Đạo Trạm - Đạo giáo Việt Nam

Đạo Trạm - Đạo giáo Việt Nam Đạo trạm - Đạo giáo Việt Nam. Nơi hội tụ, chia sẻ, học tập, nghiên cứu nh?

Sư nói: "Phù" (符) nghĩa là hợp (合), là tín (信). Lấy thần của ta hợp với thần của người, lấy linh khí (砼) của ta hợp với ...
12/10/2024

Sư nói: "Phù" (符) nghĩa là hợp (合), là tín (信). Lấy thần của ta hợp với thần của người, lấy linh khí (砼) của ta hợp với linh khí của người. Thần và linh khí vô hình, nhưng hiện hữu qua Phù (符). Khi hành động từ phía ta thì bên kia có ứng, khi cảm từ phía ta thì bên kia có linh nghiệm, không phải nhờ vào Phù hay sao? Trời đã mở ra long hán (龍漢) để khai sáng vũ trụ, kết hợp linh khí (砼) để thành Phù (符). Con người lấy tinh thần (精神) mà đi đến bất kỳ đâu, hạ bút thành Phù (符). Trời và người cùng hợp nhất, cùng theo một lý này. Phương pháp viết Phù (書符之法) không gì khác ngoài việc phát huy diệu dụng của tiên thiên, vận dụng một linh khí (砼) để thành Phù. Tổ sư nói: "Mắt viết thiên triện (天篆), tâm ngộ lôi huyền (雷玄), ban đầu không có suy tưởng, cũng không có tác dụng. Linh ứng thì tự linh ứng, không cần hỏi vì sao linh; ứng thì tự ứng, không cần hỏi vì sao ứng." Con người chỉ biết đến thần kỳ (神) mà không biết tại sao lại thần kỳ.

Người học pháp trong thời hiện đại không hiểu rằng vô vi (無為) mới là chân công, tự nhiên (自然) mới là thượng đạo. Tự mình không sáng tỏ, tự mình không đủ tin tưởng, muốn tìm tòi điều gì là phù khiếu (符竅), điều gì là bút pháp (筆法), nên không thể làm khác, phải sơ lược trình bày yếu tố quan trọng, thực ra chỉ là để ghi nhớ, chứ không phải là giải thích chân lý. Bí quyết (訣) nói rằng: "Trước tiên cần thanh tịnh hoàn toàn, dứt bỏ suy nghĩ, ngưng thần (凝神), khiến tâm thức trở nên rõ ràng, tám phương đều nằm trong ta, thì thần khí quay về, nguyên thần (元神) hiện ra, lúc đó mới có thể cầm bút. Mắt nhìn chăm chú vào đầu bút, nghĩ rằng thần quang (神光) của thân ta xuất phát từ hai con ngươi, hợp lại ở giữa chân mày, như một hạt châu trước mặt, liền biến thành một sợi chỉ vàng, ánh sáng chiếu xuống ngọn bút, rồi theo phương pháp mà viết Phù Chú (篆), tưởng tượng như một con rắn vàng đang bay lượn trên giấy, nhất định phải để bút theo mắt mà xoay, mắt viết thiên triện (天篆), tâm ngộ lôi kinh (雷篇). Tưởng rằng kim quang (金光) dần dần lan rộng, tràn ngập trời đất, tâm niệm Tam Ngũ (三五諱). Nếu triệu tướng mà viết Phù, thì dùng phương pháp triệu chú (召咒) này, hoặc viết chồng các tên hiệu, đều tùy ý vận dụng."

Mặc dù như vậy, nhưng khi chưa hạ bút, linh quang (靈光) đã sáng tỏ khắp trời đất. Người giỏi trong hành trì (行持) càng nên chăm chỉ thực hành ngoài việc dùng bút mực (朱墨).

Huyền Sơ dưỡng thần Đạo diệu (玄初育神道妙). Một tên gọi khác là "Động Tĩnh Huyền Cơ" (動靜玄機), một tên khác là "Điểm Họa Tâm Pháp" (點畫心法).

Theo: Tử Kính (Biên dịch). Đạo Pháp Hội Nguyên, Quyển 4, Chính thống Đạo tạng, Chính Nhất bộ, Đại La Quán xuất bản, Hà Nội, 2024, tr -497

Nguồn gốc của Đạo giáo và Tam Động Tôn Văn, Thất Bộ Huyền Giáo.Nguồn gốc Đạo giáo từ thời Đông Hán phải không?《Thiên Hoà...
02/10/2024

Nguồn gốc của Đạo giáo và Tam Động Tôn Văn, Thất Bộ Huyền Giáo.

Nguồn gốc Đạo giáo từ thời Đông Hán phải không?

《Thiên Hoàng Chí Đạo Thái Thanh Ngọc Sách》nói: "Đạo giáo xuất hiện từ trước cả thời Thái Sơ, Thái Tố, lúc Hỗn Độn chưa khai mở..."

Theo quan điểm thần học, nguồn gốc Đạo giáo sớm hơn thời Đông Hán, từ thời kỳ thiên địa hỗn độn, Đạo giáo đã tồn tại (khi đó vẫn chưa có ai đặt tên gọi Đạo giáo).

Từ trong hỗn độn hư vô, "Đạo" khí diễn hóa thành Tam Nguyên. Tam Nguyên là Hỗn Động Thái Vô Nguyên, Xích Hỗn Thái Vô Nguyên, và Minh Tịch Huyền Thông Nguyên. Từ Tam Nguyên sinh ra ba khí Huyền, Nguyên, và Thủy, rồi Tam sinh vạn vật.

Các vị Thiên Tôn đều được hóa sinh từ Tam Nguyên. Hỗn Động Thái Vô Nguyên hóa sinh ra Thiên Bảo Quân (Nguyên Thủy Thiên Tôn), Thiên Bảo Quân là tổ tiên khai thiên lập địa. 《Đạo giáo Nguyên Lưu Chương》nói: "Khai lập trời đất, bắt đầu tạo ra vạn vật, ắt phải có thần, không thể gọi tên, nên tạm gọi là Nguyên Thủy. Do đó có danh hiệu Nguyên Thủy Thiên Tôn, là tổ tiên khai thiên lập địa." Xích Hỗn Thái Vô Nguyên hóa sinh ra Linh Bảo Quân (Đạo Quân), Minh Tịch Huyền Thông Nguyên hóa sinh ra Thần Bảo Quân (Lão Quân).

Họ cư ngụ tại Tam Thanh Cảnh, lần lượt là Ngọc Thanh, Thượng Thanh, và Thái Thanh. Tam Thanh Cảnh còn được gọi là Tam Thanh Thiên, gồm Thanh Vi Thiên, Vũ Dư Thiên, và Đại Xích Thiên. Thiên Bảo Quân ở Ngọc Thanh Cảnh, Thanh Vi Thiên; Linh Bảo Quân ở Thượng Thanh Cảnh, Vũ Dư Thiên; Thần Bảo Quân ở Thái Thanh Cảnh, Đại Xích Thiên.

