09/11/2022
Mẫu Liễu với sự phát hiện ngọc phả bằng đồng ở đền Sòng năm 1939: Bối cảnh, nội dung và dư luận
Chu Xuân Giao* - Phan Lan Hương
Sự kiện ngẫu nhiên tìm thấy một ngọc phả đồng, tức cuốn sách chữ Hán gồm mấy trang bằng đồng mang tiêu đề Thiên Bản Vân Cát Lê gia ngọc phả với niên đại 1623, vào năm 1939 tại đền Sòng (Sùng Sơn linh từ) ở Thanh Hoá, đã từng được đề cập đến trong một số nghiên cứu từ đầu thập niên 1990 đến nay về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu nói chung, và tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu từ góc nhìn văn hoá dân gian nói riêng. Sự kiện, và nhất là bản thân nội dung của cuốn ngọc phả đã được các nhà nghiên cứu lưu tâm, bởi được xem như là một nguồn tư liệu trọng yếu, mang tính gốc gác, giúp lí giải sâu sắc hơn quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu ở Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả mới chỉ là đề cập thoáng qua ở chỗ này chỗ kia, một số chép truyền theo nhau (gồm cả những thông tin sai nhầm), mà thiếu vắng những khảo cứu chuyên sâu, nên chúng ta chưa có được một nhận thức đầy đủ về sự kiện cũng như nội dung cuốn ngọc phả ấy(*).
Ở bình diện người trong cuộc, hay hậu duệ của người trong cuộc, thì có một thực tế đáng chú ý là: việc phát hiện cuốn ngọc phả gây chấn động một thời này, mà là của thời cách nay chưa quá xa, lại hầu như không được những gia đình thủ nhang hiện nay ở các đền phủ chính yếu ghi nhớ hay truyền khẩu (như ở Vân Cát, Tiên Hương, Sùng Sơn,…). Giới thanh đồng, cung văn, và pháp sư thuộc lớp cao niên đã thành danh ở khu vực miền bắc hay miền trung (vào thời điểm năm 1939 đã trên dưới mười tuổi), cũng rất ít người biết, nên lớp trẻ hầu như không được truyền dạy.
Bằng kết quả khảo cứu văn bản viết trong quá khứ gần, kết hợp với kết quả phỏng vấn hồi cố trong mấy năm qua đối với nhiều hậu duệ người trong cuộc như nói trên, với người dân bình thường hiện đang sinh sống ở gần các đền phủ chính yếu, và với nhà nghiên cứu có tiếng ở các địa phương, bài viết này sẽ trình bày một cách sơ bộ về bối cảnh của sự kiện, nội dung ngọc phả, và dư luận lúc đương thời cũng như sau này (ý kiến hay nhận định của các nhà nghiên cứu hiện nay cũng được xem là một loại dư luận).
1. Sự kiện và bối cảnh qua tư liệu đương thời
Theo một tài liệu đã xuất bản với số lượng lớn vào nửa cuối thập niên 1970 (sách do địa phương xuất bản, ở lần tái bản năm 1976 đã in tới 10.000 cuốn1) thì sự kiện “đào được ngọc phả của bà chúa Liễu ở đền Sòng” đã được báo chí đương thời đưa thành tin lớn. Cụ thể như sau:
“Tin giật gân trên được các báo hằng ngày năm 1940 đăng trên trang nhất. Báo “Trung bắc chủ nhật” nêu hàng chữ tít lớn: “Từ Phủ Giày đến Sùng Sơn, phố Cát, Vân Cát thánh Mẫu, một vị thần được hàng triệu người Việt Nam sùng bái”. (…) Triều đình Huế phái đại diện về đền Sòng tổ chức lễ trọng thể để khai ngọc phả. Buổi lễ có đủ các quan chức đầu tỉnh, các nhà báo và nhân viên Viễn đông bác cổ, các phóng viên nhiếp ảnh cùng hàng vạn người khắp nơi tò mò kéo đến. (…) Cuốn ngọc phả được chụp ảnh và quảng cáo rùm beng trên báo chí. Triều đình Huế lại cho rước ngọc phả từ đền Sòng về Vân Cát. Suốt dọc đường các chặng nghỉ được lệnh quan tỉnh, nhân dân đã bày nhang án và lễ bái vọng” [Tuấn Cầu 1976 : 24-26].
“Trung bắc chủ nhật” trong đoạn trên hẳn là chỉ tờ tuần báo khá nổi tiếng một thời là Trung Bắc tân văn chủ nhật1. Có thể bản thân người viết đoạn này đã trực tiếp đọc bài đưa tin về sự kiện ngẫu nhiên phát hiện ra ngọc phả ở đền Sòng trên các báo ngày hay báo tuần lúc đương thời. Chúng tôi chưa có điều kiện tra cứu lại các số đã ra vào năm 1940 của tờ Trung Bắc tân văn chủ nhật để tìm ra bài “Từ Phủ Giày đến Sùng Sơn, phố Cát, Vân Cát thánh Mẫu, một vị thần được hàng triệu người Việt Nam sùng bái”, nhưng đặt nghi vấn vào thời điểm “năm 1940” mà tác giả Tuấn Cầu nêu. Có thể tác giả đã nhớ nhầm, vì sự kiện phát hiện ngọc phả ở đền Sòng là vào tháng 4 năm 1939, còn báo Trung Bắc tân văn chủ nhật mãi đến tháng 3 năm 1940 mới ra số đầu tiên. Cũng có thể tác giả không nhớ nhầm, mà có thể là: ngọc phả đồng được phát hiện vào đầu năm 1939 ở Thanh Hoá, nhưng đến đầu năm 1940 thì được đưa về phủ Vân Cát (địa chỉ gắn liền với tiêu đề Vân Cát Lê gia ngọc phả, là quê hương của Mẫu Liễu).
Dù sao thì ghi chép của Tuần Cầu cũng đã muộn so với thời điểm diễn ra sự kiện tới gần bốn mươi năm, nếu có nhầm lẫn thì cũng là điều dễ hiểu. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, có bốn tư liệu sau đây xuất hiện sau thời điểm tháng 4 năm 1939 không xa, có thể xem là tư liệu đương thời, cho chúng ta biết được nét chính và bối cảnh của sự kiện, gồm: ba tư liệu bằng văn tự mới (một đơn vị thuần tiếng Pháp, một đơn vị tiếng Pháp nhưng có lẫn chữ Hán, một đơn vị quốc ngữ nhưng có lẫn chữ Hán) đã được xuất bản ra đại chúng; một tư liệu viết tay thuần bằng văn tự cũ (Hán Nôm) được bảo quản trong thư viện. Dưới đây, chúng tôi lần lượt trình bày về bốn tư liệu theo trình tự thời gian xuất hiện của chúng. Giữa bốn tư liệu này, có thể thấy hay có thể đặt giả thiết về những quan hệ thú vị của chúng.
Thứ nhất, là một đoạn ngắn gồm mấy câu bằng tiếng Pháp trong bài điểm những sự kiện đáng chú ý năm 1939 thuộc tầm bao quát của EFEO mang tiêu đề “Chronique de l'année 1939 ” [niên giám năm 1939] đăng trên tạp chí BEFEO số 39 [EFEO 1939 : 333]. Đoạn đó gồm hai câu tiếng Pháp (xem Hình 1), cho biết các thông tin khái lược như sau: 1. [Trong năm 1939] người ta đã vô tình phát hiện tại khu vực đền Sòng thuộc tỉnh Thanh Hoá được một cuốn sách gồm sáu trang bằng đồng, trên ghi chữ Hán; 2. Đó là cuốn gia phả của gia đình thánh mẫu Vân Hương được chôn dưới lòng đất; 3. Cuốn phả hiện được giữ tại đền Sòng1.
