26/08/2023
Tôn Giả Sāriputta (Xá Lợi Phất)
Báo Hiếu- Đưa Mẹ Vào Dòng Thánh
💐💐💐💐💐💐💐💐💐
Dừng chân dưới những tàn cây cừa cổ thụ, chư tăng ngồi nghỉ ngơi. Trời đã về chiều, khói hoàng hôn bãng lãng xa gần giữa những vườn xanh trùng điệp. Làng quê trông thật yên ả, thanh bình…
Tôn giả vào nhà, bước đến bên bà Sārī, cúi đầu xuống:
- Thưa mẹ! Con, Sāriputta đã về!
Các con trai đều vòng tay, khép nép:
- Thưa mẹ! chúng con là Cunda, Upasena, Revata - các con trai của mẹ cũng đã có đủ mặt ở đây rồi!
Các vị tỳ-khưu-ni liến thoắng, cười vui cùng đến ôm vai bà:
- Còn chúng con là con gái của mẹ, là Cālā, Upacālā, Sīsupacālā cũng đồng có mặt.
Bà Sārī họm hem căng mắt nhìn. Tim bà đập như trống làng. Mừng quá, bà muốn khóc, nhưng cố trấn tĩnh, chống gậy bước đi, nói mà không hề ngoái lại:
- Có gì mai hãy nói!
Rồi bà Sārī đóng phòng lại.
Trưởng lão Mahā Cunda, tìm chỗ nghỉ cho tôn giả Anuruddha. Còn Upasena, Revata thì hướng dẫn chư tăng tìm các chỗ ở, phòng ngủ, nước uống, chỉ cầu tiêu, phòng tắm...
Ba vị tỳ-khưu-ni A-la-hán đến gõ cửa phòng bà Sārī, định trò chuyện với mẹ nhưng bà không mở cửa, nói vọng ra:
- Tụi bây là con gái hư! Có chồng giàu có, có con trai nối dõi đàng hoàng thế mà ưa thích ôm bát đi ăn xin! Thật là chẳng còn thể thống gì nữa!
Cả ba vị mỉm nụ cười ở trong tâm, tìm về căn phòng cũ của mình, nói nhỏ với nhau: “Mẹ chỉ còn chấp thủ, cứng đầu đêm nay nữa thôi!”
Tôn giả Sāriputta bước vào căn phòng xưa, vừa ngồi vào giường là một căn bệnh trầm trọng phát sanh. Trưởng lão Mahā Cunda thấy đại huynh trưởng có vẻ đau đớn, ái ngại hỏi:
- Em có giúp gì được cho đại huynh không?
- Có lẽ đêm nay phải làm phiền các em đây! Ta bị bệnh tả lỵ đấy các em ạ! Hãy chuẩn bị mấy cái “bô”.
Thế rồi, sau đó tôn giả đi tả liên hồi. Trưởng lão Mahā Cunda đi vào đi ra hoài với cái “bô” trên tay. Lát sau, trưởng lão Upasena và đại đức Revata sắp đặt chỗ ở cho chư tăng xong xuôi, tìm đến, họ thay công việc cho anh.
Bà Sārī thấy phòng con trai trưởng còn thắp sáng, lịch kịch có tiếng động, bà hé cửa nhìn sang. Thấy Cunda rồi sau đó là Upasena, Revata tất tả vào ra, bà biết chuyện. Cho đến gần nửa khuya, bệnh mới giảm bớt. Bà nghĩ:
“- Con trai của ta đi tả liên tục, chắc là đau đớn lắm, nhưng nó không hề rên la lấy một tiếng. Thiệt lạ đời! Cả các ông Cunda, Upasena, Revata cũng vậy, cũng lặng lẽ! Ồ! Mà cả năm trăm con người ta cũng đều như thế, không một tiếng ho, tiếng khạc nhổ, không cả tiếng nói chuyện rầm rì! Sao họ giống nhau đến thế? Ôi! Người mẹ này lo lắng cho ông con trai trưởng mà dường như không dính líu gì đến chúng nó cả”.
