12/03/2026
🎋🎋🎋KỶ NIỆM 701 Năm🙏🙏🙏
THÁNH TỔ NON ĐÔNG - ĐẠI THÁNH ĐÔNG SƠN TUỆ NHẪN TỪ GIÁC QUỐC SƯ (1257 - 1325) hạc giá quy tây📿📿📿
⛩️⛩️⛩️
Nhớ ơn Thánh tổ Non Đông
Ngài làm sáng tỏ Thiền tông nước nhà
Một niềm chính giáo truyền gia
Bao nhiêu tà giáo ắt là dẹp tan
1. Thân thế sự nghiệp:
Đại Thánh Tổ Đông Sơn Tuệ Nhẫn Từ Giác Quốc Sư họ Vương, hiệu Quán Viên, sinh năm Đinh Tỵ 1257, niên hiệu Nguyên Phong thứ VII đời vua Trần Thái Tông, chính quán làng Muống (Dưỡng Mông) tổng Phù Tải (nay là Thôn Dưỡng Mông, xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương).
Thân phụ là cụ Vương Quý Công sớm về theo tiên tổ, Thân mẫu họ Hoàng vốn là người hiền đức, thương con nên ở vậy nuôi con khôn lớn.
Năm 1267 (10 tuổi), Ngài được mẹ cho theo học Nho giáo, với bẩm tính siêng năng, không phụ lòng mong mỏi của mẹ, ngài cũng đã trải qua thập niên đăng hoả chuyên tâm miệt mài sôi kinh nấu sử. Đối với bạn bè đồng học Ngài luôn được tôn trọng bởi khả năng siêu phàm uyên bác của mình
Vốn có con mắt của bậc siêu phàm, ngài chán ngán cảnh cao sang quyền quí, nhìn đời khác nào như lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ; tình người ấm lạnh. Ngài thường vãng cảnh các chốn không môn quanh vùng để tham vấn thiền tông. Từ đây ngài có ý định xuất gia tu Đạo giải thoát.
2. Thời kỳ xuất gia và quá trình hành đạo :
Niên hiệu Bảo Phù thứ 3 (1275) đời vua Trần Thánh Tông, 19 tuổi, Ngài tìm đến chùa Báo Ân, huyện Siêu Loại bái Đại Sư Kiên Huệ làm thầy truyền đạo. Nhận thấy đây là bậc pháp khí trong tương lai. Đại sư Kiên Huệ đã hứa khả tiếp nhận và thế phát quy y truyền cho Sadi Thập giới.
Năm 1276 (20 tuổi), Ngài được Đại sư Chân Giám chùa Nghĩa Trụ trao truyền Tỷ khiêu Cụ túc giới dự hàng Tăng Bảo làm dường cột cho Phật pháp. Từ đây đức hạnh của Ngài ngày càng cao, vượt hẳn lên người thường, trong chốn thiền môn Ngài đã được tôn xưng là Bậc Đại tượng.
Niên hiệu Trùng Hưng đời vua Trần Nhân Tông (1285 -1293) , sơn hà biến cải, quân Nguyên Mông đem quân xâm lược nước ta. Lúc này đạo Phật có phần suy vi, nhiều vị Tăng Nhân bỏ bê chùa cảnh. Đại sư vẫn một lòng kiên tâm giữ đạo, dốc sức tu hành cứu độ nhân sinh, do vậy thập phương tín lão đến theo Ngài ngày một đông. Chùa Báo Ân gần sát kinh thành lại là nơi Đại sư tu tập trở nên nổi tiếng khắp vùng, quan dân sỹ thứ đua nhau đến vãng cảnh sam thiền, ngựa xe dập dìu sớm tối.
Vốn không chịu được cảnh phồn hoa đô hội, nhận lời Thiền Sư Đại Nghĩa về trụ trì chùa Non Đông thuộc thị trấn Mạo Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay. Từ khi về trụ trì chùa Non Đông, ngài đã đem giáo lý đạo mầu để sùng hưng Phật pháp nơi đây, đồng thời khuyên dân bỏ ác làm lành. Người dân vùng Non Đông thành kính tôn xưng ngài là Hoà thượng Non Đông và bảo nhau rằng : Đây là thời kỳ Phật pháp của Non đông ta vậy. Tín lão gần xa lại nô nức về Non Đông cúng dàng tiền gạo, hương hoa …mọi vật đều rất đầy đủ.
