
Nhớ khăn Hoàng chít, nhớ lời Hoàng ban
Khi phố Cát, lúc đồi Ngang
Nón kinh vó ngựa, dăm ngàn tiêu dao
Đường đường cung kiếm anh hào
Túi thơ, bầu rượu sớm chiều xênh xang
Hèo hoa trảy hội Tiên hương
Chấm đồng nhận lính khắp miền Đông Tây
Khi nương gió, lúc cưỡi mây
Khi rung khánh ngọc, khi lay chuông vàng.
Sự tích về Ông như thế nào? Ông có vị trí như thế nào trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt? Xin chia sẻ cùng quý vị.
1.Truyền thuyết, giai thoại, thần tích.
Ông Hoàng Mười là ai? Truyền thuyết, giai thoại, thần tích về Ông như thể nào?
Đến nay giới nghiên cứu vẫn còn nhiều điều chưa thống nhất. Tuy nhiên qua các đạo sắc phong còn lưu giữ, qua điền giã dân gian, qua chuyện kể và tâm thức dân gian thống nhất một số vấn đề sau.
Về thân thế (hóa thân) của ông Hoàng Mười:
Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân.
Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An. Tuy nhiên sự tích ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời vua Lê Thái Tổ được nhiều nhiều người nhất trí cao. Nguyễn Xí xuất thân tại xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An ngày nay. Ông là bậc đại công thần, là võ tướng, chính trị gia lỗi lạc giúp Lê Lợi chiến đấu chống giặc Minh xâm lược.
Nguyễn Xí là vị quan phò tá qua 4 đời vua Lê gồm. Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Hiến Tông và Lê Túc Tông. Đây là giai đoạn cực thịnh của nhà Lê. Sự hưng thịnh đã đi vào ca dao rằng:
“Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Lúa chất đầy đồng trâu chẳng buồn ăn”,
Hay:
“Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Con bế, con dắt, con bồng, con mang”...
Sinh thời, Nguyễn Xí không chỉ là một bậc quan khai quốc công thần, tài hoa lỗi lạc mà ông còn giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo. Sau khi đánh tan giặc Minh xâm lược, ông được Lê Lợi phân công cai quản đất Nghệ An, Hà Tĩnh. Tại đây, ông đã dạy dân trồng lúa nước, đắp đê ngăn lũ, thủy lợi nội đồng...
Tương truyền, trong một lần gió lớn, mưa to, nhà cửa, cây cối của người dân bị bẻ sập, Nguyễn Xí đốc thúc quân lính và đích thân lên rừng đốn gỗ về dựng lại nhà cửa cho dân, sai người mở kho lương thực cứu tế kịp thời. Nhờ đó mà nhiều người đã thoát khỏi đói rét, chết chóc vì bão lũ... Vì vậy được dân chúng khắp nơi tôn sùng, coi như hiền thánh. Sự hưng thịnh của các đời vua Lê có dấu ấn quan trọng của Nguyễn Xí và bộ máy quan đại thần hạ triều.
Về sự tích hiển thánh của quan Hoàng Mười
Hiện nay trong tâm thức dân gian vẫn thống nhất câu chuyện kể về sự tích Ông hiển thánh như sau:
Chuyện kể rằng, một lần Nguyễn Xí dạo thuyền trên sông Lam, đoạn qua núi Hồng Lĩnh thì bỗng có đợt sóng to, gió lớn nổi lên, thuyền của ông bị thủy triều, phong ba cuốn đi mất. Dân chúng biết tin liền đến bên đôi bờ Lam giang mà tỏ lòng thương tiếc, người người khóc thương vị quan hết lòng vì dân.
Đúng lúc đó, bầu trời đang cuồng phong bão táp bỗng tan biến, bầu trời nổi áng mây vàng, thi thể của ông nổi lên mặt nước, sắc mặt hồng hào như người nằm ngủ. Khi dạt vào bờ, đất xung quanh bỗng bao bọc lấy di quan. Cùng lúc, trên nền trời bỗng xuất hiện mây ngũ sắc, kết thành xích mã và thiên binh đưa ông về trời.
Sau khi ông mất, người dân Nghệ An lập đền thờ ông. Bách tính suy tôn ông là Thánh ông Hoàng Mười. (hay còn gọi là Ông Mười Củi) bời vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, hết lòng hết sức thương dân, chính trực, nghiêm minh … Ông khi hiển ứng, được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong Dinh đô Mỏ Hạc Linh Từ.
2. Vị trí của ông trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
Tín người thờ Mẫu của người Việt ra đời từ thế kỷ XV, XVI là tín ngường văn hóa dân gian bản địa suy tôn những người anh hùng dân tộc có công với dân với nước. Trong hệ thống thần điện thì ông hoàng Mười có vị trí rất quan trọng, Ông là một vị quan hoàng nằm trong hệ thống điện thần thờ mẫu tứ phủ, nơi nào có điện thờ Mẫu là nơi đó có tượng hoặc bàn thờ ông Hoàng Mười, mọi canh hầu đều thỉnh Ông về chứng đàn, chứng sớ ….
Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Cùng với Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười cũng là một trong hai vị Ông Hoàng luôn về ngự đồng, cũng bởi vì ông còn được coi là người được Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng.
Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng.
Khi ông ngự vui, thường có dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá (là những đặc sản của quê hương ông) dâng cờ, dâng quạt, dâng bút nghiên … rồi cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ. Ông về ngự đồng ban tài, ban lộc, thưởng thơ, thưởng, trà, rượu..
Ngày tiệc quan Hoàng Mười & đền thờ
Ngày ông giáng sinh 10/10 âm lịch được coi là ngày tiệc chính của ông, người ta dâng ông: cờ quạt bút sách … để cầu tài cầu lộc cũng là cầu mong cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông.
Đền thờ Ông Hoàng Mười có hai đền là Đền Chợ Củi bên Hà Tỉnh và Đền Mỏ Hạc bên Nghệ An (đền chính) Cả hai đền đều ở bên bờ sông Lam, núi Hồng Lĩnh (cũng chính là nơi quê nhà của Ông Mười). Các triều đại phong kiến Việt Nam đã sắc tặng Ông Mười tất cả là 21 sắc phong (tất cả đều còn lưu giữ trong đền chính thờ ông).
Đi lễ ông Hoàng Mười cầu gì?
Theo dân gian Ông Hoàng Mười là vị thánh chuyên ban lộc cho phát về công danh sự nghiệp. Chính vì thế, ai cũng muốn đến xin lộc ông vào mỗi dịp đầu năm. Đó cũng là lý do khiến những ngôi đền thờ ông Hoàng Mười luôn tấp nập du khách vào mỗi dịp đầu xuân để cầu xin lộc.