Hình 1: Đoạn điểm sự kiện phát hiện ngọc phả trên BEFEO [EFEO 1939: 333]
Dù rất vắn tắt, nhưng đây là những dòng thông tin đáng tin cậy bởi được đăng trên tạp chí của một cơ quan học thuật uy tín, đồng thời, cũng là rất gần thời điểm sự kiện đã diễn ra tại đền Sòng. Tiếc là ghi chép của EFEO không cho biết ngày tháng cụ thể của sự kiện.
Thứ hai, là một cuốn sách gồm cả quốc ngữ (phần trước) và chữ Hán (phần sau) của một hay một nhóm tác giả khuyết danh tựa như được chuẩn bị từ năm 1939 và đem in năm 1941 tại Hà Nội, với tiêu đề Vân Hương thánh mẫu thực lục tân biên [Khuyết danh 1941]. Đây là một cuốn sách đặc biệt mà trước nay giới nghiên cứu lại hầu như chưa biết đến (từ đây trở xuống viết tắt là VHTM-TLTB).
Trước đây, trong một bài viết đã công bố năm 2009 và năm 2010, chúng tôi đã xác nhận VHTM-TLTB là cuốn sách có đăng bản trích dịch quốc ngữ sớm nhất (vào năm 1941) cho cuốn sách Hán Nôm trọng yếu mới được phát hiện Cát thiên tam thế thực lục 葛天三世寔籙 (in mộc bản năm 1913), tức là khoảng 30 năm khi Cát thiên tam thế thực lục được ấn tống [Chu Xuân Giao 2010 : 96].
Cần nói thêm một chút về Cát thiên tam thế thực lục. Trong một ít năm trở lại đây, một nhóm tư liệu liên hoàn liên quan đến Phủ Nấp (tức Quảng Cung linh từ) đã được giới nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam phát hiện (mở đầu là nhóm Dương Văn Vượng - Hồ Đức Thọ - Mai Khánh ở địa phương Nam Định - Hà Nam từ đầu thập niên 1990, và sau đó là nhóm Ngô Đức Thịnh - Chu Xuân Giao từ khoảng năm 2007). Trong đó, có cuốn Cát thiên tam thế thực lục xác định rõ được niên đại và những người tham gia biên soạn. Đáng lưu ý là, trước nay nguyên bản hay bản sao của cuốn sách này không có trong các kho sách Hán Nôm chính yếu của Việt Nam (như Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia, Thư viện Viện Sử học), mà chỉ lưu hành trong dân gian. Có lẽ một phần vì lí do đó, mà đến nay, với giới nghiên cứu nói chung, nó chưa được biết đến rộng rãi. Qua nghiên cứu nhóm tư liệu này, chúng tôi đã đi đến nhận định rằng, không phải đến thời gian Cát thiên tam thế thực lục được ấn tống (1913) mà trước đó rất lâu, sự tích về lần giáng sinh thứ nhất của Mẫu Liễu tại khu vực Phủ Nấp ngày nay, cũng như quan niệm “tam thế luân hồi” hay “tam sinh tam hoá” của Mẫu Liễu đã được truyền tụng trong dân gian [Chu Xuân Giao 2010 : 103]. “Tam thế luân hồi” theo Cát thiên tam thế thực lục là lần lượt với ba lần Mẫu Liễu giáng sinh xuống Phủ Nấp, Phủ Giầy, Phủ Tây Mỗ. Phủ Giầy trong hệ thống truyền thuyết này đã là lần giáng sinh thứ hai, mà không phải là lần đầu như trong định thuyết trước nay [Chu Xuân Giao sđd : 90-95]. Cụ thể như sau: lần thứ nhất xuống nhà họ Phạm tại Trần Xá/Vĩ Nhuế/Quảng Nạp (tức Phủ Nấp hay Phủ Quảng Cung thuộc Nam Định ngày nay) vào thế kỉ XV; lần thứ hai xuống nhà họ Lê ở Vân Cát (tức Phủ Giầy thuộc Nam Định ngày nay) vào thế kỉ XVI; lần thứ ba xuống nhà họ Hoàng ở Tây Mỗ (tức Phủ Mỗ hay Phủ Tây Mỗ thuộc Thanh Hoá ngày nay) vào thế kỉ XVII1.
Một đoạn dài của Cát thiên tam thế thực lục đã được sao chép vào VHTM-TLTB (in vào phần chữ Hán), rồi được phiên âm và dịch nghĩa sang quốc ngữ (in vào phần quốc ngữ). Có thể xem VHTM-TLTB bản in năm 1941 là tư liệu - quốc ngữ đầu tiên phiên dịch và sử dụng Cát thiên tam thế thực lục để thuyết minh về ba lần sinh hóa của Mẫu Liễu (có nhắc đến hai người con trai của Mẫu là Nhâm và Cổn) [Chu Xuân Giao 2010 : 96]. Cũng cần bổ sung thêm rằng, bản dịch tiếng Việt cho Cát thiên tam thế thực lục in trong VHTM-TLTB lại được ghi là do Ngô Vy Lâm thực hiện vào năm 1921 (Khải Định 6). Nguyên văn đoạn ghi tên người “diễn âm”, tức người dịch ra quốc ngữ, là: “Mộc ân tử Ngô-vy-Lâm cung diễn. Cung diễn này 4 tháng 6 năm Khải-Định thứ 6” [Khuyết danh 1941 : 16]. Ngô Vy Lâm, hay Ngô Vi Lâm theo một cách viết khác, có thể là một nhà nho tiến bộ ở đầu thế kỉ XX, mà hành trạng có thể tạm thấy như: tham gia giảng dạy hay biên soạn sách giáo khoa ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 [Vũ Ngọc Khánh 20071], đề tựa cho tập Tỳ bà quốc âm tân truyện của Kiều Oánh Mậu bản in khắc gỗ năm 1912 [Trần Văn Giáp 1990 : 166-167; Lại Nguyên Ân 1998], giữ chức tri huyện huyện Tiên Lữ vào năm 1914 và viết bài cho Đông Dương tạp chí [Ngô Vi Lâm 1914 ]. Nếu đúng là Ngô Vi Lâm này, thì chúng ta biết thêm một trường hợp trí thức tiến bộ đầu thế kỉ XX có nhiệt tâm đối với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu (những trường hợp khác có thể kể đến như: Kiều Oánh Mậu, Khiếu Năng Tĩnh, Đoàn Triển, Cao Xuân Dục, Trần Tán Bình, ...). Thêm nữa, cũng nhờ đó mà biết rằng, văn bản Cát thiên tam thế thực lục đã đến tay Ngô Vi Lâm và được ông trích phiên dịch từ năm 1921, tức chỉ mấy năm sau khi sách đó được ấn tống. Có thể nhóm soạn giả của VHTM-TLTB (hiện khuyết danh) có mối quan hệ xa gần nào đó với Ngô Vi Lâm1.