《Cửu Thiên Sinh Thần Chương Kinh》nói: "Ba danh hiệu này tuy khác nhau, nhưng thực chất là một. Ba vị quân chủ này đều là giáo chủ của Đạo giáo, tức là Tam Động Tôn Thần. Ba Động đó là Động Chân, Động Huyền, và Động Thần."

Tam Động Tôn Kinh đại diện cho ba vị Thiên Tôn giảng kinh thuyết pháp. Thiên Bảo Quân là giáo chủ Động Chân, Linh Bảo Quân là giáo chủ Động Huyền, Thần Bảo Quân là giáo chủ Động Thần.

Thiên Bảo Tôn giảng dạy 12 bộ 《Động Chân Kinh》, truyền dạy Cửu Thánh Thiên Trung, thuộc về Đại Thừa Đạo. Linh Bảo Tôn giảng dạy 12 bộ 《Động Huyền Kinh》, truyền dạy Cửu Chân Thiên Trung, thuộc về Trung Thừa Đạo. Thần Bảo Tôn giảng dạy 12 bộ 《Động Thần Kinh》, truyền dạy Cửu Tiên Thiên Trung, thuộc về Tiểu Thừa Đạo.

Mỗi Động có 12 bộ kinh, tổng cộng Tam Động hợp lại thành 36 bộ Tôn Kinh. Kinh 《Thái Huyền Kinh》 hỗ trợ Động Thần Bộ về kim đan tiên nghiệp; 《Thái Bình Kinh》 hỗ trợ Động Huyền Bộ về chân nghiệp dưới mười bộ; 《Thái Huyền Kinh》 hỗ trợ Động Chân Bộ về 《Ngũ Thiên Văn》 dưới Thánh nghiệp. Tam Phụ cộng với Chính Nhất Minh Uy thông hợp lại thành Thất Bộ. Vì vậy gọi là Tam Động Tôn Văn, Thất Bộ Huyền Giáo.

Hệ thống kinh sách Đạo giáo hình thành không thể thiếu sự đóng góp của Tổ Sư Gia Lục Tu Tĩnh. Ông đã tổng hợp và biên soạn lại tất cả các kinh sách Đạo giáo trước đó, phân loại theo hệ thống Tam Động, biên soạn thành bộ mục lục kinh sách đầu tiên của Đạo giáo 《Tam Động Kinh Thư Mục Lục》.

Tam Động Tôn Văn ban đầu là dạy cho thần tiên trên trời, vậy làm thế nào để chúng hạ xuống để giáo hóa con người? Theo ghi chép kinh văn, Tam Động Tôn Văn không hạ xuống một lần, mà theo từng đợt, mỗi khi đến cuối kiếp và đầu kiếp mới, sẽ truyền giáo giảng kinh, để độ nhân thiên.

Nguyên Thủy Thiên Tôn giảng kinh trên trời, ghi chép dưới hình thức "Long Chương Phượng Triện," người phàm không thể hiểu được loại văn tự này. Sau đó, Thiên Hoàng Chân Nhân đã chuyển hóa thành văn tự mà con người có thể hiểu, và việc giáo hóa bắt đầu từ đó. Người truyền đạo dưới nhân gian là Lão Quân Gia, ông tìm kiếm những người thích hợp để truyền kinh truyền đạo vào các thời kỳ khác nhau, như Hoàng Đế, Phục Hy, Toại Nhân thị...

Tại sao Tam Động Tôn Văn lại chia thành giáo pháp Tiểu, Trung, Đại Thừa? Nó đại diện cho tiến trình và thứ bậc của tu luyện.

Kinh văn ghi: "Người tu học ban đầu mới bước vào hàng tiên, đến cảnh giới Vô Lụy, nên giáo pháp ban đầu gọi là Động Thần Thần Bảo. Sau đó trí tuệ dần dần tinh thông, tiến vào cảnh giới Trung, nên giáo pháp trung cấp gọi là Động Huyền Linh Bảo. Khi đạt đến cảnh giới cao nhất, trí tuệ vô ngại, giáo pháp cao cấp gọi là Động Chân Thiên Bảo."

Hiện nay, các loại "đại sư" xuất hiện nhiều vô kể, ai cũng tự phong cho nhau là đại sư. Nhưng thực ra, trong kinh văn có định nghĩa rõ ràng về "đại sư": "Người học thông suốt Tam Động mới được gọi là Đại Sư, còn thông suốt một hoặc hai Động thì chỉ là Tiểu Sư mà thôi."

Thực tế, hiện tại rất nhiều người thậm chí còn chưa đạt tới Tiểu Sư.

《Động Huyền Linh Bảo Ngọc Kinh Sơn Bộ Hư Kinh》nói: "Tam giới cửu địa, chu kỳ đại kiếp, vận hành dương 960, tai họa nước lửa, cũng đều được hóa giải bằng Đạo Ngọc Thanh Thượng. Tam Động Chân Kinh, Thần Chân Bảo Văn, Kim Thư Ngọc Tự, Phượng Triện Long Chương, đều trở về cõi trời Đại La Vô Thượng, trong Ngọc Kinh, trên đài Huyền Thất Bảo, không bị ảnh hưởng bởi tai họa. Sau khi trải qua kiếp nạn, hỗn độn phân chia, truyền dạy chân thánh, truyền xuống để giáo hóa nhân gian."

Từ xưa đến nay, đã có nhiều pháp thuật và kinh văn bị thất truyền trong dòng chảy của lịch sử, mọi người hãy trân trọng những gì đang còn lại hiện tại.

Nguồn: Tử Kính. Khái lược lịch sử Đạo giáo, Đại La Quán xuất bản, Hà Nội, 2024, 800 trang.

Cơ cấu tổ chức Ban Liên Lạc Hiệp hội nghiên cứu Đạo giáo Việt Nam
12/07/2024

Cơ cấu tổ chức Ban Liên Lạc Hiệp hội nghiên cứu Đạo giáo Việt Nam

HIỆP HỘI

Hôm nay, 18 tháng 03 Thánh đản HẬU THỔ NƯƠNG NƯƠNGHậu Thổ là một vị tôn thần quan trọng trong truyền thống Đạo giáo và c...
26/04/2024

Hôm nay, 18 tháng 03 Thánh đản
HẬU THỔ NƯƠNG NƯƠNG

Hậu Thổ là một vị tôn thần quan trọng trong truyền thống Đạo giáo và cả các tín ngưỡng dân gian. Trong Đạo giáo, Ngài toàn xưng là Thừa Thiên Hiệu Pháp Hậu Thổ Hoàng Địa Chi hay Hậu Thổ Chưởng Kiếp Thiên Tôn. Dân gian thường gọi Hậu Thổ Nương Nương, Địa Mẫu, v.v... Hậu Thổ là vị án ngự nơi đất đai đại địa, nuôi dưỡng quần sinh, được tôn “Vạn vật chi chủ, Hậu Thổ Hoàng Địa Chi”.
Hậu Thổ hợp với Bắc Cực Tử Vi Đại Đế, Nam Cực Trường Sinh Đại Đế, Thiên Hoàng Câu Trần Đại Đế xưng “Tứ Ngự Tứ Hoàng Đại Đế Kim Dung Ngọc Tướng Thiên Tôn”. Hậu Thổ chưởng quản sơn nhạc thổ địa, cho đến các vị sơn thần, thậm chí năng quyền ảnh hưởng đến Ngũ Nhạc, lại có thể tiết chế kiếp vận vạn sự. Nếu Ngọc Hoàng Đại Đế chủ tể thiên giới, thì Hậu Thổ Hoàng Địa Chi phụ tá đấng trời chủ tể đại địa sơn xuyên.