Bao công đắp điếm vun trồng
Tưới lan lan tốt, vun hồng hồng xanh
Khăn điều áo ngự vàng anh
Đố ai hoạ được bức tranh ông tày
Vòng vàng nhẫn ngọc luồn tay
Cổ đeo kim khánh chân hài thêu hoa
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Ghế Hoàng bao tuổi vẫn hào hoa hơn người
Thế gian nhớ miệng hoàng cười
Nhớ câu Hoàng dạy, nhớ lời truyền ban
Đời người chỉ ngắn tấc gang
Gắng tu nhân tích đức ắt vẻ vang gia đình
Như cây muốn tốt lá xanh cành
Nhất tâm tu đức, Hoàng dành phần cho
Người ơi chớ ngại đừng lo
Cõi tu như bể rộng nhưng khéo dò vẫn tới nơi
Ông Hoàng Mười thường độ cho các con nhang đệ tử về khoẻ mạnh, học hành, công việc, công danh, bình an. Đặc biệt là cầu công danh sự nghiệp thăng tiến, thuận lợi, phát tài phát lộc, mọi việc suôn sẻ.

Nam mô Hương vân cái bồ tát ma ha tát.
Nam mô Hương vân cái bồ tát ma ha tát.
Nam mô Hương vân cái bồ tát ma ha tát.
Nguyện cầu Quốc thái dân an, quốc gia hưng thịnh, nhà nhà yên vui….
Tamlinh.org

DANH SÁCH THẬP VỊ QUAN HOÀNGThập vị Quan Hoàng gồm những ai? Các vị này hiện đang được thờ ở đâu? Thần tích & quyền phép...
07/10/2022

DANH SÁCH THẬP VỊ QUAN HOÀNG
Thập vị Quan Hoàng gồm những ai? Các vị này hiện đang được thờ ở đâu? Thần tích & quyền phép của thập vị quan hoàng?
Các Thánh Hoàng được gọi tên theo thứ tự từ Ông Hoàng Cả tới Ông Hoàng Mười. Các ngài đều là con vua Bát Hải Động Đình, giáng trần đầu thai làm tướng, lập nên nhiều công lao trong lịch sử.
Trong hệ thống thần linh Tam – Tứ phủ, Thập vị Quan Hoàng hay còn gọi là Tứ Phủ Thánh Hoàng, Tứ phủ Ông Hoàng là các vị Thánh nam dưới hàng Ngũ vị Tôn ông và Tứ phủ Chầu Bà, trên hàng Tứ phủ Thánh cô và Tứ phủ Thánh cậu.
Các Thánh Hoàng được gọi tên theo thứ tự từ Ông Hoàng Cả tới Ông Hoàng Mười. Các ngài đều là con vua Bát Hải Động Đình, giáng trần đầu thai làm tướng, lập nên nhiều công lao trong lịch sử.
Ông Hoàng Cả
Hay còn gọi là ông Hoàng Quận, có nhiệm vụ trông coi sổ sách thiên đình. Ông thường rong chơi khắp chốn, khi trên trời thì bằng con Xích Long, khi dưới mặt nước thì bằng Tam đầu Cửu vĩ. Ông phù hộ cho người làm ăn buôn bán hoặc những kẻ học hành.
Ông được thờ ở đền Trung – Suối Mỡ.
Ông Cả rất ít khi ngự đồng, khi ngự về ông thường mặc áo đỏ thêu rồng, đầu đội khăn xếp có thắt lét đỏ. Ông Hoàng Cả ngự về thường chỉ tấu hương, khai quang.
Ông Hoàng Đôi
Là vị quan Hoàng thứ hai. Ông giáng trần, đầu thai làm tướng quân Nguyễn Hoàng, tổ tiên của chúa Nguyễn và vua Nguyễn, mở mang bờ cõi nước Nam.
Nơi ông đóng quân là đất Triệu Tường, Thanh Hóa nên ông cũng được gọi là quan Hoàng Triệu, đền thờ chính của ông, đền Quan Triệu, cũng ở đây. Ngoài ra, ở Chèm, Hà Nội cũng có một ngôi đền Quan Triệu.
Ông cũng ít khi ngự đồng, nếu có ngự về, ông mặc áo như Ông Hoàng Cả (nhưng màu xanh hoặc vàng). Ông về tấu hương, khai quang rồi múa cờ lệnh.
Quan Hoàng Ba (Bơ)
Quan Hoàng Ba có ba đền thờ, một tại Hàn Sơn, Thanh Hóa, một ở Thái Bình (đền Hưng Long), một ở đền Vạn Ngang, Đồ Sơn. Mỗi nơi có một thần tích khác nhau về ông nhưng tựu chung lại trong tâm thức của người dân, ông Hoàng Bơ hầu Mẫu, phụng sự ở Thoải cung. Vậy nên khi ngự đồng, ông mặc đồ trắng.
Quan Hoàng Bảy
Đền thờ chính của ngài là Bảo Hà, được xây dựng vào cuối đời Lê, dưới chân núi Cấm, huyện Bản Yên, tỉnh Lào Cai,
Các tích về ngài không thống nhất nhau. Tích thì cho rằng ngài hi sinh trong lúc đánh giặc Trung Quốc, tích thì cho rằng ngài bị những kẻ nghi kị trong triều đình sát hại. Nhưng tựu chung lại ngài đã giáng trần và đầu thai làm tướng Nguyễn Hoàng Bảy trấn vùng rừng núi biên ải giáp Trung Quốc. Thế cho nên khi ngự đồng, ngài thường mặc áo lam hoặc tím chàm thêu rồng, đầu đội khăn xếp có thắt lét lam, cài chiếc kim lệch màu ngọc thạch. Ông ngự về tấu hương, khai quang rồi cầm đôi hèo, cưỡi ngựa đi chấm đồng. Đến giá Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như ông đã chấm đồng người đó. Lúc ông giá ngự, thường dâng ông ba tuần trà tàu rồi thuốc lá có tẩm thuốc phiện.
Quan Hoàng Chín
Đây là ông Hoàng rất đặc biệt vì phong cách thơ phú và vẻ nền nã bề ngoài. Ông thường mặc áo đen, chân đi guốc mộc, tay cầm ô như một ông đồ. Tương truyền ông có giáng trần, đầu thai làm người học rộng tài cao, sau trở thành vị quan thanh liêm giúp dân, giúp nước, thống lĩnh cửa Cờn Môn nên cũng có tên là ông Hoàng Chín Cờn Môn.
Quan Hoàng Mười
Hay còn gọi là ông Mười Nghệ An. Ông vốn là thiên quan giáng trần giúp dân cứu đời. Có rất nhiều dị bản thần tích về ông. Ông được cho là đã hóa thân đầu thai, trở thành các tướng Nguyễn Xí, Lê Khôi, Nguyễn Duy Lặc, Nguyễn Duy Nhân, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang.