Không chỉ với Cát thiên tam thế thực lục đã in năm 1913, mà cũng đặc biệt không kém, cuốn VHTM-TLTB ra mắt bạn đọc năm 1941 này còn có quan hệ sâu sắc tới cả sự kiện phát hiện ra ngọc phả đồng ở đền Sòng năm 1939 và bản thân nội dung ngọc phả. Quan hệ này nằm ở hai điểm sau. Một là, sách công bố bản sao chép toàn bộ nội dung ngọc phả bằng chữ Hán đã tìm thấy tại đền Sòng (bản sao đặt ở phần chữ Hán của sách), và đã tiến hành phiên âm rồi dịch trọn vẹn sang quốc ngữ văn bản này. Đây là bản sao chép và phiên dịch ngọc phả đồng vẫn chưa hề được biết đến trong giới nghiên cứu cũng như bạn đọc phổ thông. Như sẽ trình bày tiếp theo, có một bản sao chép khác hiện được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm với tiêu đề Vân Cát Lê gia ngọc phả [Khuyết danh 1940], nhưng đó là văn bản chép tay mà không phải là bản in như trong VHTM-TLTB. Quí hơn nữa, ngoài bản chép ngọc phả, VHTM-TLTB còn có luôn cả một bản dịch trọn vẹn ngọc phả ở thời điểm trước năm 1941, tức là ngay sau khi người ta tìm được ngọc phả tại đền Sòng (ngoài bìa của sách này vừa ghi niên đại “1941” lại vừa ghi “Năm Bảo Đại thứ 14 - tháng 7”, nên có thể suy đoán rằng: sách đã được chuẩn bị bản thảo từ năm Bảo Đại 14, tức tháng 7 năm 1939). Về bản chép ngọc phả và bản phiên dịch này, chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập ở phần tiếp theo của bài viết. Hai là, tuy ngắn gọn nhưng VHTM-TLTB có hai chỗ ghi khá chi tiết về bối cảnh của việc phát hiện ra ngọc phả: một bằng chữ Hán (nằm ở cuối cùng trong bản chép ngọc phả mở đầu với chữ bị chú 備註- từ đây trở xuống viết tắt là “chỗ ghi bối cảnh bằng Hán văn”); một bằng quốc ngữ (ghi ở một tờ rời nhỏ đính kèm vào sách, giống như tờ đính chính in bổ sung sau khi sách đã in ra - viết tắt là “chỗ ghi bối cảnh bằng quốc ngữ”). Về điểm thứ hai này, xin đề cập chi tiết thêm như sau.
Bản chép ngọc phả trong VHTM-TLTB được đánh số trang theo thứ tự Hán văn từ 1 (nhất壱) đến 10 (thập拾). Chỗ ghi bối cảnh bằng Hán văn (xem Hình 2) thì được đặt ở một trang sau trang 10, nhưng không đánh số trang, như là để nhắc rõ rằng: trở lên (tức từ trang 1 đến trang 10) là phần ngọc phả đã được chép y nguyên, còn đây là phần bị chú (tức chú thích ghi thêm của người chép). Bị chú gồm 7 dòng chữ Hán, có thể được dịch như sau:
“Ghi chú: Ngày 23 tháng 2 năm Kỉ Mão, tức năm Bảo Đại 14, tính sang dương lịch là ngày 12 tháng 4 năm 1939, đúng vào ngày đại lễ ở Sùng Sơn linh từ. Hôm ấy, lúc 7 giờ sáng, có một bà cụ từ miền bắc tới dâng hai gốc ngọc lan. Bà cụ thuê người trồng vào chỗ có tấm bình phong ở trước cửa đền. Đào sâu vào lòng đất thì thấy một quyển ngọc phả bằng đồng này. Người trong hội đồng bản đền bẩm việc lên quan trên. Quan tỉnh đề nghị giữ ngọc phả ở đền Sùng Sơn làm của quí trong đồ thờ cúng. Kính cẩn sao chép y nguyên. Đưa làm phần đầu của tập này”1.
Chỗ ghi bối cảnh bằng quốc ngữ trong VHTM-TLTB chính là bản dịch tiếng Việt của một dịch giả khuyết danh cho Chỗ ghi bối cảnh bằng Hán văn đã nói ở trên. (xem chi tiết bản dịch đó ở Hình 3)
Hình 3: Bản dịch bị chú bằng Hán văn về việc phát hiện ngọc phả ra quốc ngữ [Khuyết danh 1941]
Như vậy, VHTM-TLTB cho biết khá rõ về bối cảnh của sự kiện, bao gồm: thời gian (ngày 12 tháng 4 năm 1939), duyên cớ phát hiện (đào đất để trồng hai gốc ngọc lan do một cụ bà từ ngoài bắc vào dâng đền Sòng), địa điểm phát hiện (chỗ bức bình phong ở trước cửa đền), ý kiến của nhà chức trách (cho lưu giữ ở đền Sòng làm bảo vật). Ghi chép này cụ thể hơn, và cũng có chỗ khác một chút so với ghi chép trong BEFEO như đã đề cập ở trên. Chỗ khác đáng chú ý là ở duyên cớ phát hiện ngọc phả: một bên thì là đào đất với dự định chôn một tấm bia, một bên thì là đào đất để trồng hai gốc ngọc lan do một cụ bà mang đến dâng. Chúng ta cần tham chiếu thêm thông tin từ tư liệu thứ ba và thứ tư được trình bày tiếp theo đây.
Thứ ba, là một bài viết bằng Pháp văn dài 15 trang với tiêu đề “Documents concernant le temple Dên-Song, au Thanh-Hoa” đã đăng trên tạp chí BAVH số 1 năm 1941, cuối bài có in kèm 5 tấm ảnh [A. Lagrèze 1941]. Tác giả của bài viết này chính là viên quan công sứ người Pháp tại Thanh Hoá lúc đó (tức Résident de France à Thanh-Hoá), là A. Lagrèze (Antoine Lagrèze)1. Đây cũng là một tài liệu đặc biệt mà lâu nay học giới Việt Nam ít biết đến. Bài viết cho thấy A. Lagrèze là một viên công sứ tinh thông cả tiếng Việt và Hán văn, am hiểu phong tục Việt Nam, lại có quan tâm với việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu2.
Bài viết của Lagrèze có 4 phần chính. Phần mở đầu giới thiệu chung về Mẫu Liễu như một vị thần được sùng kính nhất ở miền bắc và miền trung Việt Nam và các nơi thờ bà ở Thanh Hoá (như đền Rồng, đền Sòng, Chín Giếng, Phố Cát); ở đây, tác giả có điểm các bài viết về thánh mẫu Việt Nam đã đăng trên BAVH vào các năm 1914-1915 của Đào Thái Hành và Nguyễn Đình Hoè. Tiếp theo, phần thứ hai là trình bày của Lagrèze về truyền thuyết ba lần sinh hoá của thánh mẫu Vân Hương, tức Mẫu Liễu. Phần thứ ba là bản dịch ngọc phả tìm được ở đền Sòng trọn vẹn sang tiếng Pháp; trong bản dịch, ở những chỗ cần thiết đều chú thêm chữ Hán. Cuối cùng, ở phần phụ lục là 5 tấm ảnh có liên quan đến ngọc phả và khung cảnh đền Sòng, đền Phố Cát.
Điều đặc biệt đáng lưu ý là, ở thời điểm năm 1941 (bản thảo chắc phải được chuẩn bị trước đó hàng năm), trong phần hai của bài viết, Lagrèze lần đầu tiên giới thiệu bằng tiếng Pháp về truyền thuyết ba lần giáng sinh của Mẫu Liễu giống hệt như hệ thống truyền thuyết ở Phủ Nấp được ghi vào Cát thiên tam thế thực lục năm 1913 và VHTM-TLTB năm 1941 (1939) như đã trình bày ở trên. Cụ thể thì, lần giáng sinh đầu tiên (“Première incarnation de la Déesse Vân Hương” trong nguyên bản) là xuống làng Nhuỵ Nhuế [tức Vỉ Nhuế, hay Quảng Nạp] phủ Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định; lần thứ hai (“Réincarnation de la Déesse Vân Hương”) là xuống làng Vân Cát huyện Thiên Bản tỉnh Nam Định; lần thứ ba (“Apparitions postérieures”) là xuống làng Tây Mụ [tức Tây Mỗ] huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá. Phần thứ hai này trong bài của Lagrèze [A. Lagrèze 1941 : 3-9] giống đến chi tiết với phần mang tiêu đề “Sự tích đức Vân Hương Thánh Mẫu tức là đức Liễu Hạnh công chúa” trong sách VHTM-TLTB [Khuyết danh 1941 : 38-42]. Không chỉ trong truyền thuyết ba lần giáng sinh, mà ngay cả những sự kiện mới xảy ra, như việc quan Bố chánh tỉnh Thanh Hoá lúc đó là Tôn Thất Toại đã chủ trì việc tu bổ đền Sòng trong các năm 1938-1939 biến nó thành một ngôi đền nguy nga tráng lệ, hai tư liệu này đều ghi tương đối giống nhau [Khuyết danh 1941 : 41; A. Lagrèze 1941 : 8-9]. Bởi vậy, có thể đặt hai giả thiết sau: hoặc là hai tư liệu này đã có sự tham khảo qua nhau (có thể những người biên soạn hai tư liệu đó có mối quan hệ nào đó), hoặc cả hai cùng tham khảo Cát thiên tam thế thực lục bằng Hán văn và một bản lược dịch bằng tiếng Việt nào đó (phải chăng là đã có bản lược dịch của chính Ngô Vi Lâm vào năm 1921). Tuy nhiên, Lagrèze không cho biết lúc đó ông dựa vào tài liệu nào để soạn phần truyền thuyết về ba lần giáng sinh của Mẫu Liễu, cho dù ở phần mở đầu thì ông có nhắc đến các nghiên cứu đã xuất bản từ đầu thập niên 1910 của Đào Thái Hành và Nguyễn Đình Hoè (hai vị này thì chưa hề biết đến Cát thiên tam thế thực lục cũng như truyền thuyết ba lần giáng sinh). Đồng thời, ở chiều ngược lại, VHTM-TLTB cũng không nhắc gì đến công sứ Lagrèze.