Từ thời Tần-Hán về sau, Hậu Thổ đã là một tín ngưỡng quan trọng và phổ biến. Cho đến triều Tống, trong “Tống sử - lễ chí” nói: Tống Huy Tông năm Chính Hoà thứ sáu, vào tháng chín, phong hiệu xưng vị cho Địa Chủ, viết Thừa Thiên Hiệu Pháp Hậu Đức Quang Đại Hậu Thượng Hoàng Địa Chi”, quy mô cử hành đại điển tế lễ như quy cách với lễ Ngọc Hoàng. Trương Quân Phòng trong “Vân Cấp Thất Thiêm” nói: Tam Thập Lục Thượng Hoàng, trên ứng Tam Thập Lục Thiên, giữa Tam Thập Lục Quốc. Thổ Hoàng giai vị như danh hiệu Ngọc Hoàng.

Tín ngưỡng thờ phụng Hậu Thổ thể hiện rõ nét sự hàm ơn trong tâm thức người Á Đông. Con người ăn trên đất, ở trên đất, xây dựng, làm lụng, phát triển sinh sôi cũng dựa vào đại địa, đến mức có nơi sở hữu truyền thống “nhập thổ vi an” khi thác xuống. Theo đó, con người thầm mang tư tưởng nhớ ơn, kính trọng, tri ân về đức dưỡng dục nơi đất đai trù phú vậy!

Chí tâm quy mệnh lễ
Cửu hoa ngọc khuyết, thất bảo hoàng phòng.
Thừa thiên bẩm mệnh chi kì, chủ âm chấp dương chi bính.
Đạo thôi tôn nhi hàm hoằng quang đại,
đức sổ súc vu nhu thuận lợi trinh.
Hiệu pháp hạo thiên, căn bản dục khôn nguyên chi mĩ.
Lưu hành phẩm vật, sinh thành thi mẫu đạo chi nhân.
Nhạc độc thị y, sơn xuyên hàm trượng.
Đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ.
Thừa thiên hiệu pháp, hậu thổ hoàng địa kì.

Thông báo học tập nghiên cứu Khoa Địa lý phong thủy
18/10/2023

Thông báo học tập nghiên cứu Khoa Địa lý phong thủy

TẠI SAO TRONG THÁNG 7 “QUỶ NGUYỆT” DỄ DÀNG HƠN ĐỂ NHÌN THẤY MA? (PHƯƠNG PHÁP HÓA GIẢI)
04/08/2022

TẠI SAO TRONG THÁNG 7 “QUỶ NGUYỆT” DỄ DÀNG HƠN ĐỂ NHÌN THẤY MA? (PHƯƠNG PHÁP HÓA GIẢI)

TRẢ NỢ TÀO QUAN THEO QUAN NIỆM ĐẠO GIÁO(Bài viết theo tín ngưỡng Tôn giáo - Đạo giáo)Chia sẻ công đức vô lượng (chia sẻ ...
28/03/2022

TRẢ NỢ TÀO QUAN THEO QUAN NIỆM ĐẠO GIÁO
(Bài viết theo tín ngưỡng Tôn giáo - Đạo giáo)
Chia sẻ công đức vô lượng
(chia sẻ không nhất thiết phải dẫn nguồn)

TRẢ NỢ TÀO QUAN (NỢ ÂM SINH - THỤ MỆNH)

LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNGCỦA CHẾ ĐỘ THỤ LỤC ĐẠO GIÁO CHÍNH NHẤT PHÁIChia sẻ công đức vô lượng
24/03/2022

LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG
CỦA CHẾ ĐỘ THỤ LỤC ĐẠO GIÁO CHÍNH NHẤT PHÁI
Chia sẻ công đức vô lượng

LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG

ĐẠO GIÁO THẦN TIÊN PHÂN PHẨM CẤP, THỨ TỰ NHƯ THẾ NÀO? TIÊU CHÍ CHÍNH LÀ GÌ?Tín chúng chia sẻ, công đức vô lượng
23/03/2022

ĐẠO GIÁO THẦN TIÊN PHÂN PHẨM CẤP, THỨ TỰ NHƯ THẾ NÀO? TIÊU CHÍ CHÍNH LÀ GÌ?

Tín chúng chia sẻ, công đức vô lượng

ĐẠO GIÁO THẦN TIÊN PHÂN PHẨM CẤP,

TU HÀNH PHẢI NGHE KINH THÍNH PHÁP, HỌC TẬP KINH ĐIỂN NHƯ THẾ NÀO MỚI CÓ THỂ PHÁT HUY HIỆU QUẢ LỚN NHẤT?Đại La QuánTrong ...
22/03/2022

TU HÀNH PHẢI NGHE KINH THÍNH PHÁP,
HỌC TẬP KINH ĐIỂN NHƯ THẾ NÀO MỚI CÓ THỂ PHÁT HUY HIỆU QUẢ LỚN NHẤT?