Đền thờ chính của ông là đền Chợ Củi ở Hà Tĩnh và đền Hưng Nguyên ở Nghệ An.
Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ Thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng.
Các Quan Hoàng Tư, Hoàng Năm, Hoàng Sáu, Hoàng Tám
Các ông Hoàng này đều không giáng trần, nhưng cũng có một số ý kiến cho rằng ông Hoàng Tư có hóa thân là tướng Nguyễn Hữu Cầu, ông hoàng Năm chính là tướng công Hoàng Công Chất, và hiện thân của Quan Hoàng Tám là tướng Nùng Chí Cao.
Như vậy trong đạo Mẫu không chỉ có hiện tượng thần hóa các yếu tố tự nhiên mà còn có cả hiện tượng thần hóa con người, thông qua quá trình hóa thân, đầu thai, bất tử hóa họ thông qua các giá đồng. Điều đó vừa thể hiện niềm tôn kính của người dân với những nhân vật lịch sử, vừa thể hiện một ước vọng được tự nhiên che chở và có mối dây liên hệ giữa tự nhiên với con người.
Tamlinh.org

QUAN HOÀNG BẢY VÀ TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ ÔNGQuan Hoàng Bảy còn thường được gọi là Ông Hoàng Bảy Bảo Hà. Ông được ...
07/10/2022

QUAN HOÀNG BẢY VÀ TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ ÔNG
Quan Hoàng Bảy còn thường được gọi là Ông Hoàng Bảy Bảo Hà. Ông được thờ chính tại đền Bảo Hà, Lào Cai. Quan Hoàng Bảy là ai? Sự tích Quan Hoàng Bảy thế nào? Đó là những câu hỏi mà mọi người hết sức quan tâm. Bài viết về Quan hoàng Bảy và những điều cần biết về ông dưới đây sẽ giúp bạn trả lời được tất cả các câu hỏi này.
• Ông Hoàng Bẩy là một nhân vật có thật trong lịch sử, còn trong ĐẠO MẪU ( Tứ Phủ), ông là một trong những vị thánh được người trong và ngoài đạo nhắc đến nhiều nhất.
Thu qua mở hội bàn đào
Tay nâng ly ngọc Hoàng vào hậu cung
Phong lưu “châm tửu” ung dung
Tiên nàng dâng chén chúc mừng tiệc quan
Tiên cô nàng cả mở màn
Nàng đôi nho nhã ngồi bàn hầu Ông
Nàng ba múa lượn vài bông
Nàng tư tươi tốt áo hồng bước ra
Nàng năm dâng một khay trà
Dâng lên Ông Bẩy Bảo Hà sơn lâm
Tiên cô nàng sáu thì thầm
Nâng ly chúc rượu, trầm ngâm Hoàng cười
Tiên cô nàng bảy nàng mười
Đôi cô múa lượn, dáng người thướt tha
Tiên cô nàng tám hát ca
Tiên cô nàng chín mặn mà múa đăng
Tiên cô mười một ngắm trăng
Tay cô thêu dệt siêng năng chuyên cần
Tiên cô mười hai ân cần
Kẹo dìu thuốc cống hồng trần dâng Ông
Các cô múa lượn vài bông
Mười hai các cô tiên nữ rước Ông Bẩy Bảo Hà về chốn sơn lâm, tấu đối việc quan
XE LOAN THÁNH GIÁ HỒI CUNG..!
Quan Hoàng Bảy là ai?
Quan Hoàng Bảy là một trong mười vị Quan Hoàng trong Tứ phủ Quan Hoàng.
Tứ phủ Quan Hoàng còn gọi là Tứ Phủ Thánh Hoàng hay Thập vị Quan Hoàng. Tứ phủ Quan Hoàng gồm có mười vị Quan Hoàng, hầu hết được quy về làm con Đức Vua cha Bát Hải Động Đình. Trong Đạo Mẫu, Tứ Phủ Thánh Hoàng đứng sau Ngũ Vị Tôn Ông và Tứ phủ Thánh Chầu, đứng trên Tứ Phủ Thánh Cô và Tứ Phủ Thánh Cậu.
Con xin ông Bẩy chấm đồng
Độ con yên số sổ hồng yên căn
Độ con qua hạn khó khăn
Độ con khôn lớn quanh năm tháng ngày
Cho con mở mặt mở mày
Vững tâm vững bóng con này lớn khôn
Đền của ông ở đất Bảo Hà ( Lào Cai) nên người ta còn gọi là ÔNG BẨY BẢO HÀ.
Sự tích Quan Hoàng Bảy
Sự tích Ông Hoàng Bảy Bảo Hà có khá nhiều dị bản khác nhau. Tuy nhiên, theo các tài liệu có sự đáng tin thì sự tích Ông Hoàng Bảy được kể lại như sau:
Vào thời Lê ( niên hiệu Cảnh Hưng 1740- 1786), tại vùng Bảo Hà và biên cương phía Bắc. giặc Trung Quốc tràn sang cướp phá, còn các tù trưởng ở đây thì đánh phá lẫn nhau, khiến cho tuyến đầu Tổ quốc lâm nguy bởi thù trong giặc ngoài. Vì vậy, Triều đình đã của một danh tướng tên là Nguyễn Hoàng Bảy lên trấn thủ biên ải.
Đối với giặc ngoại xâm, Tướng Nguyễn Hoàng Bảy đánh đâu thắng đó, phá tan thế giặc ngoại xâm. Đối với nội bộ, Tướng Nguyễn Hoàng Bảy đã có công chiêu dụ các thổ ti, tù trưởng, thổ hào quanh vùng đoàn kết quanh ông thanh một khối đoàn kết thống nhất. Bảo Hà trở thành một căn cứ quân sự lớn bảo vệ biên ải của Tổ quốc.
Ông đã được các triều vua phong tặng mỹ tự: “Trần An Hiển Liệt” và “Thần Vệ Quốc”. Trong một trận chiến không cân sức sau này, ông đã anh dũng hy sinh. Thân xác ông trôi dạt vào đất Bảo Hà ngày nay. Nhân dân ngậm ngùi thương nhớ và đã lập đền thờ ông.
Như vậy, Quan Hoàng Bảy là một nhân thần, hay một nhân vật lịch sử có thật được thần thánh hóa là con trai của Vua Cha Bát Hải Động Đình và là ông Hoàng thứ bảy trong Tứ Phủ Thánh Hoàng. Tuy vậy, cũng chưa có tài liệu chính thống nào khẳng định về thân thế của Ông Hoàng Bảy.
Đền Quan Hoàng Bảy ở đâu?