Liên quan đến ngọc phả đồng mới phát hiện tại đền Sòng lúc đó, thì ngoài bản dịch trọn vẹn sang tiếng Pháp, công sứ Lagrèze có cho biết về bối cảnh sự kiện như sau: 1. Cuốn ngọc phả bằng đồng đã được tìm thấy trong đợt tu bổ đền Sòng do quan Bố chánh tỉnh Thanh Hoá là Tôn Thất Toại chủ trì trong các năm 1938-1939 (xem Hình 4); 2. Chi tiết hơn, cuốn ngọc phả được tìm thấy tại ngôi đền này vào ngày 12 tháng 4 năm 1939 (xem Hình 5); 3. Ngọc phả gồm 5 tờ/lá. Trên tờ đầu có ghi “Thiên Bản Vân Cát Lê gia ngọc phả [Annales de Jade de la Famille des Lê, du village de Vân-Cát, huyện Thiên-Bản ]” [A. Lagrèze 1941 : 9].
Hình 4 : Đoạn Lagrèze thuật việc tìm thấy ngọc phả ở đền Sòng [A. Lagrèze 1941 : 9]
Hình 5 : Đoạn Lagrèze miêu tả về cuốn ngọc phả [A. Lagrèze 1941 : 9]
Như vậy, ở đây, thông tin do công sứ Lagrèze cung cấp về ngọc phả và bối cảnh phát hiện ra nó có khác chút ít so với thông tin của BEFEO và VHTM-TLTB đã trình bày ở trên. Điểm chung quan trọng là chi tiết ngày tháng ngọc phả được phát hiện: ngày 12 tháng 4 năm 1939.
Thứ tư, là một bản sao chép khác của cuốn ngọc phả đồng, hiện được bảo quản tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm dưới tiêu đề Vân Cát Lê gia ngọc phả 雲葛黎家玉譜 mang kí hiệu A.3181 [Khuyết danh 1940]. Tư liệu mang kí hiệu A.3181 này (từ đây trở xuống viết tắt là VCLG-NP) có thể là bản sao được thực hiện ngay vào năm 1940, mà cũng có thể chỉ là bản sao lại từ một bản sao năm 1940 để rồi nạp vào kho sách của EFEO trước đây ở thời điểm muộn hơn năm 1940 (tức là bản sao của bản sao). VCLG-NP ở dạng chép tay và bản sao trong VHTM-TLTB ở dạng in tuy cùng có gốc là ngọc phả đồng đã phát hiện năm 1939 tại đền Sòng, nhưng giữa chúng có những điểm khác nhau trong chi tiết.
Khác với ba tư liệu đã trình bày ở trên, VCLG-NP đã được giới nghiên cứu biết đến khá rộng rãi, có lẽ do nó có mặt từ lâu trong một kho sách ở tầm quốc gia. Người đầu tiên đề cập đến VCLG-NP có lẽ là Vũ Ngọc Khánh vào năm 1992. Ông viết (xin dẫn một đoạn dài để giữ nguyên được ý của tác giả):
“Chúng tôi có được thấy ở Thư viện Hán Nôm cuốn sách mang ký hiệu A3181. Đó là cuốn Vân Cát Lê gia ngọc phả. Sách chỉ có 11 trang viết, được soạn vào năm Vĩnh Tự [đánh máy nhầm của Vĩnh Tộ - cxg chú] thứ năm. Nhưng đây là bản sao lại năm Bảo Đại XV (1940). Sách này có bảng Lê gia thế hệ, ghi rất sơ lược chỉ có ba đời. Sự sơ lược này, dễ làm cho ta lưu ý những thông tin cần thiết. (...) Sách Vân Cát Lê gia ngọc phả, có ghi tên người soạn là Nguyễn Quốc Trinh...Nhưng dù đây là một Nguyễn Quốc Trinh khác, thì Lê gia ngọc phả vẫ là tài liệu trước nhất ghi chép về Liễu Hạnh. (...) Cùng với sự phát hiện Vân Cát Lê gia ngọc phả A3181, tôi còn được biết thêm là ở đền Sòng (Thanh Hoá), cũng có bản này, nội dung tương tự. Địa phương cho biết, vào năm 1939, tổng đốc Thanh Hoá cho trùng tu đền Sòng (làng Cổ Đam, huyện Hà Trung), tìm ra được một bản ngọc phả bằng đồng gồm 5 tờ, ghi những chi tiết Lê Tư Vĩnh gửi hậu cho con gái là Giáng Tiên, như có nói trong A3181. Nguyên bản bằng đồng lá hiện nay không rõ ở đâu, song bản dịch có được công bố trong cuộc hội thảo do Hội Văn nghệ Thanh Hoá mới tổ chức ngày 24-4-1992. (Tham luận của Huy Sanh, nguyên Phó Trưởng ty văn hoá, tôi có trực tiếp đọc)” [Vũ Ngọc Khánh 1992 : 35].
Sau đó, nội dung thông tin này đã được sử dụng/trích dẫn hay triển khai thêm trong các nghiên cứu khác, như của Nguyễn Đình San năm 1995, của Phạm Quỳnh Phương năm 1996-2002, Ngô Đức Thịnh năm 2009-2010 [Nguyễn Đình San 1995 : 39; Phạm Quỳnh Phương 2002 : 142, 2007 : 113-114; Ngô Đức Thịnh 2009 : 109-110, 2010 : 1391],...
Đáng lưu ý là vào năm 1995, Nguyễn Đình San đã công bố một bản dịch tiếng Việt của VCLG-NP được thực hiện bởi nhà nghiên cứu Hoàng Hồng Cẩm thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm [Khuyết danh (Hoàng Hồng Cẩm dịch) 1995 ]. Có thể xem đó là bản dịch tiếng Việt đầu tiên của VCLG-NP. Tuy vậy, hai nhà nghiên cứu này (Nguyễn Đình San, Hoàng Hồng Cẩm) đều không biết đến để đối chiếu với một bản sao khác của nó nằm trong VHTM-TLTB đã in năm 1941.
Đến đây, có thể tạm qui ước như sau đối với hai bản sao hiện thấy của ngọc phả đồng. Bản sao nằm trong VHTM-TLTB đã in năm 1941 là bản sao ngọc phả số 1 (có gồm cả bị chú ở cuối bản sao). Bản sao nằm trong cuốn VCLG-NP đang được bảo quản tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm với kí hiệu A.3181 là bản sao ngọc phả số 2 (có bao gồm cả ghi chú ở cuối bản sao).