Đại La Quán

Trong việc tu luyện Đạo giáo hàng ngày, người phụng đạo đặc biệt chú ý đến công đức của "nghe kinh thính pháp". Như tên gọi của nó, nghe kinh nghe pháp có nghĩa là lắng nghe và học hỏi nhiều kinh điển được truyền lại bởi tổ sư, và từ kinh văn đạo tạng để tìm hiểu sự thật có lợi cho việc tự tu hành. Trong đạo giáo xưa nay đều sùng bái kinh công hạo lực, cho rằng trong quỳnh thư bảo tạng kinh điển ẩn chứa rất nhiều mật yếu tu chân. Bất luận là tiểu đạo đồng bắt âầầu nhập quan tu đạo, hay là lão tu hành đã có chút thành công, đều đối với vô thượng kinh bảo hết sức giữ gìn cung kính. Đạo giáo kinh điển chia làm tam động, tứ phụ, thập nhị loại, lại có liệt vị thần tiên tổ sư giảng kinh ôôi khi bất đồng pháp môn, cái này rất dễ khiến người học đạo sinh ra mê hoặc, khiến cho hoang mang không biết chọn bộ kinh điển nào mới thích hợp cho mình học tập?
Trong quá trình tu đạo, tìm được một bộ kinh điển chân chính thích hợp với mình tu luyện cũng không dễ dàng. Mọi người ở các giai đoạn tu hành khác nhau, nhận thức về cùng một bộ kinh điển cũng sẽ có sự khác nhau. Vì vậy, không cần phải băn khoăn những loại kinh điển phù hợp với chính mình, thực sự đáng suy nghĩ và phản ánh, nhưng phải học cách chuyển đổi nội dung nghe kinh thành việc dự trữ kiến thức của riêng mình, và có thể sử dụng kiến thức lý thuyết trong thực hành. Câu hỏi học kinh điển nào về cơ bản là làm thế nào để sử dụng nó.
Học đạo kinh vốn nằm ở sự hiểu biết rõ ràng, sở dĩ bởi vậy mà sinh ra hoang mang, cũng bởi vì lòng tham si không qua cửa ải bến đạo ban đầu, vì thế rất khó tìm thấy ở trong kinh văn một công phu sâu sắc.
Theo chúng tôi, có hai quan điểm như sau để nói lên những điều cấm kỵ của việc học tập đạo kinh, việc này đáng để tất cả đồng tu có thể tham khảo:
Thứ nhất, học kinh kiêng kỵ nhất là tham nhiều mà không cầu giải thích ý nghĩa ngôn từ của kinh điển ẩn chứa sâu sắc trong lời kinh. Điều này được thể hiện rất rõ ràng trong những người mới bắt đầu nhập đạo, đặc biệt không có sư phụ chỉ dẫn, lại càng thêm mê lầm.
Bởi lẽ, vừa mới tiếp xúc với tôn giáo, nhất là khi nhìn thấy rất nhiều người đem đại đạo vốn là huyền diệu giải thích huyền diệu lại đầy tính huyền bí, sâu sa. So sánh với nhau liền dễ dàng sinh ra tâm lý hấp tấp, vội vàng. Cho rằng bất luận là kinh điển gì cũng nên nắm chắc. Khi đối mặt với một câu kinh thánh mới, người học đạo không thể giống như người đói nhìn thấy thức ăn, lại càng không thể tham lam mà ôm hết kinh điển để rồi không thể tham kinh hết đươc, điều đó như lâm vào bến mê, dễ mà tẩu hoả nhập ma. Nhất là, tình hình thực tế mặc dù có rất nhiều kinh thánh, nhưng không nhất thiết phải đọc hết, nhớ hết; mặc dù đọc không ít di huấn của tổ sư, nhưng cũng không đi vào trong lòng. Đây thật ra là lòng tham trong lòng đang lấn lướt tâm ma. Tư tưởng hướng dẫn cần thiết để thực hành không phải là nhiều hơn là tốt. Ngược lại, tuy rằng tham kinh rất ít, song một quan điểm trong một bộ kinh thánh nhất định có thể được thực hiện một cách kiên trì trong suốt cuộc đời của mình. Trong công cuộc tu hành lấy tu chân, mới gọi là tu hành.
Hiện nay, có rất nhiều người tu đạo thường biện minh: khi tôi bắt đầu học tập kinh thư, tôi không biết phương pháp nào phù hợp, không biết kinh thư nào là phù hợp. Ở đây, theo chúng tôi, mỗi người tự cần phải tìm hiểu mỗi phương pháp nào đó sao cho phù hợp với thể trạng, khả năng nhận thức..., để đưa ra lựa chọn phương pháp đúng đắn. suy nghĩ này có vẻ chính xác. Hoặc tốt nhất là nên có sư phụ chỉ dẫn là nên nhất.
Tiền nhân từng nói đạo giáo "tạp mà đa đoan", đây cũng không phải là giáng chức giáo môn. Trong quá trình phát triển hàng ngàn năm của đạo giáo, dần dần hấp thụ rất nhiều tư tưởng và tín ngưỡng của gia đình, xã hội và thời đại..., và bởi vì mọi người trong việc tu luyện cụ thể có sự khác biệt lẫn nhau và sinh ra nhiều hệ phái. Cho dù đó là biểu hiện của huyền thuật bên ngoài, hoặc sự bùng phát của tư tưởng bên trong, đạo giáo có đặc điểm thời gian khác nhau trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, và thậm chí có những vấn đề thực tế khác nhau giữa nhiều giáo phái. Bởi vậy, nếu một lòng chỉ tham nhiều, lại không biết phân biệt và suy nghĩ, sẽ rất dễ dàng chìm sâu vào mâu thuẫn lý do khác nhau, khiến cho ý niệm tu học nguyên bản thuần nhất bởi vì tâm sinh mê hoặc mà không biết hướng đi sao cho đúng đường đạo. Đem thời gian tu hành quý báu để lãng phí vào việc phân biệt ai đúng ai sai, đây mới là cái hoạ lớn nhất uẩ người tu đạo, do đó mới có câu “Vạn người tu có mấy người thành tiên”.
Thứ hai, nhiều người sau khi học một số điển tịch thánh thư, thường sẽ tự đưa ra khái niệm định hướng trước, sau đó nhìn vào những lời nói khác nhau của người khác. Làm vậy, sẽ dễ dàng bị bó buộc bởi những chấp niệm ban đầu, những “sở tri chướng” cản đuờng tu hành của đạo nhân. Đạo hạnh của đạo nhân có thể tiến bộ hay không phụ thuộc rất nhiều vào tâm trí người học. Học kinh, không phải để cho chúng ta tự cho là đúng và không thay đổi, mà là để tìm hiểu làm thế nào để tích hợp những gì đã học được. Đạo nhân tu đạo mà không biết tiếp thu và bao dung, chỉ một mực tự bản thân là đúng, cho rằng cái thấy từ trước là đúng, cái đang thấy là sai so với cái đã thấy, đây là ma chướng lớn nhất trong quá trình tu học, tự học.
Đạo giáo cho rằng "đạo pháp tự nhiên", mục đích của tổ sư truyền kinh là đem pháp môn đắc đạo chân của mình truyền lại cho hậu thế nghe, hy vọng sau này có thể lấy đó làm gương. Trong truyền thống đạo giáo cho rằng, mỗi một vị tổ sư tu chân đều đáng kính trọng, cũng không phải chỉ có sư thừa nhà mình là chân pháp môn. Học đạo, điều quan trọng nhất là phải hiểu "tự nhiên". lấy ánh mắt của con người ngày nay nhìn lời nói và hành động của tổ sư, tiêu chuẩn thời đại thị phi phán xét đã sớm sinh ra biến hóa, tối mê. Khi ấy, làm sao có thể nói rõ ràng đến tột cùng ai thật ai giả đây? Nếu là đang tìm hiểu thiên địa đại đạo, liền hẳn là hiểu được vạn sự, vạn vật sinh ra đều là đạo hóa kết quả. Kinh bản trước tiên nhập làm chủ nói là nói vậy, lại nhìn các pháp môn khác khi nói tuy không giống với cái biết ban đầu, không thấy giống với pháp môn đang học, song cũng là đạo. Chẳng qua có thể đạo phi đạo, khả danh phi danh, vì sao nhất định phải chấp niệm đến tột cùng ai mới là chính tông đây? ý nghĩ không có ý nghĩa như vậy cùng tu hành tức cũng chỉ là bọn phàm phu, “tầm chương trích cú” u mê, dốt nát. Vẫn chỉ là trốn không thoát danh lợi quẩn quang mà thôi.
Phàm là người phụng đạo phải có một trái tim bao dung và yêu thương muôn loài chúng sinh, để vừa có thể nhìn thấy sự khác biệt giữa hai bên, đồng thời lại đem tập trung vào trong cùng một đạo. Thử tiến hành luận chứng đại đạo từ một bên khác nhau, đây chính là thời cơ tốt để tinh tiến. Nâng cao thái độ đánh giá và học hỏi kiến thức đối với những quan điểm khác nhau, sau khi buông bỏ sự chấp niệm trong lòng, mới phát hiện ra rằng "tất cả thuận hành là tu chân". Trên đường tu, kỳ thật cũng không so đo sai cùng đúng, mà chỉ quan tâm trong trận tu hành này ngươi thể ngộ được bản tính là cái gì, cùng với trong quá trình này có thực tế cảm giác được vui mừng cùng lạnh nhạt của tu đạo hay không.
Vì vậy, thay vì theo đuổi làm thế nào để tìm hiểu các tác phẩm kinh điển là hiệu quả nhất, nó là tốt hơn để đưa vấn đề trở lại nguồn gốc ban đầu, đó là làm thế nào chúng ta có thể làm cho trái tim phức tạp và khó chịu của chúng ta bình tĩnh lại. Trong bụi bặm nhân gian này, mọi người luôn luôn vội vàng để bắt kịp, luôn luôn muốn sử dụng một số loại tiêu chuẩn để định tính sự vật, nhưng cũng cố gắng để đạt được thành công và thu hoạch một cách đơn giản và thuận tiện. Song tu hành hoàn toàn trái ngược với chuyện nhân gian, tu thật sự là muốn loại bỏ tầng dục vọng này trong lòng ta và ngươi, khiến cho tâm niệm vốn thanh tĩnh vô tạp hiện ra. Lấy chân thành làm gương, động chiếu ra chân thật của mình. Thư sơn có lộ cần làm đường, các đời tổ sư lưu truyền đến nay ba động kinh bảo, tức là giúp chúng ta thông qua nội tại chân chính của ta mà tu thấy chân tu, tu thành chính đạo.
Tu hành là một chuyện không thể vội vàng. Tĩnh tâm đọc kinh, học kinh và biến kinh thánh thành lực lượng hành trì, đây còn là giai đoạn tích lực bồi phong. Nếu tâm bình ổn, giả sử thời gian, cuối cùng sẽ có thể nâng đỡ mà lên chính đạo. Khi đó, tất sẽ cảm ơn chính mình hôm nay dụng tâm nghe kinh thính pháp.
Đạo sĩ Tử Kính.
Đại La Quán