Với tinh thần tự tác tự dụng, Đại sư quyết không nhận của ai dù là hạt gạo. Ngài tự cấy cầy để lấy vật thực sinh hoạt. Có dư dật thì mang chu cấp cho những kẻ tiều phu.
Niên hiệu Hưng Long đời vua Trần Anh Tông (1293 -1314), dân tình có ý xa rời chính đạo, thiền môn hoang phế, bọn đồng cốt hoang đường đua nhau lợi dụng cảnh chùa dựng các dâm từ để tổ chức cúng bái mê tín nên gây hại cho quốc gia xã hội rất nhiều.
Với con mắt của bậc ưu dân ái quốc, Đại sư đau lòng trước cảnh đó nên ngài muốn tìm cách cứu vớt thế tục. Trên tinh thần Tồi tà hiển chính, muốn dẹp bỏ tà giáo ắt phải dùng chính giáo. Ngài quyết định xuống núi lập đàn thuyết pháp để tuyên dương chính đạo, dẹp bỏ dâm từ. Việc này được triều đình ủng hộ nên sắc chỉ cho thực hành khắp các lộ, phủ. Đại sư đưa ra lời khuyến cáo rằng : Kẻ u mê hãy mau chóng tỉnh ngộ. Kẻ gian tà sẽ bị trừng trị nghiêm minh. Từ đây các tệ nạn trong xã hội dần được dẹp bỏ. Người đương thời tôn Ngài là Phật hoàng xuất thế. Đạo pháp lại được hoằng dương, mỗi người tự tu tự độ. Đại Việt lại chốn chốn đều là nhân gian tịnh độ, người người đều có Phật tính trong tâm.
Uy đức của Ngài ngày một lan xa, Vua Trần Anh Tông nhiều lần ngự giá thăm chùa lại tự tay bao sái, thắp hương cúng Phật. Qua những lần tham vấn thiền tông yếu chỉ, Đức Vua nhất mực ngợi khen và ban hiệu cho Ngài là Tuệ Nhẫn Quốc Sư. Ngài một mực từ chối không nhận ban hiệu. Nhưng khi nào triều đình có việc hệ trọng cần tham vấn, Ngài đều hết lòng phò tá. Công việc thành tựu, đức Vua ban chiếu vời, Ngài luôn lấy cớ để tránh đến những vùng xa xôi. Cực chẳng đã phải vào triều ngài liền về ngay mà không để ý đến những lời vồn vã của quý tộc trong thành.
3. Thời kỳ viên tịch:
Càng về cuối đời, Đạo càng cao tột, giao lại chùa chiền cho các đệ tử, Ngài một mình ra biển Đông kê đá làm am, đặt tên Am là Tịnh Minh Liên Xã rồi ở đó đóng cửa không ra nữa mà ngày ngày tham thiền tĩnh toạ. .
Ngày 27 tháng giêng năm Ất Sửu (1325), niên hiệu Khai Thái thứ 2 đời vua Trần Anh Tông, Ngài quy Tây thị Phật hưởng thọ 69 tuổi. Vua Trần Anh Tông lấy làm thương tiếc sai bách Quan đến viếng lại làm thơ thán rằng:
Tự tòng viên công khứ thế hậu
Thiên hạ Thích tử không vô nhân
Nhiều đời sau triều đình luôn xuất vàng bạc giúp chùa xây dựng và ban tặng biểu ngạch là Từ Giác Sùng đức. Nhân dân quanh vùng mến mộ công đức của Ngài nên tôn xưng ngài là Thánh Tổ Non Đông. Hàng năm cứ đến ngày kỷ niệm Ngài Hạc Giác Quy Tây, dân chúng khắp vùng nam phụ lão ấu lại nô nức đến lễ Phật và chiêm ngưỡng công đức Thánnh Tổ tại 72 chốn già lam tự viện có lưu dấu tích cuộc đời hành đạo của Ngài.