Ở bản sao ngọc phả số 2 cũng có một ghi chú được bổ sung vào cuối văn bản, tức là những dòng viết thêm của người sao chép sau khi đã thực hiện xong việc sao ngọc phả đồng. Do khác người chép và hoàn cảnh chép, nên nội dung của ghi chú này khác với trang “bị chú” của bản sao ngọc phả số 1 (đã trình bày ở trên). Cụ thể ghi chú đó như sau:
“Ngày 18 tháng giêng năm Bảo Đại thứ 15 [1940] vâng sao chép. Bản gia phả này do quan thái tử Thiếu Bảo Đông các đại học sĩ Văn Tân Nam, đã hưu trí là Mai Trung và phu nhân là Nguyễn Thị Thục ở xã Miên Nha, tỉnh Kiến An, cúng hai cây ngọc lan vào đền Sùng Sơn ở Thanh Hoá, khi đào đất lên thì được một quyển sách ngọc phả bằng đồng lá, mang về cho dân xã phụng thờ. Vì thế mới có chuyện ghi chép này (Thừa sao bản chính để tham khảo)” [Khuyết danh (Hoàng Hồng Cẩm dịch) 1995 : 157 ].
Đọc kết hợp những dòng ghi chú này với bị chú của bản sao ngọc phả số 1, chúng ta biết thêm được thông tin về người đã mang hai cây ngọc lan dâng vào đền Sòng mở đầu cho duyên cớ phát hiện ra ngọc phả. Nếu ở bị chú của bản sao ngọc phả số 1, chúng ta mới chỉ biết chung chung là “một bà cụ từ miền bắc tới dâng hai gốc ngọc lan”, thì đến đây biết được rằng: bà cụ ấy là Nguyễn Thị Thục. Hơn nữa, còn biết Nguyễn Thị Thục là phu nhân của ông quan đã về hưu là Mai Trung ở Hải Phòng. Mai Trung ở đây chính là chỉ Mai Trung Cát - một người nổi danh, có những đóng góp quan trọng cho việc kiến thiết hay tôn tạo các di tích ở khu vực Phủ Giầy vào cuối thập niên 1930 (có lẽ thành Mai Trung là do lỗi đánh máy, hay lỗi bỏ sót chữ của người dịch).
Cũng lưu ý là: ghi chú của bản sao ngọc phả 2 không cho biết ngày tháng cụ thể mà bà Nguyễn Thị Thục đã dâng hai gốc lan, trong khi đó, bản sao ngọc phả 1 và tư liệu của công sứ Lagrèze thì ghi rõ “ngày 12 tháng 4 năm 1939”. Tuy vậy, bản sao ngọc phả 2 lại ghi ngày tháng thực hiện việc sao chép là “ngày 18 tháng giêng năm Bảo Đại thứ 15 [tức ngày 25 tháng 2 năm 1940]”, đồng thời, có nói đến việc người ta đã mang ngọc phả đồng nguyên bản về thờ phụng (tức thờ phụng ở Phủ Giầy). Do đó, kết hợp với ghi chép vào thập niên 1970 của Tuấn Cầu đã trình bày ở trên, và với kí ức không rõ ràng của một số vị cao niên hiện cư trú xung quanh khu vực phủ Vân Cát ngày nay (các năm 2009-2012), thì có thể suy đoán rằng: sang đầu năm 1940, ngọc phả đồng tìm thấy đầu năm 1939 ở đền Sòng tỉnh Thanh Hoá đã được phép chuyển về để thờ phụng ở phủ Vân Cát1. Bản sao ngọc phả 2 có thể được thực hiện tại phủ Vân Cát vào thời điểm đó. Có thể giả định là người ta đã mở ngọc phả tại phủ Vân Cát và cho phép sao chép sang giấy. Bản sao đó hay bản sao lại của nó (tức bản sao của bản sao) đã được chuyển về kho sách của EFEO trước đây.
Đến đây, sau những trình bày ở trên, có thể đi đến tạm kết như sau về bối cảnh cũng như diễn tiến của sự kiện phát hiện ngọc phả đồng tại đền Sòng năm 1939.
Một là, ngọc phả được phát hiện một cách có vẻ ngẫu nhiên trong khung cảnh chung của lần đại trùng tu tôn tạo đền Sòng vào các năm 1938-1939 do quan Bố chánh tỉnh Thanh Hoá lúc đó là Tôn Thất Toại chủ trì. Qua đối chiếu tư liệu ở nhiều nơi, chúng tôi biết rằng, cùng khoảng thời gian trên, ông Tôn Thất Toại có tham gia hay chủ trì nhiều hạng mục kiến thiết mới hay trùng tu các công trình kiến trúc liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu tại miền bắc và miền trung (Lăng Mẫu bằng đá tại Phủ Giầy thuộc Nam Định, đền Sòng và phủ Tây Mỗ tại Thanh Hoá,...). Cũng có thông tin vị này đã trước tác và cho ấn tống một số tác phẩm liên quan đến truyền thuyết Mẫu Liễu, nhưng hiện chúng tôi chưa xác nhận được. Mối quan hệ giữa cá nhân ông Tôn Thất Toại với việc phát hiện ra ngọc phả bằng đồng ở đây, theo chúng tôi, nên được đặt ra cho những khảo cứu tiếp theo.
Hai là, thời gian cụ thể phát hiện ra ngọc phả là ngày 12 tháng 4 năm 1939 (tức ngày 23 tháng 2 năm Kỉ Mão, niên hiệu Bảo Đại 14). Ngọc phả gồm 5 hay 6 tấm/ lá đồng, trên có khắc chữ Hán, mở đầu với tiêu đề Thiên Bản Vân Cát Lê gia ngọc phả 天本雲葛黎家玉譜.
Ba là, duyên cớ trực tiếp để làm phát lộ ngọc phả có thể ở hai khả năng. Hoặc là khi người ta đào đất để trồng ngọc lan do bà Nguyễn Thị Thục (phu nhân của ông Mai Trung Cát) ở Hải Phòng dâng cho đền Sòng vào dịp đó. Hoặc cũng có thể là khi người ta đào đất để chôn một tấm bia đá. Chúng ta cũng cần chú ý tìm hiểu thêm về mối quan hệ giữa ông bà Mai Trung Cát với việc phát hiện ra ngọc phả đồng.
Bốn là, sự kiện đào được ngọc phả này đã được phía nhà đền trình báo cho quan tỉnh ở Thanh Hoá. Quan tỉnh có trả lời là cho phép lưu giữ ngọc phả tại đền Sòng làm bảo vật.
Năm là, viên quan công sứ Pháp ở Thanh Hoá - cùng với tổng đốc, là hai chức quan cao nhất tỉnh lúc đó - là A. Lagrèze đã tới đền Sòng khảo sát ngọc phả. Qua đó, A. Lagrèze đã viết và gửi đăng một bài bằng tiếng Pháp về ngọc phả trên tạp chí BAVH năm 1941. A. Lagrèze không sao chép nguyên văn chữ Hán của ngọc phả vào bài viết trên, nhưng đã thực hiện một bản dịch trọn vẹn sang tiếng Pháp (ở những chỗ cần thiết đều chua thêm chữ Hán).
Sáu là, một bản sao nguyên văn chữ Hán có kèm bản dịch tiếng Việt đã được một hay một nhóm tác giả/dịch giả khuyết danh công bố trong cuốn Vân Hương thánh mẫu thực lục tân biên (sách được xuất bản năm 1941 tại Hà Nội). Bản sao này (gọi tắt là bản sao ngọc phả 1) có thể được thực hiện tại đền Sòng trong thời gian ngọc phả còn được bảo quản tại đền Sòng.