http://daogiao.org.vn/tu-hanh-phai-nghe-kinh-thinh-phap-hoc-tap-kinh-dien-nhu-the-nao-moi-co-the-phat-huy-hieu-qua-lon-nhat/

THẦN LỰC CỦA ĐẾ CHUNG (CHUÔNG)  ĐẠO GIÁOĐại La QuánPháp khí đạo giáo nói chung đều có thần lực, là vật thiêng liêng khôn...
21/03/2022

THẦN LỰC CỦA ĐẾ CHUNG (CHUÔNG) ĐẠO GIÁO

Đại La Quán
Pháp khí đạo giáo nói chung đều có thần lực, là vật thiêng liêng không thể thiếu khi đạo sĩ tác pháp hành thiện. Một pháp khí từ phàm tục đến thiêng liêng cũng phải trải qua một số quá trình, làm cho một vật dụng bình thường, vô tri hóa thành pháp khí thiêng liêng. Ở đây, chúng tôi giới thiệu “Đế chuông, hay Tam thanh chuông” một pháp khí quan trọng, không thể thiếu được của các Đạo sĩ. Vậy đế chuông có nguồn gốc từ đâu? các đạo sĩ làm sao có thể ban cho đế chung thần lực?
Theo quan điểm của hiện tượng tôn giáo - Đạo giáo, không gian đạt được sự thiêng liêng thông qua "hiển thánh", và các đối tượng đạt được quá trình từ phàm tục đến thiêng liêng thông qua các vật liệu đặc biệt, như ngày chế tác, luyện phép, v.v. ở đây, chúng ta sẽ thảo luận nội dung liên quan đến đế chuông.
Đầu tiên nhìn vào nguồn gốc của đế chuông, trong sách "Thiên Hoàng Chí Đạo Thái Thanh Ngọc Sách", ghi chép lại nguồn gốc của đế chuông như sau: “Đế chung, Hoàng đế hội thần linh vu côn lôn chi phong, Thiên Đế thụ dĩ đế chung. Đạo gia sở vị, thủ bả đế chung, chấp hỏa vạn lí, lưu linh bát xung thị dã. Thiên đinh chi sở chấp giả. Hựu vị chi hỏa linh.” [Khi hoàng đế tập trung thần linh trên đỉnh núi Côn Lôn, Thiên Đế trao cho Hoàng Đế đế chuông. Đạo giáo nói: "Tay cầm đế chuông , chấp hỏa vạn dặm, lưu linh bát xung là cũng được, Đế chung là pháp khí do Thiên đinh lực sĩ chấp hành, còn gọi là Hỏa linh].
“Đạo Thư Viên Thần Khế" ghi lại: “đế chung,cổ chi tự thần vũ giả chấp nhiêu.Đế chung nhiêu chi tiểu giả nhĩ”. [trong thời cổ đại, người ta bắt chước Thiên đinh lực sĩ mà tạo ra đế chung]
Thần tiên trong Đạo giáo có một số vị sử dụng đế chung để làm thần khí trong việc chế yêu phục ma.
Việc chế tác đế chuông cũng có quy định nhất định. Tuy nhiên, việc ghi chép trong Thiên Bồng Pháp khá đơn giản, chỉ ghi lại việc chế tác và thời gian chế tác của đế chuông. Như đế chuông được đúc bằng đồng và được làm vào ngày 5 tháng 5 và ngày 9 tháng 9. Bốn mặt có khắc văn tự, trên đế chuông có ba đầu chuông tượng trưng cho ba vị Tam Thanh, Tam Bảo. Chức năng của đế chung là khu sơn trấn hải, di động trạch xã, trị nham thạch tri tinh. Đế chung nhằm mục đích triệu mời thần minh hiển thánh trợ giúp đạo sĩ thi hành chính pháp, khai đàn, tụng kinh, khai quang, vẽ phù,....thường bên ngoài, hoặc bên trong đế chng đều khắc hoặc vẽ “đế chung phù”. Việc khắc, vẽ “đế chung phù” nhằm thể hiện khi rung chuông lên thì thần minh hiễn thánh, hạ phàm thần thánh và đế chuông cùng hợp nhất mà tạo nên sự linh ứng khi thi hành xiển pháp. Toàn bộ quá trình này được thực hiện thông qua phép thuật kết hợp cùng chú ngữ làm cho đế chuông được các vị thần gia trì và che chở.
Đế chung chú:
Sơn xuyên bách linh,
Văn ngã tu kinh,
Hạo kiếp đại đạo,
Chiếu thiên chi tinh,
Nhật nguyệt vĩnh cố,
Bách mị thạch thần,
Sơn kích tùy ngã,
Giang hà củng nghênh,
Cấp cấp như luật lệnh!