4. Các huyền tích liên quan đến cuộc đời của Thánh tổ:
Huyền tích về lịch sử đức Thánh tổ được truyền tụng rất nhiều trong nhân gian như những câu chuyện cổ tích được truyền miệng khắp vùng từ Non đông – Quảng Ninh, Kinh Môn, Kim Thành – Hải Dương, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng và nhiều khu vực của Hải Phòng:
Chuyện Ngài dời nhà đi tìm mẹ, trên đường đi gặp một gia đình bán mía, liền xin nước uống và nghỉ chân. Sau khi dò hỏi chủ nhà biết Ngài đi tìm mẹ mà không thấy, chủ nhà ngỏ lời đề nghị ở lại giúp việc. Hàng ngày chuyên lo dọn mía, rửa mía. Bỗng có một hôm Ngài thấy một cây mía có 72 gióng, thấy đó là điều lạ, Ngài đem dấu kín, buổi tối hôm đó Ngài xin nghỉ việc và không cần chủ nhà trả công, chỉ xin một cây mía. Khi đã đắc đạo Ngài rời chùa để tuyên truyền Phật pháp và tu tạo 72 được ngôi chùa lớn nhỏ. Riêng huyện Kim Thành, quê hương ông, ngaif xây dựng 4 ngôi chùa lớn: chùa Phí Gia (xã Đồng Gia), còn gọi là chùa Bùi; chùa Lành, chùa Gạo (xã Kim Tân); chùa Linh Quang (xã Kim Lương). Cho đến nay, trong dân gian vẫn lưu truyền một số câu ca phản ánh thời kỳ hưng thịnh của các ngôi chùa ở vùng này: "Lên chùa Muống, xuống chùa Bùi, lui chùa Gạo, dạo chùa Lành hay :"Nhịp chùa Lành, canh chùa Muống" (nghĩa là nhịp chuông, mõ chùa Lành và đọc canh ở chùa Muống khó có nơi nào sánh kịp). Chuyện ngài xây 72 ngôi chùa chỉ trong 1 đêm với chỉ một cây nứa 9 đốt đi khuyên giáo.
Chuyện ngài chữa khỏi bệnh đau mắt cho vua Trần Minh Tông và được tôn xưng là Đức Phật ông mộng Đại Thánh.
Chuyện ngài báo hiếu mẫu thân
Chuyện ngài Chạy thuốc lào cho dân vùng Tiên Lãng
Chuyện ngài hạc giá Tây quy ngày 27 tháng giêng.
Những câu chuyện dù là lịch sử hay là huyền tích về cuộc đời Thánh tổ đã in sâu trong tâm thức của Tăng Ni Phật tử, đã tỏa sáng trong những trang sử vàng của Phật giáo Việt Nam. Cuộc đời đức Thánh tổ là sự kết hợp hai giá trị cao nhất của Phật giáo Việt Nam – Đạo pháp và Dân tộc
Ngài đã hoàn thành đạo nhân
Lại tròn đạo hiếu xa gần ngợi khen
Bẩy mươi hai chốn hoá duyên
Chư tăng hành đạo cần chuyên khác thường
Những điều mê tín vấn vương
Ngài khuyên bỏ hết chỉ đường chân tu
Vua Trần cảm đức Thánh sư
Làm chùa tô tượng nghìn thu cúng dường…..
Kính lạy Thánh tổ Non Đông
Ngài đi soi xét non sông xa gần
Xem ai có đức có nhân
Xem ai chuyên cần lễ bái thành tâm
Xem ai tụng niệm Phật thầm
Xem ai già lão tín tâm lên chùa
Trẻ thì lắm lộc nhiều xuân
Già đi tụng niệm để thân nhờ trời
Đã đi làm phúc đừng cười
Của đi làm phúc muôn đời thọ khang
Đã đi làm vãi triền già
Nào ai sỉ báng thì ta được nhiều
Anh em phải có lòng yêu
Thì ta phải học cho nhiều văn kinh.
Nam mô Đông Sơn Tuệ Nhẫn Từ Giác Quốc Sư tác đại chứng minh.