Bảy là, có thể sau một thời gian bảo quản tại đền Sòng, ngọc phả đồng nguyên bản đã được cho phép chuyển về phủ Vân Cát để thờ phụng. Có thể là vào tháng 2 năm 1940. Sau khi ngọc phả được trao cho phủ Vân Cát, người ta đã cho phép mở và thực hiện một bản sao trên giấy. Một bản sao khi đó (hay bản sao lại của nó) đã được gửi vào kho sách của EFEO ở Hà Nội. Bản sao này (gọi tắt là bản sao ngọc phả 2) được thực hiện và tồn tại độc lập với bản sao tại đền Sòng hiện thấy trong sách VHTM-TLTB.
Các điểm được liệt kê ở trên sẽ giúp ích cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn về bản thân nội dung của ngọc phả, và về dư luận lúc đương thời cũng như sau này đối với nó.
2. Tóm tắt nội dung ngọc phả
Trước khi đề cập đến nội dung của ngọc phả, cần phải nói rõ rằng, ở thời điểm hiện tại, chúng tôi chưa trực tiếp được thấy chính bản bằng đồng của nó. Cũng không ai biết chính bản đó hiện đang được bảo quản ở đâu (không có trong Bảo tàng hay Thư viện Tổng hợp tỉnh Thanh Hoá, cũng không có ở đền Sòng hay Phủ Giầy,..1). Có lẽ chính bản đã bị thất lạc từ lâu.
Về ảnh chụp của chính bản ngọc bản ngay sau khi phát lộ, hiện cũng chỉ thấy được vài tấm do A. Lagrèze công bố ở phần phụ lục của bài viết trên BAVH năm 1941 như đã nói. Trong 5 tấm ảnh mà A. Lagrèze công bố, có 3 bức chụp trực tiếp chính bản ngọc phả, cả 3 đều ghi người hay cơ quan/tổ chức chụp là Degremont (nguyên văn là “Cliché Degremont”)2. Ba bức đó gồm: bức số 1 (Planche I) là tổng quan cuốn ngọc phả và cái hộp đựng; bức số 2 (Planche II) là ví dụ hai trang bên trong; bức số 4 (Planche IV) là địa điểm cụ thể trong khu vực đền Sòng đã phát hiện ra ngọc phả. Ở bài này, do khuôn khổ bị hạn chế, chỉ xin đăng lại bức số 2 (xem Hình 6).
Hình 6 : Hai trang của cuốn ngọc phả đồng [A. Lagrèze 1941]
Rất tiếc là A. Lagrèze không sao chép nguyên bản Hán văn của ngọc phả, và không có hay không công bố ảnh chụp cận cảnh hơn nữa của cả 6 trang sách đồng (chỉ thấy mờ mờ như trong Hình 6). Bởi vậy, bản dịch ngọc phả sang tiếng Pháp mà ông thực hiện dù có ý nghĩa quan trọng về mặt tư liệu, nhưng để nghiên cứu trực tiếp về nội dung của cuốn ngọc phả thì nó chỉ có giá trị ở bực thứ cấp so với bản sao ngọc phả số 1 và bản sao ngọc phả số 2 đã nói ở trên. Có nghĩa là, về nguyên tắc văn bản học, để khôi phục lại bản ngọc phả bằng Hán văn từ các nguồn tư liệu hiện có, chúng ta cần lấy bản sao ngọc phả số 1 và bản sao ngọc phả số 2 là cụm bản nền1. Ngoài ra, các bản dịch tiếng Việt hay tiếng Pháp đã công bố sẽ được sử dụng làm tài liệu bổ trợ (gồm có: bản dịch Pháp văn của Lagrèze năm 1941, bản dịch tiếng Việt của tác giả khuyết danh năm 1941, và bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hồng Cẩm năm 1995).
Chúng tôi vẫn kì vọng, mà lí tưởng nhất là có thể tìm thấy lại được chính bản của ngọc phả đang nằm ở một nơi nào đó, và ở mức thấp hơn thì là có thể thấy thêm một hay một vài bản sao khác được thực hiện ở gần thời điểm tìm ra ngọc phả tại đền Sòng năm 19392. Ở đây, chúng tôi tạm thực hiện việc đối sánh bản sao ngọc phả số 1 và bản sao ngọc phả số 2 để cung cấp một tóm tắt về nội dung của ngọc phả. Bản khôi phục nguyên văn ngọc phả, và bản dịch đầy đủ của chúng tôi, sẽ được công bố ở một dịp khác.
Theo thứ tự từ mở đầu đến kết thúc, bố cục nội dung của ngọc phả gồm 8 đoạn/phần. Nội dung khái lược của các đoạn như sau.
Đoạn 1. Mở đầu. Tựa như là lời dẫn/lời tựa thường thấy trong các cuốn gia phả hay tộc phả (ngọc phả cũng mở đầu bằng câu quen dùng là “Cái văn, mộc hữu bản, kha diệp tổ dã” - “Thường nghe, cây có gốc, đó là tổ của cành và lá”).
Đoạn 2. Lời tự thuật của ông Lê Tư Thắng 黎思勝 về việc gửi hậu cho làng Vân Cát. Ông bà không còn con cái, nên gửi hậu để làng Vân Cát hương khói cho sau khi qua đời. Đó cũng chính là lí do để lập gia phả. Ông Lê Tư Thắng sử dụng lối xưng hô trực tiếp trong gia phả, tức tự xưng là “lão phu 老夫” (kẻ già này, kẻ già là tôi này, tôi). Về danh nghĩa, ông chính là người lập nên ngọc phả này.
Đoạn 3. Lời kể của Lê Tư Thắng về người thân sinh ra mình là ông Lê Tư Vĩnh 黎思永. Lê Tư Vĩnh thuộc dòng dõi vua Lê Thái Tổ (1428-1433), là cháu đời thứ sáu của Lạng Sơn vương là Lê Tư Cung 思, mà Lê Tư Cung là con thứ năm của hoàng đế Lê Nhân Tông (1443-1459). [Như vậy, có thể hiểu Lê Tư Cung là cháu đời thứ bảy của hoàng đế Lê Nhân Tông1]. Đến khi vận nhà Lê suy, nhà Mạc lên, thì Lê Tư Vĩnh dẫn gia đình về làng Vân Cát (nguyên văn “làng Vân Cát xã An Thái huyện Thiên Bản trấn Nam Sơn Hạ 南山下镇天本縣安泰社雲葛村”) để ẩn cư. Tại đây, ông đã kết duyên cùng một người con gái họ Trần. Đến năm Lê Tư Vĩnh 34 tuổi, phu nhân sinh được một người con trai, chính là Lê Tư Thắng - đời thứ hai. Lê Tư Thắng sau này đã phát huy nếp nhà, trở thành người giàu có loại nhất làng.
Đoạn 4. Lời kể của Lê Tư Thắng về hai người con của ông. Ông là người giàu có nhưng ngặt nỗi hiếm muộn về đường con cái. Người con đầu chào đời năm Lê Tư Thắng 41 tuổi, nhưng đã mất sớm. Người con thứ hai là gái, chào đời vào ngày rằm tháng 8 năm Đinh Tị niên hiệu Thiên Hựu (1557), khi Lê Tư Thắng đã 45 tuổi [như vậy, có thể hiểu Lê Tư Thắng sinh năm 1542 hay 1543, và Lê Tư Vĩnh sinh năm 1508 hay 1509]. Người con gái này được thần tiên báo mộng nên đặt tên là Giáng Tiên 降仙, là một trang sắc nước hương trời, đủ cả công dung ngôn hạnh. Sau Giáng Tiên được đem gửi làm con nuôi ở nhà họ Trần. Đến khi 18 tuổi [tức năm 1574 hoặc 1575], Giáng Tiên được cha là Lê Tư Thắng chọn gả cho Trần Đào Lang là con trai một vị quan. Đến năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Thái (1577), Giáng Tiên nói lời từ biệt với cha mẹ, rồi không bệnh tật gì mà hoá [tức là sau khi về nhà chồng được khoảng 3 năm]. Gia đình vô cùng thương tiếc.