Đền thờ Ông Hoàng Bảy được lập tại xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giáp ranh tỉnh Yên Bái. Đây chính là nơi năm xưa di hài của ông lưu lại là Đền Bảo Hà, nằm ở chân đồi Cấm, bên bờ thượng lưu sông Hồng, ở bên bến phà Trái Hút, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Vì thú chơi phong lưu của ông nên nơi ông ngự còn được mệnh danh là Trái Hút Bảo Hà.
Đền Quan Hoàng Bảy có quang cảnh thiên nhiên “trên bến dưới thuyền” đẹp đẽ. Phía tả ngạn là dòng sông Hồng cuồn cuộn chảy. Còn bên hữu ngạn là một hồ rộng, tạo cho nhà đền cảnh đẹp trữ tình.
Ngôi đền Bảo Hà được xây dựng vào cuối đời Lê (niên hiệu Cảnh Hưng). Ông đã được các triều vua phong tặng mỹ tự: “Trần An Hiển Liệt” và “Thần Vệ Quốc”.
Ngày tiệc chính của ông là ngày 17/7 âm lịch. Thông thường, vào ngày này, ở đền ông tấp nập du khách thập phương đến dâng ông ngựa xám, bàn đèn, thuốc cống, kẹo xìu (kẹo lạc)… để cầu tài cầu lộc.
Tại sao khi lễ Quan Hoàng Bảy hay dâng trà Ô Long và thuốc phiện?
Để có thể thu phục được các thổ ti, tù trưởng thì Tướng quân Nguyễn Hoàng Bảy không chỉ dùng biện pháp quân sự mà còn bằng sự thu phục nhân tâm. Để thu phục nhân tâm ông đã chủ động hòa nhập vào cuộc sống của các tù trưởng thô ti như uống trà, đánh bạc, hút thuốc phiện…. Có lẽ vì vậy, cứ nói đến ông Hoàng Bảy là chúng ta nghĩ đến một vị quan ăn chơi bậc nhất trong các vị thánh.
Tuy vậy, sự ăn chơi của ông không phải là thú vui của ông mà chính là cách ông tiếp cận với các thổ ti, tù trưởng và sau đó cảm hóa họ để tạo nên sự đoàn kết và ổn định biên cương tổ quốc.
Người đời sau đã lầm tưởng ông Bẩy là nhân vật ăn chơi, nghiền cả mấy cái thói quen đánh bạc, uống trà, hút thuốc phiện. Cũng vì điều này mà dân chơi thời nay, đã vô tình làm xấu đi danh tiếng lẫy lừng của ông. Có rất nhiều kẻ ham lô đề cờ bạc, chắn cạ, hút hít lại đổ thừa do mình có căn ông Bẩy nên mới sa ngã như thế.
Do đó, khi hầu ghế ông, các đồng chỉ nên dâng trà, thuốc, còn dâng thuốc phiện là phạm pháp.
Quản cai quý địa Bảo Hà
Ông Thần Vệ Quốc chính là tích xưa
Giặc kia tàn bạo khó ưa
Tay Ông dẹp loạn, cho vừa lòng dân
Sắc phong chính quán đẳng thần
Man, Di, Thổ, Mán ân cần hàng quy
Văn tài, võ lược ai bì
Tù trưởng chiêu dụ, lên thì phê pha
Dẹp tan bạo loạn sơn hà
Người ghen, kẻ quý nên là tiếng tăm
Cứ vào tháng bẩy hàng năm
Muôn dân tưởng nhớ ghé thăm Tiệc Hoàng
Bảo Hà phong cảnh uy quang
Trên thuyền dưới bến, rõ ràng đẹp thay
Cảnh tiên trái hút ai bày
Kẹo dìu, thuốc cống làm say lòng người
Ông Bẩy nhoẻn miệng thật tươi
Sơn lâm vừa ý, tươi cười ban khen
Dâng ông ngựa xám, bàn đèn
Canh hầu tấp nập, tiếng kèn, trống rung
Ông Bẩy nức tiếng Đông Cung
Oai phong lẫm liệt, uy hùng nước Nam
Đôi khi dạo cảnh Quan Tam
Có khi dạo cảnh sông Lam chấm đồng
Cầm hèo cưỡi ngựa núi sông
Đông tây nam bắc thần thông phép màu
Dâng Ông điếu thuốc quả cau
Dâng Ông ấm nước, trà tàu hầu Ông
Ghế Ông Ông độ hanh thông
Ông đi tấu đối, công đồng ban khen
Ghế Ông sống đức chẳng hèn
Thâm tâm trong sáng như sen độ đời
Ghế Hoàng hỉ xả nơi nơi
Đồng sang bóng sáng, đất trời mến yêu
Ghế Hoàng Hoàng độ mọi điều
Quanh năm hưởng lộc, sớm chiều ấm no
Bảo Hà cảnh đẹp quanh co
Nhất tâm kính lễ, thầy trò đều vui
Thơ: Phạm Văn Hải
Đến ông Hoàng Bảy xin lô đề?
Vốn để thờ vị tướng có công đánh giặc yên dân; nhưng không rõ từ bao giờ đền ông Hoàng Bảy đã trở thành địa điểm xin “lô đề”. Nhiều người đã chứng kiến tận mắt; tai nghe rõ ràng từng câu xin lộc ông Hoàng Bảy của “dân số má” rằng: “Cầu xin ngài cho con đánh lô trúng lô; đánh đề trúng đề; buôn bán trót lọt; ít qua ít; nhiều qua nhiều…”.
Đến đỉnh điểm, đền Bảo Hà thậm chí phải có biển đề: Cấm mang thuốc phiện vào đền. Nhiều người lạ đến đền ông Hoàng Bảy không khỏi ngỡ ngàng khi thấy những biển hiệu “Cấm mang thuốc phiện vào đền” treo từ ngoài cổng đến bên trong đền.
Trước đây khi thuốc phiện còn phổ biến; một số người “số má” có thói quen dâng lễ bằng thuốc phiện. Họ mang cả thuốc phiện và bàn đèn vào đền dâng ông Hoàng Bảy để mời thánh xin lộc. Ban quản lý đền buộc phải có biển cấm và theo dõi sát những đối tượng khả nghi để kịp thời ngăn chặn.
Con xin tu học theo hoàng
Buông hết sân hận không màng sắc danh
Con xin Buông bỏ đành hanh
Không làm việc ác, việc lành con theo
Bao nhiêu lầm lỗi đã gieo
Xin hoàng đánh khẽ, cây “hèo” nhẹ tay
Hoàng về dạy bảo cho hay
Cho con vững bóng ngày ngày vững tâm
Hoàng về ban lộc sơn lâm
Con thơ chớ phạm lỗi lầm nghe con
Phải luôn nhớ chữ “sắc son”
Tu tâm tích đức vuông tròn kiếp tu
Đối nhân xử thế hoà nhu
Hoàng về ban lộc chu viên gia đình
Con ơi hãy nhớ chữ tình
Độ nhân độ thế độ mình nghe con
Rửa tiếng oan cho ông Hoàng Bảy..