Bà không thể ngủ được, bên ngoài thì có vẻ lạnh lùng mà bên trong lại bồn chồn không yên; bà cứ dỏng tai lắng nghe…
Lúc ấy, Tứ Trấn Thiên Vương gặp nhau, nghĩ rằng họ phải có bổn phận đi thăm lần chót bậc thượng thủ A-la-hán nên đã với thời gian như viên lực sĩ duỗi cánh tay, hào quang sáng rực, họ hiện trong phòng ngài, cung kính lễ bái rồi đứng hầu một bên. Tôn giả biết chuyện này nên dùng thần thông để cho bà Sārī nghe thấy quang cảnh và cuộc đàm thoại.
Tôn giả hỏi lớn:
- Các vị là ai?
- Bạch tôn giả, chúng đệ tử là Tứ Ðại Thiên Vương cai quản bốn châu thiên hạ.
- Các vị đến đây có việc gì?
- Thưa, thứ nhất là để chiêm ngưỡng, thăm viếng tôn giả lần cuối cùng, thứ hai là đến đây để tôn giả tùy nghi sai bảo.
Tôn giả nói bằng âm thanh của Phạm Thiên:
- Cảm ơn các vị trời đầy oai đức đã bỏ công thăm viếng. Bệnh tình tôi đã thuyên giảm, lại có chư trưởng lão ở đây, khỏi phiền đến các vị. Thời cũng đã phải lẽ, các vị hãy về đi thôi!
Họ vâng lời, đảnh lễ tôn giả, rồi như vầng trăng sáng, họ mất hút giữa hư không.
Thiên chủ Ðế Thích nghĩ mình phải có bổn phận đưa tiễn bậc Ðại Chưởng Pháp nên với oai nghi, hào quang, thần lực hiện bên giường tôn giả trong chớp mắt. Cũng qua một hồi đối thoại ngắn, trời Ðế Thích cung kính đảnh lễ rồi xin rút lui.
Trời đã khuya, không những trong vườn bà Sārī mà dường như cả làng Nālakā đồng trở nên sáng rực. Ðó là các vị Phạm Thiên, Ðại Phạm Thiên Sāhampati xuống hầu tôn giả Sāriputta, cũng cung kính nghiêng lưng thi lễ và muốn săn sóc bệnh tình cho ngài. Tôn giả cảm ơn và rồi họ cũng cáo biệt.
Bà Sārī chứng kiến từ đầu, thấy rõ quang cảnh và nghe không sót một lời nào, bà nghĩ rằng:
“- Không biết những vị nào như các đấng Thiên Thần oai lực và cao sang như thế lại đến thăm con ta, đảnh lễ con ta rồi nói gì rằng là... hầu hạ... sai bảo nữa? Mà cũng kỳ lạ, là con trai ta có vẻ lớn hơn họ, là bậc thầy của họ?”
Bà Sārī rời phòng, rón rén đến tận cửa phòng của tôn giả, muốn gặp các ông con trai để thăm hỏi bệnh tình. Tôn giả đã biết chuyện này nên bảo các em mở cửa để bà Sārī vào.
Tôn giả Sāriputta dựa lưng trên chiếc gối, ngồi dậy:
- Ðã khuya rồi mẹ chưa đi ngủ sao?
- Mẹ ngủ sao được khi tả lỵ nó hành hạ con như thế!
- Con đã khỏe rồi mẹ ạ!
Bà Sārī lặng lẽ quan sát thần sắc của tôn giả, thấy có hư hao nhưng vẫn toát ra cái an nhiên, thanh thản đến lạ kỳ! Các ông con trai kia cũng thế, đứa nào cũng rất trầm tĩnh và dường như đối với chúng, chẳng có gì xẩy ra? Rồi căn phòng bệnh tả lỵ, mà sao lại thanh sạch và lại còn tỏa hương thơm kỳ diệu như thế - một loại hương thơm không có trên trần gian! Bà đâu có biết rằng đấy là các vị trời đã âm thầm bỏ lại hương trời để tẩy xú khí!