Thư phù chú:

Hạo thủ tiên ông,ngũ kích đại thần,
Hỏa linh đế chung,pháp thông thiên chân,
Thiên bồng nguyên suất,hám động ngọc thần,
Hộ chung thần lại,cổ chung tương quân,
Tề chung tạo hóa,vô sở bất văn,
Vạn ma diệt tích,bách xuyên phí đằng,
Thượng văn tử cực,hạ cập u minh,
Hà thần bất phục,hà quỷ cảm thính,
Thiên thiên tiệt thủ,vạn vạn tiễn hình,
Ma vô kiền phạm,quỷ vô yêu tinh,
Nhất như cáo mệnh,phong hỏa vô đình,
Cấp cấp như bắc cực đại đế luật lệnh!
Sắc chú
Sơn xuyên bách linh,Ngũ Nhạc tứ minh,
Văn ngã thần chung,vạn quỷ hàm kinh,
Hạo kiếp đại đạo,chiếu sát thiên tinh,
Nhật nguyệt vĩnh cố,bách thần ủng hộ,
Sơn nhạc tùy ngã,giang hà trầm khứ,
Lệnh quan vệ chung,thiên thần vệ chung,
Địa thần vệ chung,Bắc Đế bảo chung,
Thiên bồng trì chung,hỏa linh trực chung,
Thần chung thần chung,hà quỷ cảm đương,
Hám động nhất thanh,vạn tà diệt vong,
Cấp Cấp Như Bắc Cực Đại Đế Luật Lệnh Sắc!

Tóm lại, thông qua loạt chú ngữ này, sẽ giao tiếp giữa đế chuông với các vị thần, làm cho đế chuông có thần lực. Chung phù hình thành xung quanh đế chung, cũng có công dụng hàng yêu phục ma, cùng với hành trình tồn tưởng thư phù.

Đại La Quán

Chia sẻ công đức bất khả tư nghì

SỰ KHÁC NHAU GIỮA ĐẠO SĨ HAI PHÁI ĐẠO GIÁOCHÍNH NHẤT VÀ TOÀN CHÂNĐạo sĩ Đạo giáo có nhiều trường phái khác nhau. Song ch...
21/03/2022