Khi chúng tôi phỏng vấn một số chuyên gia tâm linh, về hiện tượng vì sao lại có nhiều người xin lô đề tin là xin được, và thậm chí trên thực tế có người xin được, thì họ có chia sẻ rằng:
Thời mạt kiếp, vạn ma loạn phá, vạn quỷ loạn danh, những vong linh lấy danh nghĩa “ông Bảy” để “nhập đồng” đã thể hiện những phong thái hút thuốc, uống rượu, chơi tổ tôm, ăn chơi…thì đều là vong linh loạn thế mượn lễ “hầu đồng” để thỏa mãn dục vọng chốn trần gian…Thân người là quý giá, khi thực sự Ông Hoàng Bảy không thể “nhập” để “ăn chơi”, thì chỉ có ma nhập mượn danh ông để hành thân xác người phàm mà thôi…Thế nhân hãy thanh tỉnh nhớ lấy lời dặn của Ông:
Chữ cương thường treo cao giá ngọc
Chữ công dung tứ đức khuyên di
Hay:
Ai mất chữ Tâm thời tội phải mang
Lưới trời ở khắp bốn phương
Hại nhân nhân hại khôn đường thoát thân
Tamlinh.org

NGŨ VỊ TÔN QUAN LÀ AI?Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, chúng ta thường hay nghe thấy ngũ vị tôn quan. Vậy Ngũ Vị...
07/10/2022

NGŨ VỊ TÔN QUAN LÀ AI?
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, chúng ta thường hay nghe thấy ngũ vị tôn quan. Vậy Ngũ Vị Tôn Quan là ai? Quyền phép, thần tích và văn khấn Ngũ vị Tôn Quan như thế nào? Ngũ Vị Tôn Quan hiện được thờ ở những đâu?
Ngũ Vị Tôn Quan còn được gọi là Ngũ Vị Tôn Ông hay Ngũ Vị Quan Lớn, đây là 5 vị đại quan có vai trò rất quan trọng trong hệ thống Tứ Phủ Công Đồng
1.Quan Lớn Đệ Nhất:
Quan Lớn Đệ Nhất Thượng Thiên. Hay còn gọi là Đệ Nhất Tôn Ông. Quan lớn vốn là con trai cả của Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, được coi là Ông Lớn cai quản Thượng Thiên. Tương truyền ông là Tôn Quan Đại Thần trên Đế Đình Thiên Cung, được sắc phong ngôi Thượng Thiên Nhất Phẩm Công Hầu, quản cai tam giới đình thần văn võ. Nhưng ông không giáng trần.
Quan Đệ Nhất cũng ít khi về ngự đồng, chỉ những dịp có đại sự như: mở phủ, tạ phủ, hầu xông đền xông điện thì quan mới về ngự đồng. Khi ngự đồng, ông mặc áo đỏ thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp trạng mã. Thông thường khi khai đàn mở phủ, người ta phải thỉnh Quan Đệ Nhất về chứng đàn Thiên Phủ (Thượng Thiên: đàn gồm có long chu phượng mã (ngựa và thuyền rồng) … tất cả đều màu đỏ).
Do không giáng trần nên Quan Lớn Đệ Nhất không có đền và ngày tiệc chính, nhưng ở trong bất cứ đền nào cũng có tượng ông, ngồi giữa trong Năm Tòa Ông Lớn, mặc áo bào đỏ, đội mũ cánh chuồn. Khi ông ngự đồng văn thường hát:
“Hương một chiện chín lần soi thấu
Dãi lòng trần khải tấu linh thông
Thỉnh mời Đệ Nhất Tôn Ông
Lai lâm trắc giáng điện trung oai hùng”
Hay cũng có hát rằng:
“Anh linh lục trí thần thông
Quyền cai tam giới uy phong phép màu
Thượng Thiên xa giá lên chầu
Khâm ban sắc chỉ Công Hầu ra uy”
2.Quan Lớn Đệ Nhị:
Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn. Hay còn gọi là Quan Đệ Nhị Giám Sát (có một số người gọi là Quan Thanh Tra Giám Sát). Quan lớn vốn là con trai thứ hai của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông theo lệnh Vua Cha, hạ phàm đầu thai vào Hoàng Cung (có sách nói là ông hạ phàm ngày mồng ba tháng mười một năm Ất Dậu vào một nhà quý tộc) ngày mồng mười tháng mười một năm Bính Dần
Ông là người văn võ toàn tài, thông minh chính trực, được khắp muôn nơi ngưỡng mộ, các vương tôn công tử đều thuận tình đến làm học trò. Đến khi về chầu Thiên Đình, ông lại được giao quyền giám sát quản cai Sơn Lâm, Thượng Ngàn, ông giáng thế ban phúc cho dân, khi dân chúng bị hạn hán, cầu đảo ông thì lập tức có mưa thuận gió hòa.
Quan Đệ Nhị là một trong ba vị quan lớn rất hay ngự về đồng (kể cả trong những ngày tiệc vui). Khi ngự đồng, ông mặc áo xanh ( xanh la hay xanh lá cây) thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ và múa kiếm (cách hầu Quan Giám Sát thì có nơi múa đôi kiếm, có nơi múa một kiếm, có nơi lại múa một kiếm một cờ).
Cũng như Quan Đệ Nhất, khi khai đàn mở phủ, người ta thỉnh Quan Đệ Nhị về chứng đàn Nhạc Phủ (Thượng Ngàn: đàn mã đều màu xanh). Ngoài ra vào những dịp đại lễ (như mở phủ khai đàn, tạ phủ…), trước ngày làm lễ, người ta thường thỉnh Quan Đệ Nhị về thanh tra giám sát đàn mã đền phủ.
Quan Giám Sát được thờ ở hai nơi chính là: Đền Quan Giám ở trên huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (là nơi quan trấn giữ miền Sơn Lâm) và Đền Quan ở Phố Cát, Thanh Hóa (là nơi quan giáng hạ dạo chơi) và ngày tiệc chính của ông là ngày 10/11 âm lịch (là ngày hạ phàm của quan). Vì vậy trong khi quan ngự văn có hát rằng:
“Nhác trông lên tòa vàng san sát
Không đâu bằng Phố Cát, Đồi Ngang”
Hay để ca ngợi tài trí của Quan Giám Sát, văn hát rằng:
“Phép quan giá vũ đằng vân
Khắp muôn công tử xa gần làm tôi
Trời làm đại hạn nắng nôi
Kiều quan đảo vũ một thôi giờ Dần
Lệnh sai Hà Bá, Thủy Thần
Tự nhiên dâng nước xoay vần mưa sa”
Hay khi nói về điển tích của ông cũng có văn rằng:
“Năm Bính Dần mồng mười tháng một
Thái Hậu bà sinh giáng tôn quan”
3.Quan Lớn Đệ Tam:
Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ. Hay còn gọi là Tam Phủ Vương Quan (Tam Phủ ở đây không phải là số lượng Phủ mà ý chỉ Thuỷ Phủ là phủ thứ ba trong hàng Tứ Phủ, vậy nên còn có thể gọi là Bơ Phủ Vương Quan). Quan lớn vốn là con trai thứ ba của Vua Cha Bát Hải Động Đình, là người rất được vua cha yêu quý nên giao quyền cai quản chốn Long Giai Động Đình, cận bên cạnh phụ vương.