- Này con! Bà Sārī hỏi - Tại sao đã khuya rồi mà có những người đến thăm con như vậy? Các vị đầu tiên là ai mà oai phong lẫm liệt, oai gấp trăm lần vua loài người, mà chung quanh họ lại sáng rực như có hào quang? Họ là những ai vậy con?
Chưa trả lời vội, tôn giả bảo trưởng lão Cunda lấy cho mẹ một cái ghế, còn ngài sửa lại oai nghi, ngồi kiết già rồi mới nói chuyện:
- Thưa mẹ! Ðấy là bốn vị vua trời, còn gọi là Tứ Ðại Thiên Vương oai trấn bốn châu thiên hạ đấy mẹ ạ!
Bà Sārī rùng mình, nổi g*i ốc: “Hèn gì!” rồi bồn chồn hỏi tiếp:
- Họ oai đức, cao sang như vậy, sao họ lại đến thăm con, cung kính đảnh lễ con? Có lẽ nào con lại cao hơn họ sao?
- Thưa mẹ! Tôn giả cất giọng ôn nhu, dịu dàng - Những vị trời ấy có tâm rất cao thượng, họ hằng hộ trì Phật Pháp. Họ luôn luôn bảo vệ đức Đạo Sư như bốn vì Thiên Tướng cặp kè với gươm giáo sáng lòe làm người hầu cận vậy. Con cũng hay giảng dạy cho họ nên họ cung kính, coi con như bậc thầy! Các em con đây cũng thế, đều là vai vế bậc thấy bốn ông Thiên Vương oai vệ ấy!
Bà Sārī nghe vậy, hoan hỷ đến tận chân tơ kẽ tóc. Móm mém cười, bà hỏi tiếp:
- Còn vị đến sau? Vị đó ngó bộ oai sang hơn bốn vị trước! Cái thân như tạc bằng ngọc ngà châu báu, hào quang đã sáng mà lại còn rất đẹp nữa. Ôi, lại đẹp một cách lạ lùng! Vị ấy là ai?
- Thưa mẹ! Vị đó là vua cõi trời Ba Mươi Ba, là vua cõi trời Ðao Lợi mà người ta hay gọi ngài là Ðế Thích Thiên Vương. Vị này còn là vua của bốn vị đến trước, có rất nhiều oai lực, nhiều thần lực kinh khiếp lắm!
- Vị như vậy mà còn thua cả con sao?
- Thưa mẹ! Ðối với chúng con thì vị trời ấy cũng như một chú sa-di, một người hầu để sai bảo việc vặt thế thôi!
- Khiếp!
Tôn giả cười cười trong ánh mắt:
- Mẹ không tin sao? Ðể con gọi ông Ðế Thích ấy xuống đây, sai bảo cho mẹ xem nhé?
Bà Sārī chối đây đẩy, xua tay lia lịa:
- Thôi! Thôi! Mẹ tin rồi! Thấy oai tướng của ông trời ấy mẹ đã sợ rồi! Mẹ đã run rồi! Mẹ thiếu đức, thiếu phước nên sẽ cúi đầu, run rẫy trước ông ta mà thôi!
Tôn giả mỉm cười. Các ông con trai A-la-hán cũng mỉm cười!
Trưởng lão Mahā Cunda nói:
- Mẹ chưa biết đấy! Oai lực con trai trưởng của mẹ, mười lần mà chưa nói được một đấy!
Trưởng lão Upasena rắc thêm hương:
- Mẹ ơi! Không những các anh trai của con mà ngay chính Revata bé bỏng thuở xưa của mẹ, cái ông Đế Thích ghê gớm kia cũng phải cúi đầu đảnh lễ đó!