Đoạn 5. Lê Tư Thắng nhắc lại lí do gửi hậu (tuổi đã hơn 60, không còn con cái, nên đem nhà cửa ruộng đất giao cho làng làm nhà thờ và ruộng kị). Giao ước về việc làng Vân Cát sẽ đời đời thờ ba thế hệ nhà họ Lê, gồm: cha mẹ Lê Tư Thắng (tức đời Lê Tư Vĩnh), vợ chồng Lê Tư Thắng, con gái của Lê Tư Thắng (tức Giáng Tiên). Giao ước này sẽ đem khắc lên đồng để truyền mãi mãi.
Đoạn 6. Thời gian làm phả kí là ngày 15 tháng 8 năm Vĩnh Tộ 5 (1623). Lê Tư Thắng cùng hương chức già trẻ làng Vân Cát cùng nhau lập phả. Huyện bác 縣博 huyện Thiên Bản là Nguyễn Quốc Trinh 阮國楨 vâng soạn.
Đoạn 7. Ghi thế thứ 3 đời nhà họ Lê được dân làng đời đời thờ phụng (từ đời thứ nhất tức đời ông nội là Lê Tư Vĩnh, tới đời thứ ba tức đời cháu là Lê Giáng Tiên. Trong nguyên bản, đoạn này bắt đầu bằng dòng [Nhất] phụng lục hậu thần Lê gia thế hệ 一奉錄后神黎家世系. Lê Giáng Tiên được ghi là Liễu Hạnh tiên cô 柳杏仙姑. Có ghi ngày giỗ và vị trí mộ của đời thứ nhất. Về Liễu Hạnh tiên cô, chỉ ghi ngày giỗ (mồng 3 tháng 3) mà không ghi về mộ phần. [Người con đầu của ông Lê Tư Thắng không được ghi vào thế thứ này, có lẽ là do mất khi còn quá nhỏ].
Đoạn 8. Ghi chi tiết về nhà cửa, ruộng vườn, hồ ao (diện tích, vị trí, mục đích) và tiền mặt mà vợ chồng ông Lê Tư Thắng đã gửi cho làng Vân Cát.
Các nội dung trên cần được đối chiếu với các tư liệu khác liên quan đến sự tích Mẫu Liễu ở Phủ Giầy, như Tiên từ phả kí, Cát thiên tam thế thực lục, Vân Cát thần nữ truyện. Ở đây, chỉ nhấn mạnh đến một chi tiết quan trọng về năm sinh năm mất của Mẫu Liễu (mới tạm chú ý đến cấp độ năm, chưa tính đến tháng, ngày và giờ). Ngọc phả đồng cho biết: ngài sinh vào năm Đinh Tị đời Thiên Hựu (tức năm 1557) và mất vào năm Đinh Sửu đời Gia Thái (tức năm 1577), hưởng dương 21 năm. Có thể thấy thông tin về năm sinh năm mất này là trùng hoàn toàn với ghi chép trong Tiên từ phả kí bản Kiều Oánh Mậu (trong Kiều Oánh Mậu 1910, cũng ghi sinh năm Đinh Tị 1557 và mất năm Đinh Sửu 1577). Tuy nhiên, lại có khác một chút so với Tiên từ phả kí bản Bùi Hạnh Cẩn - Lê Trân (trong Bùi Hạnh Cẩn - Lê Trân 1993, ghi năm sinh Bính Thìn 15561; năm mất thì vẫn là Đinh Sửu 1577). Theo thuyết tam thế luân hồi, thì đây là năm sinh và năm mất của Mẫu Liễu ở lần giáng sinh thứ hai xuống khu vực Phủ Giầy ngày nay.
3. Dư luận đương thời và hậu thế
Có thể phân dư luận liên quan đến ngọc phả đồng (sự kiện và nội dung) thành hai luồng chính. Một là luồng dư luận coi trọng nội dung của ngọc phả, và hướng đến mục tiêu truy cứu cỗi nguồn của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu, gọi tắt là luồng dư luận truy cứu cỗi nguồn. Còn một thì là luồng dư luận coi trọng tính thời điểm của việc phát hiện ra ngọc phả, từ đó mà hướng đến truy cứu âm mưu ẩn tàng ở trong sự kiện, gọi tắt là luồng dư luận truy cứu âm mưu.
Trước khi trình bày về hai luồng dư luận này, cần thiết điểm qua những thông tin sai nhầm hay những ngộ nhận đang tiếp tục thấy lan truyền trong học giới về ngọc phả đồng, với ý nghĩa như là đính chính để từ nay về sau không lặp lại.
Trước hết, có thể đặt giả thiết rằng, trước đây và hiện nay, tại Bảo tàng Thanh Hoá có một bản dịch ở dạng tư liêu đánh máy mang tiêu đề Những tư liệu có liên quan đến đền Sòng tỉnh Thanh Hoá (dịch từ nguyên bản tiếng Pháp, người dịch có thể là Hoàng Tài). Chúng tôi chưa được tiếp xúc với chính bản của tư liệu này, nên không biết tư liệu vốn có bao nhiêu trang, bao nhiêu phần, và được hoàn thành vào năm nào1, nhưng thấy một số nghiên cứu có nhắc tới và trích lục tư liệu này, như của các tác giả Đặng Anh, Phạm Quỳnh Phương, Trịnh Thị Lan [Đặng Anh 1999 : 69, 17-26. Phạm Quỳnh Phương 2003 : 21, 54, 56-65; 2004 : 131, 139. Trịnh Thị Lan 2010 : 95, 100-106]. Đáng chú ý là, tựa như bản đánh máy đang được xem là lưu ở Bảo tàng Thanh Hoá ấy vừa có lỗi trong đánh máy (đánh nhầm “1941” thành “1914”) lại vừa không ghi thông tin chi tiết về nguyên bản tiếng Pháp (xuất xứ, nội dung đầy đủ), nên các tác giả kể trên đều đồng loạt lầm tưởng đó là bản dịch của một bản tiếng Pháp đã hoàn thành năm 1914 (sách của Đặng Anh còn ghi là “1919”, có lẽ là do đánh máy nhầm thêm một lần nữa từ “1914”). Các tác giả nêu trên chỉ dựa theo bản dịch tiếng Việt, mà ghi thư mục về nó đại loại như “A. Lagreze (1914), “Những tư liệu có liên quan đến Đền Sòng tỉnh Thanh Hoá”, tài liệu lưu tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá” [Trịnh Thị Lan 2010 : 95], hoặc “A. Lagreze (1914), Những tư liệu có liên quan đến Đền Sòng tỉnh Thanh Hoá. Tư liệu đánh máy, Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá” [Phạm Quỳnh Phương 2003 : 54]. Thật ra, đó không phải là tài liệu của năm 1941, mà chính là bài viết công bố trên tạp chí BAVH năm 1941 của viên công sứ A. Lagrèze như đã trình bày ở trên. Thêm nữa, một đoạn dịch tiếng Việt dài mấy trang của dịch giả Hoàng Tài mà các tác giả trên đều trích dẫn toàn bộ mới chỉ là đoạn dịch nửa sau bài viết tiếng Pháp của A. Lagrèze, tức là đoạn trích dịch mà thôi1. Các tấm ảnh mà các tác giả nêu trên copy vào trong tác phẩm/công trình của mình, có khi được ghi chú là “ảnh tư liệu - Bảo tàng Thanh Hoá” hay “ảnh tư liệu của Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá” [Phạm Quỳnh Phương 2003 : 22, 30, 56, 65; Trịnh Thị Lan 2010 : 133-134], thật ra, tất cả đều là ảnh ở trong bài của A. Lagrèze (đã trình bày ở trên).