Dưới thời Hùng Vương, theo lệnh vua cha, ông cùng hai người em (có sách nói là hai người thân cận) lên giúp Vua Hùng chỉ huy thuỷ binh, lúc này ba vị giáng ở đất Hà Nam, được nhân dân tôn thành “Tam Vị Đại Vương”, trong đó, Quan Đệ Tam là người anh cả trong ba người. Nhưng lại có điển tích nói rằng, chỉ có một mình Quan Tam Phủ giáng trần vào nhà quý tộc dưới thời Hùng Vương, ông trở thành vị tướng quân thống lĩnh ba quân thuỷ lục. Sau đó trong một trận quyết chiến, ông hy sinh (phần thượng thân (đầu) và hạ thân (mình) trôi về hai bên bờ con sông Lục Đầu).
Ông hoá đi, về chầu Long Cung, là người cầm cân nảy mực, thông tri Tam Giới, quyền cai các thanh đồng đạo quan (vậy nên có khi người ta còn gọi là Ông Cai Đầu Đồng). Khi thanh nhàn ông truyền ba quân tập hợp thuyền bè, dạo chơi khắp miền, trên sông dưới suối, phù hộ cho ngư dân.
Hầu như những người đã ra hầu Tứ Phủ, khi hầu hàng Quan Lớn, ai cũng phải hầu về Quan Đệ Tam. Có thể coi ông là vị Quan Lớn tài danh hàng đầu. Khi ngự đồng, ông mặc áo trắng thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp và ông múa đôi song kiếm. Khi có đại tiệc khai đàn mở phủ, người ta thỉnh quan về chứng đàn Thoải Phủ (gồm có long chu phượng mã, lốt tam đầu cửu vĩ…: tất cả đều màu trắng).
Trong hàng quan lớn, vì danh tiếng bậc nhất nên Quan Lớn Đệ Tam cũng được lập đền thờ phụng ở khắp nơi. Nhưng đầu tiên phải kể đến Đền Lảnh Giang ở Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam (gần Hưng Yên) tương truyền là nơi hạ thân của ông trôi về, sau đó phải nói đến Đền Xích Đằng cũng thuộc Hà Nam (hai ngôi đền này chỉ cách nhau cây cầu Yên Lệnh nối hai bờ sông Lục Đầu) là nơi thờ thượng thân của ngài.
Ngoài ra còn có Đền Cửa Đông tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (gần Đền Mẫu Thoải), Đền Lâm Du thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội và Đền Tam Kì thuộc thành phố Hải Phòng (gần bến xe Tam Bạc). Ngày tiệc của Quan Bơ Phủ là ngày 24/6 âm lịch (tương truyền là ngày đản nhật giáng sinh của ông). Vậy nên trong văn hát câu rằng:
“ Đản hai tư tháng sáu xưng thần
Khắp Trung, Nam, Bắc muôn dân đảo cầu”
Khi ông về ngự đồng, khai quang chứng đàn mã sớ điệp, văn thường hát đoạn:
“Lòng thành thắp một chiện nhang
Tấu về Thoải Phủ các ban các toà
Thiên Đình, Thoải Phủ, Diêm La
Tấu về Thoải Phủ Vua Cha Động Đình
Vốn xưa là chúa Thủy Tinh…”
Ngoài ra để ca ngợi tài đức, công lao của ông, văn cũng hát:
“Giáp bạc bao phen rực lửa hồng
Xông pha trăm trận cũng như không
Ra tay cứu nước trừ nguy biến
Tiếng để ngàn thu với non sông
[…] Gươm thần ba thước tay ngang dọc
Tài dậy trời Tây, chí lấp bể Đông”
Hay khi nói về những cuộc dạo chơi khắp sơn thoải đại giang của ông, văn thường hát theo điệu dọc:
“Chiếc thuyền nan nổi dòng Xích Bích
Đua mái chèo du lịch bốn phương
Có phen tuần thú sông Thương
Trở ra tỉnh Bắc qua giang Lục Đầu
[…] Có phen chơi ngã ba Bạch Hạc
Bạn loan ngồi đàn hát vui chơi
Dạo xem phong cảnh mọi nơi
Qua hang Anh Vũ sang chơi nước người”
Và còn có một đoạn rất hay nói về tài phép của quan:
“Hoá tức thì lâu đài điện các
Dâng nước về Thuỷ Quốc một khi
Có phen lấy ngọc lưu ly
Đùng đùng dâng nước phép thì ai đang”
4.Quan Lớn Đệ Tứ:
Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai. Quan lớn vốn là con trai thứ tư của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Được vua cha giao quyền trấn giữ đồng bằng địa linh, khâm sai tứ phủ (có người cho rằng, trong các quan thì ông trấn ở trung tâm trời đất), tuy thế nhưng ông thường ngự trên Thiên Đình, biên chép sổ sách sinh tử, chầu chực bên bệ ngọc bàn loan. Cũng như Quan Đệ Nhất, Quan Đệ Tứ không giáng trần.
Trong toà quan lớn, Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai ít khi giáng đồng nhất, cũng chỉ khi nào có đại lễ mới thỉnh ông về. Khi ngự đồng ông mặc áo vàng thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương khai quang rồi chứng sớ điệp. Thông thường, khi mở phủ khai đàn, người ta mới hay thỉnh Quan Đệ Tứ về để chứng đàn Địa Phủ (gồm long chu, phượng mã, tượng phục, nghê quỳ (voi và nghê hoặc lân)… tất cả đều màu vàng)
Vì không giáng trần nên Quan Đệ Tứ cũng không có đền thờ riêng mà chỉ được thờ ở hầu hết các phủ đền trong Năm Toà Ông Lớn (ông ngồi bên trái Quan Giám Sát hoặc bên phải Quan Tam Phủ). Còn ngày tiệc ông thì có tài liệu nói là 24/4 (nhưng nguồn tài liệu chưa chắc chắn nên chỉ đưa ra để tham khảo). Khi thỉnh Quan Đệ Tứ văn hay hát là:
“Tiệc bàn loan thỉnh Quan Đệ Tứ
Vốn con trời Thái Tử Thiên Cung
Sắc rồng choi chói vua phong
Quyền Quan Đệ Tứ uy hùng dậy vang”
5.Quan Lớn Đệ Ngũ:
Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh. Hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông cũng giáng dưới thời Hùng Định Vương (Hùng Triều Thập Bát), trong một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương), ông cũng là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thuỷ bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh. Ông đã lập được nhiều công lao to lớn nên được sắc phong công hầu.