SỰ KHÁC NHAU GIỮA ĐẠO SĨ HAI PHÁI ĐẠO GIÁO
CHÍNH NHẤT VÀ TOÀN CHÂN

Đạo sĩ Đạo giáo có nhiều trường phái khác nhau. Song chủ yếu chia làm hai phái, Chính nhất phái và Toàn chân phái.
Chính Nhất Phái. Đạo sĩ có thể đến cung quán, có thể ở nhà tu hành, có thể cưới vợ thành gia lập nghiệp, ăn mặn, uống rượu,...; Nhính nhất phái đạo sĩ chủ yếu lấy phù chú, trai tiếu, cầu phúc tiêu tai, giáng tà trừ quỷ, siêu độ nhân sinh,... làm hoạt động nghi lễ tôn giáo chính. "Chính nhất" ngụ ý "chính dĩ trị tà, nhất dĩ thống vạn", "chân nhất bất nhị".
Toàn Chân Phái. Muốn trở thành Đạo sĩ, yêu cầu phải xuất gia cư quan tu hành (ở tại cung quán), không cưới vợ, không ăn mặn, không uống rượu, lấy mục đích "tam giáo viên thông", "thức tâm kiến tính", "độc toàn kỳ chân" làm tông chỉ tu luyện, luôn giữ danh phận là "Toàn chân"; Chủ đề tu luyện của Toàn chân phái là: thanh tĩnh vô vi, khứ tình khứ dục, tu tâm dưỡng tính, dưỡng khí luyện đan, cần mẫn, nhẫn nhục nội tu "chân công", lấy truyền đạo tế thế độ nhân làm ngoại tu "chân hành", công hành lưỡng toàn, chứng thánh thành chân, gọi là "Toàn chân".
Quy y Đạo giáo trở thành Đạo sĩ của hai phái Toàn chân phái hoặc Chính Nhất phái, có những điểm tương đồng. Sau khi quy y cùng các hình thức nối tiếp khác do Tổ đình quy đinh, lúc này mới chính thức trở thành Đạo sĩ, hoặc xưng đạo giáo cư sĩ, tín sĩ. Sau khi quy y, vẫn có thể theo đuổi ước mơ, sự nghiệp lập gia, lập nghiệp,...Đương nhiên, Toàn Chân phái và Chính Nhất phái đều có sự phân biệt. Đối với Đạo sĩ Chính Nhất phái có thể ở cung quán, tự miếu, đạo quán,... cũng có thể tu hành tại nhà, có thể cưới vợ thành gia lập nghiệp,...Riêng đối với Đạo sĩ Toàn chân thì không được.
Muốn làm Đạo sĩ, trở thành Đạo sĩ bất luận Toàn chân phái hay Chính nhất phái, việc cải đạo quy y là bước đầu tiên.
Việc cải đạo quy y, ban đầu mới chỉ là cư sĩ đạo giáo, cũng chính là tín đồ, và không phải đạo sĩ. Có rất nhiều người hỏi quy y cải đạo có nghĩa là gì? Chúng tôi xin giới thiệu sơ bộ như sau:
Quy y, cải đạo tức là thay đổi tôn giáo, từ thân phận không theo tôn giáo nào, hoặc đang theo tôn giáo nào đó. Lúc này, do sự cảm mến, hoặc có tiên duyên, nghiệp duyên với đại đạo mà muốn đi theo tìm hiểu, nghiên cứu và mong muốn được dựa dẫm, giúp đỡ, giải thoát trước mọi khổ ải, muốn thay đổi số mệnh “Thiên mệnh”,...mà người bình thường mong muốn được các vị Đạo sĩ tư vấn, giúp đỡ hoặc cậy nhờ Thần tiên trợ giúp, phù hộ để cho số phận, thân mệnh trở nên có sự thay đổi tốt đẹp hơn, lúc này phạm nhân sẽ đến cung quán, đạo quán nơi tu hành của các vị Đạo sĩ Đạo giáo mong muốn được cải đạo quy y.
Lúc này, căn cứ vào nguyện vọng, và thực trạng của phàm nhân, các vị Đạo sĩ tại Đạo quán có thể tuỳ tình hình mà tiếp nhận cho quy y. Hoạt động quy y hiện nay của Đạo giáo thường diễn ra trong khoảng thời gian 03 năm (thường gọi là nhập quan tập sự). Sau thời gian 03 nhập quan cải đạo quy y, phàm nhân lúc này được gọi là cư sĩ, tín sĩ, học sĩ (nếu học tập một số pháp môn huyền môn), nếu thấy rằng có tiên duyên muốn dấn thân đóng góp công sức, toàn tâm, toàn chí, toàn ý, toàn thần nguyện lòng hưng đạo, học đạo pháp cứu vớt phổ độ chúng sinh, cư sĩ sẽ đề đạt nguyện vọng, thỉnh ý sư phụ mong muốn chính thức nhập quan, bái sư tu đạo. Lúc này, sau khi được sư phụ đồng ý chấp nhận cho nhập quan, nhận làm đệ tử, trải qua quá trình học tập, truyền độ, thăng lục,... lúc ấy chính thức trở thành Đạo sĩ, khi ấy mới chân chính có tên trên thượng giới kinh sư, được thần tiên, tổ sư gia trì phù hộ.
Quy y, cải đạo cần phải tuân thủ và thực hiện nghiêm cẩn “Tam quy y”. Đó là:
Đệ nhất quy Thân. Tức là quy y Thái Thượng Vô Cực Đại Đạo. Vĩnh thoát luân hồi, cố viết đạo bảo.
Đệ nhị quy Thần. Tức là quy y tam thập lục bộ tôn kinh. Đắc văn chính pháp, cố viết kinh bảo.
Đệ tam quy mệnh. Tức là quy y Huyền Trung Đại Pháp Sư. Bất lạc tà kiến, cố viết sư bảo.
Tiếp theo, Chính nhất và Toàn chân từ sau khi cải đạo, sự khác biệt cũng dần dần hiện ra. Cụ thể như sau:
Chính nhất phái sau khi quy y cải đạo, muốn tiến gần hơn một bước để trở thành đạo sĩ, liền phải truyền độ. Tổ sư thiết giáo truyền độ, tất có bí mật truyền độ. Long Hổ Sơn Tự Hán Thiên Sư Phủ truyền độ điệp văn viết rõ ràng: "phàm là tu sĩ, nên lấy tổ sư danh hạ truyền độ, dùng hoằng đạo tuyên hóa, tế thế lợi nhân, cải đạo hành trì. Như vậy, có thể thấy được độ truyền rất quan trọng. Truyền độ từ xưa đến nay trở thành dấu hiệu chính thức nhập đạo tu hành của đệ tử Chính Nhất phái. Sau khi truyền độ, mới ban cho tam sơn tích huyết pháp danh, kinh danh, pháp khí.
Sau khi truyền độ xong, tiếp đến là thụ sắc.
Đạo giáo thụ nhận pháp lục, từ khi thái thượng dĩ hàng, tổ thiên sư sáng lập giáo tới nay, tức là truyền thống thành Đạo giáo. Sau khi thụ sắc, mới có thể được xưng là pháp sư, đạo sĩ, mới chân chính ở thượng giới có một chỗ, có tên tuổi sổ bộ thiên giới, mới có binh tướng, thần tiên hộ vệ, đăng đàn hành pháp. Đệ tử truyền độ chưa được thụ sắc, chỉ có thể mượn danh sư phụ hành pháp, đương nhiên điều kiện tiên quyết là sư phụ phải dạy qua và đồng ý cho tham gia hành pháp, tế thế độ dân,...
Đạo giáo truyền độ có hệ thống truyền thừa tông pháp hết sức đặc biệt.
Một là, có chứng thư quy y, pháp lục của đạo sĩ làm bằng chứng, sau khi được truyền độ, thụ lục mới có thần chức đạo vị, mới có thể triệu hoán thần binh tướng lại hộ pháp hiển linh trong quá trình khai đàn, hành pháp để tế thế, độ dân;
Hai là sau khi đạo sĩ được truyền độ, thụ lục, khu vũ hóa, thăng tiên, có thể dựa vào công đức, thành quả mà lục vị đăng tiên, được ban cho tiên chức, miễn trừ nỗi khổ địa ngục minh phủ.
Ý nghĩa của việc cải đạo quy y và quá trình truyền độ, thụ lục Đạo sĩ của Chính Nhất phái
Nhất thị pháp thiên địa, kính tổ tông, (tuân theo trời đất, kính trọng tổ tiên)
Nhị thị minh sư thừa, quy tam bảo (Nghe theo lời dạy của minh sư, quy y tam bảo: Đạo – Kinh – Sư)