Đại đức Revata nhũn nhặn, khôn ngoan tiếp thêm lời:
- Điều ấy là đúng sự thật đấy mẹ ạ! Nhưng chính mẹ mới là người vĩ đại, cao quý nhất, vì nếu không có mẹ thì chúng con ở đâu ra? Ân đức của mẹ còn to lớn hơn mấy ông trời ấy không biết chừng nào mà kể!
Bà Sārī hoan hỷ đến nỗi cả da gà. Trấn tĩnh một lát, bà tiếp:
- Rồi còn mấy vị đến sau, hào quang sáng cả vùng trông rõ mồn một như ban ngày? Ôi! Các vị này thân thể như ánh sáng, nhẹ nhàng, thanh cao và tinh khiết làm sao! Mới thấy họ thôi mà tâm hồn mẹ đã lâng lâng, mát mẻ vô cùng. Họ là những ai vậy con?
Tôn giả đáp:
- Thưa mẹ! Ðấy chính là những vị Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên là những bậc Thần Linh Cao Cả mà cha mẹ cũng như dòng họ chúng ta hằng tôn thờ từ đời này sang đời kia đấy!
- Hả?!!!
Bà Sārī tròn xoe đôi mắt, ngạc nhiên quá. Hiện giờ, tâm tư đã hoàn toàn đổi khác, bà nghĩ:
“- Ôi! Ai ngờ rằng con trai ta mà cao siêu, cao cả đến thế, cho đến các vị Phạm Thiên, Ðại Phạm Thiên mà dòng tộc ta tôn thờ, lễ lạy, cúng kiến từ đời này sang kiếp nọ cũng ở dưới con ta không biết bao nhiêu bực? Ồ! Nếu vậy, con ta đã là bậc Đại Thánh trên đời sao?! Và dường như mấy ông con kia, oai lực cũng không kém gì! Ôi! Nếu con trai trưởng của ta, các ông con kia đã là vậy thì oai đức của đức Thế Tôn kia cao lớn biết dường nào?”
Một sự thỏa thích, hoan hỷ tràn ngập tâm tư; một niềm mát mẻ, trong lành tỏa khắp cả châu thân bà. Tôn giả Sāriputta ghi nhận được sự diễn biến ấy; và đây là thời tốt đẹp nhất để thuyết cho bà rõ về ân đức của Tam Bảo.
Tôn giả bèn hỏi:
- Thưa mẹ! Mẹ nghĩ gì mà khuôn mặt rạng sáng đến như vậy?
- Này con! Không rạng sáng sao được khi không những con, mà các con trai của mẹ đều cao cả hơn các ngài Ðại Phạm Thiên? Và chắc chắn rằng thầy của con, đức Thế Tôn lạ lùng ấy, rõ đúng là vô biên vô lượng ân đức nhất dưới gầm trời này!
Tôn giả gật đầu:
- Ðúng vậy mẹ ạ! Ân đức của một vị Phật thì chính ngay hư không kia cũng không thể so sánh được. Ngày đức Thế Tôn thành đạo không những địa đại rung chuyển mà cả hằng vạn cõi trên khắp đại thiên thế giới cũng chao đảo, chấn động như sóng dội!
Thưa mẹ! Con thì đã có nghĩa gì, mặc dầu giữa thế gian này, con đứng hàng thứ hai sau đức Phật! Về phước đức, về định lực, về trí tuệ, về giải thoát, về kiến thức hiểu biết quảng đại, về phẩm hạnh, về công hạnh, về các tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả thì con cũng đã thành tựu khá nhiều; nhưng so với đức Phật, một vị Chánh Đẳng Giác thì có thể ví như hạt cát so với biển cát của con sông Ðại Hằng, như một hạt bụi so với ngọn Hymalaya!