Tại quê nhà, ông có cảm tình với một người thiếu nữ xinh đẹp, người thiếu nữ ấy vốn là vợ lẽ của quan huyện ở đó, nhưng vốn không hạnh phúc với cảnh “chồng chung”, nàng cũng đáp lại tình cảm của ông mà không hề nói cho ông biết là nàng đã có chồng. Vậy nên Quan Lớn Tuần Tranh vẫn đinh ninh đó là một tình cảm đẹp, hẹn ngày đưa nàng về làm vợ. Đến khi viên quan huyện kia biết chuyện, vu oan cho ông đã quyến rũ vợ mình. Quan Tuần Tranh bỗng nhiên mắc hàm oan, bị đem đày lên chốn Kì Cùng, Lạng Sơn. Tại đây, ông đã tự sát mong rửa oan, chứng tỏ mình vô tội, ông hoá xuống dòng sông Kì Cùng.
Về lại nơi quê nhà, ông hiện thành đôi bạch xà, thử lòng ông bà nông lão, sau đó được ông bà nông dân nuôi nấng như thể con mình. Nhưng khi quan phủ biết chuyện ông bà nông lão tậu gà để nuôi đôi bạch xà, liền bắt ông bà phải lên cửa công chịu tội và giết chết đôi rắn kia đi. Hai ông bà thương xót, xin thả rắn xuống dòng sông Tranh, lạ thay khi vừa thả đôi bạch xà xuống thì chỗ đó tạo thành dòng xoáy dữ dội.
Đến thời Thục Phán An Dương Vương, vua tập hợp thuyền bè để chống giặc Triệu Đà ở ngay bến sông Tranh, nhưng tại chỗ dòng xoáy đó, thuyền bè không tài nào qua được mà lại có cơn giông tố nổi lên giữa dòng. Vua bèn mời các vị lão làng đến lập đàn cầu đảo thì lập tức sóng yên bể lặng, hơn nữa, quân sĩ ra trận cũng được thắng to. Ghi nhớ công đức, vua Thục giải oan cho ông và phong là Giảo Long Hầu. Sau này ông còn hiển thánh linh ứng, có phép nhà trời, cai quản âm binh, ra oai giúp dân sát quỷ trừ tà, dẹp hết những kẻ hại nước hại dân.
Trong hàng Ngũ Vị Tôn Ông, cùng với Quan Lớn Đệ Tam, Quan Lớn Đệ Ngũ cũng là một vị quan lớn danh tiếng hết sức lẫy lừng, được nhân dân xa gần tôn kính phụng thờ. Tuy trong hàng Năm Toà Ông Lớn, ông được thỉnh cuối cùng nhưng lại hay ngự về đồng nhất (bất cứ ai hầu Tứ Phủ, bất cứ dịp tiệc, đàn lễ nào đều phải thỉnh Quan Tuần Tranh về ngự).
Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao. Khi có đại đàn mở phủ hay bất cứ lễ tiệc nào, sau khi thỉnh các quan lớn về, đều phải đợi đến khi giá Quan Lớn Đệ Ngũ về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ trạng rồi mới được đem đi hoá.
Quan Lớn Tuần Tranh cũng được thờ ở rất nhiều nơi nhưng phải kể đến hai nơi nổi tiếng bậc nhất: đầu tiên là Đền Ninh Giang hay Đền Quan Lớn Tuần Tranh lập bên bến sông (bến đò) Tranh ở Ninh Giang, Hải Dương (là nơi chính quán quê nhà của ông, nơi ông trấn giữ duyên hải sông Tranh, cũng là nơi ông hiển tích) và Đền Kì Cùng lập bên bến sông Kì Cùng, qua cầu Kì Lừa (là nơi ông bị lưu đày).
Ngày tiệc chính của quan là ngày 25/5 âm lịch (là ngày ông bị lưu đày và bảo nhân dân quê ông làm giỗ vào ngày này), ngoài ra vào ngày 14/2, các đền thờ ông cũng mở tiệc đón ngày đản sinh của quan. Trong khi thỉnh ông về, văn thường hát:
“Uy gia lẫm liệt tung hoành
Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài
[…] Ninh Giang chính quán quê nhà
Dấu thiêng ghi để ngã ba Kì Cùng”
Hay nói về nỗi oan của ông, văn hát sử oán rằng:
“Nào ngờ đâu đất trời thay đổi
Người anh hùng mang tội xiềng gông
Tháng năm đày chốn Kì Cùng
Oan vì tuyết nguyệt đổi lòng ái ân
Trước cung điện triều đình tra xét
Bắt long hầu truyền hết mọi nơi
Oan vì bướm lả ong lơi
Triết hoa đoạt vũ tội trời không dung
Lệnh viễn xứ sơn cùng thuỷ kiệt
Nỗi oan này có thấu cao minh
Áo bào đã nhuộm chàm xanh
Tấm thân bách chiến tử sinh lẽ thường ”
Hoặc có cả những đoạn ca ngợi công lao, tài đức của ông:
“Loa đồng hỏi nước sông Tranh
Đao thiêng dẹp giặc, anh hùng là ai
Sông Tranh đáp tiếng trả lời
Anh hùng lừng lẫy là người Ninh Giang”
Còn khi quan ngự đồng, khai quang chứng sớ điệp, ra oai giúp dân trừ tà thì văn hát rằng:
“Ông về truyền phán các quan
Tả cơ hữu đội lưỡng ban đáo đàn
Quân thuỷ quân bộ đôi hàng
Chư binh vạn mã hằng hà kéo ra
Lệnh truyền thiên đội vạn cơ
Quan Tuần bây giờ trắc giáng anh linh
Trước là bảo hộ gia đình
Sau ra thu tróc tà tinh phen này
Ra oai trần thế biết tay
Ngự lên đồng tử cứu rày nhân gian
Cứu đâu thời đấy khỏi oan…”
Và còn những đoạn nói về tài phép của quan lớn, giúp dân hộ quốc:
“Sắc ban phong kiêm chi Tam Giới
Hay tróc tà sát quỷ trừ tinh
Quan Tuần vạn phép muôn linh
Quyền ông cai quản âm binh nhà trời
[…] Lúc bấy giờ ra uy hùng hổ
Nương uy trời cứu hộ sinh nhân
Đùng đùng nổi trận phong vân
Thượng đồng ban dấu giúp dân trừ tà”
Văn khấn trong đền - phủ - điện
Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư phật mười phương. Cung thỉnh chư Thánh, cung thỉnh chư thiên cung tấu thỉnh thiên đình đại đế.