Tam thị thụ giới luật, phát thệ nguyện (Tuân thủ giới luật),
Tứ thị ban pháp chức,tuyên giáo hóa. (được ban cho phẩm chức, truyền bá đại đạo).
Thụ lục pháp đàn lại có “Lục đàn tam đại sư” cùng “Hộ đàn lục đại sư”, theo thứ tự là:
1. Lục Đàn Tam Đại Sư: truyền độ đại sư, giám độ đại sư, bảo cử đại sư.
Hộ Đàn Lục Đại Sư: hộ pháp đại sư, hộ kinh đại sư, hộ lục đại sư, hộ giới đại sư, hộ đàn đại sư, hộ đạo đại sư.
Đối với Chính nhất phái. Hiện tại mà Thiên Sư Phủ truyền độ pháp luc có mấy phẩm cấp sau:
(1) Sơ thụ. Lần đầu tiên trao "Thái Thượng Tam Ngũ Đô Công Kinh Lục", là chính lục phẩm, thất phẩm hàm.
(2) Thăng thụ. Lần 2 là thăng chức "Chính Nhất Minh Uy Kinh Lục", là chính tứ phẩm, ngũ phẩm hàm.
(3) Gia thụ. Lần 3 thăng lên "Thượng Thanh Ngũ Lôi Kinh Lục", là chính tam phẩm hàm.
(4) Gia thăng "Thượng Thanh Tam Động Ngũ Lôi Kinh Lục", làm chính nhị phẩm hàm.
(5) Tấn thăng "Thượng Thanh Đại Động Kinh Lục", làm chính nhất phẩm hàm.
Ngoài ra, quy định người được thăng chức và thăng lục, phải dựa vào đạo đức, công đức, vị trí, giai cấp,... mà được thăng cấp, theo quy định truyền thống, mỗi ba năm có thể thăng cấp một cấp, nếu không có công đức không được thăng chức, nhưng công đức siêu quần, hoặc người có cống hiến đặc biệt cho xã hội, có thể phá cách thăng chức. vọng dục thăng thiên, ngược lại bị trời tru đất diệt, trời căm đất giận. Thần tiên, trời đất sẽ giáng hoạ, giáng tội từ trực tiếp đến gián tiếp, từ bản thân đến dòng họ, tổ tiên, hương linh tổ tiên đã mất cùng phải chịu tội thay, vĩnh viễn không được siêu thoát.
Đoạn trích đoạn kinh văn sau đây có thể minh họa đầy đủ tầm quan trọng của việc truyền độ, thụ lục:
"Tam Động Tu Đạo Nghi" nói: “Thụ chính nhất lục hậu, phương khả dĩ vi nhân chương tiếu”. Nghĩa là, Sau khi thụ lục, mới có thể vì người mà dâng chương tiến biểu, làm trai tiếu, khoa nghi". Bởi vì chỉ có phải chịu đắc thụ pháp lục, thụ pháp y, mới có thể có danh phận đăng thiên tào, mới có đạo vị thần chức. Chính thức trở thành đạo sĩ, mới có thể dùng tấu thư, tấu lên Thiên đình, mới có thể được thần linh che chở. Ngược lại lập đàn, hành pháp, lập chương, tiến biểu sẽ không có hiệu quả, mà lại còn làm hao tổn âm đức, phá hoại nguyên thần, khiến lục thân, con, cháu, dòng họ, tổ tiên trở nên điêu đứng, hoạn nạn, người sống gặp tai hoạ, người chết không được siêu thoát, tội nghiệt con cháu phải mang gánh đến ba đời chưa hết. Cho nên phàm là Đạo sĩ chủ trì trai tinh, trước tiên hành pháp phải cầu thụ pháp lục, lấy chính đạo vị mà thi hành, chớ nên khinh xuất, ảo mị mà chuốc gánh đại hoạ.
Sách kinh "Chính Nhất Văn Khoa Giới Phẩm" giải thích: “Tổng thống thiên địa nhất thiết thần quỷ, tru phục tà ma, trảm diệt yêu tinh, chinh linh triệu khí, chế ngự sơn xuyên, địch đãng khí uế, chương tấu truyền dịch, đạt thông thần tiên, mạc tiên hồ chính nhất.
Nghĩa là: "thống nhất thiên địa tất cả thần quỷ, tru phục tà ma, chém diệt yêu tinh, chinh linh triệu khí, chế ngự sơn xuyên, đãng trừ uế khí, lập chương viết biểu, đạt thông thần tiên, là việc đầu tiên của đạo sĩ. Bởi vì sau khi được truyền độ thụ lục, trời đất thần minh sẽ phân bổ cho người nhận được truyền độ thụ lục có thần tướng hộ thân, tướng soái, hiệp trợ đạo sĩ chủ trì trai tiếu, trảm yêu trừ tà, kéo dài sinh linh, cứu tế nhân ách. Khi chưa được nhận chức vụ, thì không có quyền sai thần dịch quỷ.
Tóm lại: Để trở thành một đạo sĩ chân chính thực sự, dù là Chính Nhất phái, Toàn Chân phái,... bắt buộc đều phải trải qua: Quy y, truyền độ thụ lúc, có quan cân, pháp y, pháp khí, kinh văn,....
Muốn trở thành Đạo sĩ, trước tiên phải xuất lực khổ hạnh trong Đạo quán, tự miếu, bồi dưỡng công hạnh, còn gọi là "hành” (tập sự). Sau khi quan cân bái sư, mới có thể trở thành đạo sĩ chính thức, được ban điệp văn, pháp khí, kinh văn. Các nghi lễ như vậy chỉ được tổ chức tại Đạo quán Đạo giáo. Tuy rằng, mỗi trường phái, Đạo quán tuân theo một quy tắc riêng. Song tựu chung lại những người mới cải đạo quy y cần thiết phải làm việc chăm chỉ trong đạo quán trong ba năm, nếu không vi phạm pháp môn, có thể được xem xét bái sư chính thức nhập đạo, truyền độ thụ lục để trở thành Đạo sĩ chính thức.
Hiện nay, việc quy y, truyền độ, bái sư để trở thành Đạo sĩ tuy mỗi phái có cách thức khác nhau, song tựu chung lại pháp điển thì không khác nhau là mấy.
Ở Việt Nam hiện nay, do Đạo giáo chưa phải là tôn giáo chính thức, chỗ đứng của Đạo giáo tuy rằng đã có tới hàng ngàn năm lịch sử trong dòng chảy tôn giáo của dân tộc, hầu hết người Việt đều chịu ảnh hưởng một cách sâu sắc và triệt để các lý luận của Đạo giáo trong đời sống vật chất, tinh thần (Lịch sử tư tưởng, triết học, chính trị, khoa học kỹ nghệ, văn hoá nghệ thuật, tín ngưỡng, huyền học (Tử vi, tướng số, địa lý, trạch nhật cát hung, âm dương, ngũ hành,...). Tuy nhiên, người Việt lại hoàn toàn không nhận thức và phân định được là của Đạo giáo. Hơn nữa, do Đạo sĩ và Đạo giáo hiện nay ở Việt Nam thường rất ít, hoặc bị lầm tưởng với các loại hình tín ngưỡng dân gian, tôn giáo ngoại lai khác nên chưa có một nơi đáng tin cậy để có thể giúp phàm nhân biết đến, tìm hiểu tới Đạo giáo
Tại Việt Nam hiện nay, Đại La Quán - Tổ đình Đạo giáo Chính Nhất Phái Long Hổ Sơn có lẽ là một trong số ít ỏi Đạo quán có Đạo sĩ tu hành và thuộc chính phái, có số lượng Đạo sĩ quy y và được truyền độ thụ lục chính tông nhât, song vì số lượng đạo sĩ còn hạn chế, điều kiện hành pháp xiển đạo còn thiếu thốn,...nên chưa thực sự để nhiều người biết đến.
Chúng tôi tin tưởng rằng, trong một tương lai không xa, Đạo giáo sẽ trở lại và có vị trí nhất định vốn có trong dòng chảy chủ lưu của lịch sử tôn giáo dân tộc Việt - Đạo giáo thần tiên Việt Nam.
Đạo trưởng. Tiến sĩ. Nguyễn Tử Kính
Trụ trì Đại La Quán

Address

Đại La Quán, Thôn Minh Tân, Minh Trí, Sóc Sơn
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đạo Trạm - Đạo giáo Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share