Rồi tuần tự, từ từ, chậm rãi, tôn giả nói cho bà Sārī nghe về ân đức của Phật, ân đức của Pháp, ân đức của Tăng... làm cho bà Sārī như rơi vào vùng biển trời bao la, lạ lùng, choáng ngợp, hùng vĩ, huy hoàng... Thời pháp chưa chấm dứt mà bà đã đắc quả Tu Đà Hoàn, nhập vào dòng thánh.
Bà Sārī hoan hỷ quá, hân hoan quá, bà thốt ra lời trong những giọt lệ mừng vui, lần thứ nhất và cuối cùng ở trong đời.
Tôn giả Sāriputta hân hoan, tự nghĩ: “Thế là ta đã báo đáp trong muôn một ân sinh thành dưỡng dục cho mẹ. Vậy mọi bổn phận trên đời này đã hoàn tất, đã chu toàn, ta ra đi là phải lẽ, đúng thời”.
Khi bà Sārī rời khỏi phòng, tôn giả quay qua hỏi các em:
- Giờ là canh mấy rồi?
- Thưa, đã quá canh ba, trời đã rạng sáng.
Sau đó, tại nhà hội, tôn giả ân cần nói với môn đệ:
- Tất cả mọi điều đáng nói, ta đã nói hết rồi. Trên con đường tấn tu phạm hạnh, ai cũng có những sai lầm, không nhiều thì ít. Ðây là giây phút cuối cùng, các thầy hãy hỷ xả bỏ qua những lỗi lầm nào đó cho ta nhé?
Chư tăng đệ tử của tôn giả đồng trả lời:
- Ôi! Quả thật một sự mếch lòng nhỏ như hạt bụi giữa ngài đối với chúng con cũng không có! Với chúng con, ngài là một viên ngọc māṇi không tỳ vết, là mặt trăng, là mặt trời lồng lộng giừa không trung! Dù ngài có khuất bóng, dấu chân Bất Diệt và Cao Cả của ngài vẫn còn đó. Chúng con nguyện đi theo dấu chân ấy và ghi khắc hình ảnh của ngài vào tâm khảm...
- Lành thay - Tôn giả nói, giọng đã yếu lắm - Hãy lấy Phật làm ngọn đèn, hãy lấy pháp làm chân lý lên đường, hãy lấy tăng làm áo giáp ngăn che. “Hãy tinh tấn, gia công chuyên niệm, kiên trì chăm chú, giác niệm đừng có xao lãng, đấy là lời dạy cuối cùng của ta”.
Lát sau, tôn giả nói:
- Thôi, vừa rồi, đủ rồi! Các thầy hãy lui ra!
Cả năm trăm vị tỳ-khưu, rất nhiều vị đỏ lệ ngậm ngùi nhưng đều vâng dạ, bước ra ngoài, vòng tay cúi đầu hoặc lặng lẽ nhìn vào. Bên cạnh tôn giả chỉ còn trưởng lão Anuruddha và sáu vị thánh A-la-hán em trai và em gái ngài!
Tôn giả ngước nhìn tất cả mọi người rồi nói nho nhỏ:
“- Giờ là phải thời, cho phép tôi ra đi trước chư hiền!”
Tôn giả xoay người nằm nghiêng về bên phải, chân phải duỗi thẳng, chân trái co lên, đầu gối lên cánh tay phải, tay trái bỏ dọc theo thân mình. Trưởng lão Mahā Cunda kéo y ngoại phủ chân và phủ đầu ngài. Lát sau, nhiếp tâm, tôn giả trú Rỗng Không, không còn tìm thấy dấu tích … rồi đi vào Đại Bát Niết Bàn Tịch Diệt.
Lúc ấy, vầng thái dương cũng bắt đầu ló dạng ở chân trời như chào đón một bậc Vĩ Nhân, một Ngôi Sao Sáng đã đi vào vĩnh cửu.
Hôm đó là ngày trăng tròn tháng Kattika ở Ấn Ðộ, vào khoảng giữa tháng 10 và 11 Dương lịch.
(Trích Con Trai Đức Phật – MĐTTA).