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư phật mười phương.
Cung thỉnh chư Thánh, cung thỉnh chư thiên cung tấu thỉnh thiên đình đại đế.
Con xin sám hối Tam phủ thần vương, tứ phủ thánh đế.
Con xin sám hối Thiên phủ Thánh Đế – Cao thiên Thượng thánh - Đại từ Nhân giả – Huyền khung Cao Thượng đế - Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn.
Con sám hối Nhạc Phủ Thánh Đế – (Tản Viên Sơn Thánh) - ngũ nhạc thần vương – năm phương sơn động.
Con sám hối Thủy Phủ Thánh Đế – (Lạc Long Quân Đại Đế) – Bát Hải Long Vương – tám phương cửa bể.
Con sám hối Địa phủ Thánh Đế - thập điện minh vưong tòa chương địa phủ Bắc Cực Trung Thiên Tam nguyên tam phẩm tam quan.
Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân.
Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú chư bộ thiên binh chư dinh văn võ.
Con sám hối tấu lạy quốc mẫu vua bà bơ tòa tiên thánh tứ phủ Thánh Mẫu:
Kính lạy Cửu trùng thánh mẫu bán thiên công Chúa Thiên tiên thánh mẫu
Kính lạy địa tiên thánh mẫu quỳnh hoa Liễu Hạnh Vân Hương Thánh Mẫu
Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mẫu.
Kính lạy Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cung, Xích Lân long Nữ,Thủy Tinh Công chúa. Kính lạy Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương
Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh Bách vị các quan ngũ vị tôn quan: Quan đệ nhất Thượng Thiên; Quan đệ nhị thượng ngàn; Quan đệ tam thoải phủ; Quan đệ tứ khâm sai; Quan đệ ngũ tuần tranh. Con sám hối điều thất tôn quan - Hoàng triệu tôn quan.
Con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà: Chầu đệ nhất thượng thiên; Chầu đệ nhị thượng ngàn; Chầu đệ tam thủy phủ; Chầu đệ tứ khâm sai; Chầu năm Suối Lân; Chầu sáu Lục Cung ; Chầu bảy Kim Giao; Chầu tám Bát Nàn; Chầu chín cửu tỉnh; Chầu mười Mỏ Ba; Chầu Bé Bắc Lệ; Chầu bà thủ đền.
Con lạy Tứ phủ thánh hoàng thập vị thánh hoàng: sám hối ông bơ thoải quốc động chủ hưng long, ông bảy Bảo Hà, ông mười Mỏ hạc nghệ an.
Sám hối tứ phủ thánh cô: Cô đệ nhất thượng thiên; Cô đôi bồng lai; Cô bơ Thác Hàn; Cô tư tây hồ; Cô năm Suối Lân; Cô sáu Lục Cung; Cô bảy Kim Giao; Cô tám đồi chè; Cô Chín Sòng Sơn; Cô mười Đồng Mỏ; Cô bé sơn lâm; Cô bé bản đền
Sám hối tứ phủ thánh cậu: cậu cả; cậu đôi; cậu bơ; cậu bé đồi ngang.
Con lạy ngũ dinh thần tướng - ngũ hổ thần quan.
Con lạy đại tướng thanh xà - bạch xà tướng quân.
Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.
Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ.
Đệ tử con là:………………………………………. ……………………………
Ngụ tại:…………………………………….…………………………………….
Kim niên kim nguyệt, cát nhật lương thời ….niên…nguyệt…..thời.
Đệ tử con nhất tâm nhất lễ đêm tưởng ngày mong nhất tâm chí thiết nhất dạ chí thành nhất tâm tưởng vạn tâm cầu - tu thiết nhang hoa lễ vật tờ đơn cánh sớ.
Mang miệng tới tâu – mang đầu tới bái – cửa đình thần tam tứ phủ. Trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương – vuốt ve che chở – phù hộ độ trì.
Cho con: ba tháng hè chín tháng đông – đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối. Tứ thời bát tiết – tháng thuấn ngày nghiêu – phong thuận vũ hòa – tai qua nạn khỏi. Mẫu cho con được sáng hai con mắt – bằng hai bàn chân ; Mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm – cho lộc mùa xuân cho tài mùa hạ; Cho tươi như lá cho đẹp như hoa – phúc lộc đề đa tiền tài mang tới. Mẫu cho con lộc ăn lộc nói – lộc gói lộc mở, lộc gần lộc xa; Hồ hết lại có hồ vơi lại đầy – điều lành mang đến điều dữ mang đi; Mẫu cứu âm độ dương cứu đường độ chợ – vuốt ve che chở nắn nở mở mang; Cải hung vi cát cải hạo vi tường – thay son đổ số nảy mực cầm cân
Mẫu phê chữ đỏ Mẫu bỏ chữ đen, cho con được trăm sự tốt vạn sự lành, trên quý dưới yêu, trên vì dưới nể - cho gặp thầy gặp bạn gặp vạn sự lành. Mẫu ban danh bạn diện ban quyền, cho con có lương có thực có ngân có xuyến - tài như xuyên chí lộc tựa vân lai; Cầu tài đắc tài cầu lộc đắc lộc – cầu bình an đắc bình an; Trồng cây đắp phúc cho con được nở cành xanh lá phúc lộc đề đa; Cho trên thuận dưới hòa – trên bảo dưới nghe trên đe dưới sợ. Mẫu cho nước chảy một dòng – thuyền xuôi một bến, bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ; Năm xung Mẫu giải xung – tháng hạn giải hạn; Cho gia trung con được trong ấm ngoài êm, nhân khang vật thịnh duyên sinh trường thọ.
Đệ tử con người trần mắt thịt nhỡn nhục nan chi việc âm chưa tường việc dương chưa tỏ. Tuổi con còn trẻ, tóc con còn xanh ăn, con ăn chưa sạch, con bạch chưa thông. Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời, không biết kêu sao cho thấu, tấu sao cho tường. Con biết tới đâu con tâu tới đấy, ba điều không sảy bảy điều không sai. Trăm tội mẫu xá vạn tội mẫu thương. Mẫu xá u xá mê xá lỗi xá lầm. Mẫu soi đường chỉ lối cho con biết đường mà lội biết lối mà lần.
Hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành, con giàu một bó khó một nén, mong Mẫu gia hộ cho con ạ.
Nam mô vân hương đại từ tôn bồ tát ma ha tát !!!
Cẩn cáo!

Address

266 Thụy Phương Bắc Từ Liêm
Hanoi
100000

Telephone

+84886632262

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhà cô đồng Linh Nguyễn - Kim Ngọc Điện Từ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Nhà cô đồng Linh Nguyễn - Kim Ngọc Điện Từ:

Share

Category