Tiếp theo, là nhầm lẫn phái sinh, vẫn là do không biết bài của A. Lagrèze đăng trên BAVH năm 1941 và nội dung thực chất của nó vốn là bản dịch ra tiếng Pháp từ bản Hán văn khắc trên đồng năm 1939, mà chỉ trích dẫn nguyên theo bản dịch của Hoàng Tài, nên các tác giả nêu trên đều nhất loạt ghi “Mô tả và dịch cuốn sách có tờ bằng đồng tìm được ở đền Sòng ngày 12-4-1939” [Đặng Anh 1999 : 17; Phạm Quỳnh Phương 2003 : 56; Trịnh Thị Lan 2010 : 100] nhưng rồi lại ghi đó là tài liệu do công sứ A. Lagrèze soạn năm 1914. Rõ ràng, một tài liệu soạn ở năm 1914 thì không thể nói được về sự kiện 1939. Thêm nữa, đó không phải là “cuốn sách có tờ bằng đồng” (lối diễn đạt không rõ nghĩa này của người dịch làm người ta có thể hiểu rằng trong cuốn sách đó có tờ bằng đồng), mà là “cuốn sách đồng/cuốn sách làm bằng đồng” hay “cuốn sách gồm các trang làm bằng đồng”. Dịch sang tiếng Anh, thì gần đây Olga Dror sử dụng từ “bzone book” (sách đồng) [ Olga Dror 2008 : 61].
Trở lại vấn đề chính, đầu tiên là với luồng dư luận truy cứu cỗi nguồn. Có thể xem nhận xét của tác giả Vũ Ngọc Khánh ở thời điểm năm 1992 đã dẫn trên đây là mở đầu của dư luận dạng này. Ở thời điểm đó, ông đã biết cuốn Vân Cát Lê gia ngọc phả mang kí hiệu A.3181 trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có nội dung tương tự ngọc phả bằng đồng phát hiện ở đền Sòng năm 1939 (tuy ông chỉ sử dụng qua một bài viết tiếng Việt của một nhà nghiên cứu địa phương ở Thanh Hoá). Ông lưu ý đến sự giản lược trong phần ghi các thế hệ của gia đình Mẫu Liễu: “rất sơ lược chỉ có ba đời”. Theo ông, đó là “một điểm mới đáng lưu ý. Liễu Hạnh là dòng dõi hoàng tộc. Ông thân sinh của bà là cháu nội của vua Lê, chạy loạn về một vùng xa kinh đô và đã gắn bó với cuộc sống của dân làng. Bản gia phả được gọi là ngọc phả có lẽ là vì thế. Chuyện Liễu Hạnh được giữ hậu cũng hợp với phong tục ở nông thôn: những gia đình không có người nối dõi. Các chuyện thần kỳ quen biết lâu nay, đều là những chuyện về sau cả” [Vũ Ngọc Khánh 1992 : 35]. Như vậy, ở đây chữ ngọc phả được lí giải như là một bản gia phả của một gia đình dòng dõi hoàng tộc.
Gốc gác hoàng gia của Mẫu Liễu được chú ý. Ở những nhà nghiên cứu tiếp theo đó, có thể thấy như: “Ngọc phả cho thấy Mẫu Liễu Hạnh có dòng dõi hoàng tộc. Theo ngọc phả này thì khoảng thế kỉ XVI, con trai vua Nhân Tông là Lê Tư Vĩnh đã chạy loạn (vì nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê) về lánh ở thôn Vân Cát, xã An Thái, Vụ Bản. Như vậy ông nội của Liễu Hạnh là con trai vua Lê” [Phạm Quỳnh Phương, 2002 : 142]; hay như: “Nếu bản gia phả này là một tư liệu xác thực thì Giáng Tiên - Liễu Hạnh là một nhân vật có thực, có dòng dõi hoàng tộc nhà Lê, sinh ra từ đất Vân Cát, có ngày sinh thang đẻ, có mồ mả sau khi mất (nay là ngôi mộ Thánh Mẫu ở Phủ Dày, do Nam Phương Hoàng hậu bỏ tiền xây dựng vào những năm 30 của thế kỉ XX). Sau này, trong một môi trường xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, Giáng Tiên đã hiển linh và hoá thành Liễu Hạnh công chúa, rồi Thánh mẫu Liễu Hạnh một cách tạo thần mang tính Phương Đông, giống như Thiên Hậu Thánh Mẫu thời Tống ở Trung Quốc” [Ngô Đức Thịnh 2009 : 110],...
Cùng với hướng truy tìm gốc gác của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu trong liên đới với tín ngưỡng thờ thần biển, với tín ngưỡng thờ Thiên Y đến từ phương Nam (“Thiên Y Liễu Hạnh”) đã trình bày trong Thần người và đất Việt [Tạ Chí Đại Trường 2006 : 190 - 193], gần đây, có lẽ do tiếp xúc được với nguyên bản bài viết của công sứ A. Lagrèze năm 1941, Tạ Chí Đại Trường trở lại với liên đới nội tại/nội địa với tục gửi hậu ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Gửi hậu là phong tục mang tính phổ biến nơi đây, nhưng từ gửi hậu phát triển lên thành tín ngưỡng Mẫu Liễu, vẫn là con đường mà Tạ Chí Đại Trường cũng như các nhà nghiên cứu khác mới chỉ đặt ra ở tầm giả định tổng thể mà chưa có nghiên cứu cận cảnh. Có vẻ Tạ Chí Đại Trường nhấn mạnh yếu tố con nhà giàu hơn yếu tố hoàng tộc trong nguồn gốc xuất thân của Mẫu Liễu. Ông viết: “Có trường hợp lập hậu nổi danh nhất nhưng khuất lấp vì nhân vật được thờ cúng lại vượt quá giá trị ban đầu của một hồn ma để trở thành bậc thần thánh thiêng liêng. Đó là việc lập hậu vì tuyệt tự của nhà hào phú họ Lê làng Vân Cát, huyện Thiên Bản (Nam Định), có kèm theo người con gái yểu tướng, không hiểu vì nguyên nhân nào đã được đưa đẩy lên thành quái thần (Liễu Hạnh), càng lúc càng vươn xa tầm quyền lực siêu nhiên khiến bản giao ước được ghi lại trên các tấm thẻ đồng và được viên Huấn đạo địa phương Nguyễn Quốc Trinh phóng bút (1623); tập “Ngọc sách” đó được tìm thấy năm 1939 nơi vùng trú sở thứ hai của thần ở đền Sòng Thanh Hoá” [Tạ Chí Đại Trường 2009 : 381].
Trên thực tế, từ nhiều năm nay, khi đi khảo sát ở các nơi thuộc miền bắc và miền trung, chúng tôi nhận thấy truyền thuyết dân gian về Mẫu Liễu còn hoà cả vào trong tín ngưỡng của dòng họ. Dòng họ hay gia tộc là không gian mở rộng và nối dài của gia đình, và nhỏ hơn so với làng xã. Trong điều kiện gia đình không có người nối dõi, người ta có thể gửi hậu (hiến tặng nhà cửa, ruộng vườn, tiền bạc,..) cho ngôi chùa hay ngôi đình của làng, với giao ước được làng thờ tự mãi mãi, tựa như trường hợp của gia đình họ Lê ở Vân Cát ghi trong ngọc phả. Đó là cấp độ quan hệ trực tiếp giữa gia đình với làng xã. Còn ở cấp độ trung gian, là gia đình với dòng họ, thì tuy chưa thấy có truyền thuyết nào nói đến việc các gia đình xuất thân trong ba cuộc đời của Mẫu Liễu gửi hậu cho dòng họ (tức cho nhà thờ hay từ đường dòng họ), nhưng thú vị là: có nhiều tộc họ ở các nơi đã và đang thờ Mẫu Liễu như là bà cô tổ hay tổ cô. Chẳng hạn, dòng họ Phạm ở khu vực Phủ Nấp (Nam Định), họ Hà ở khu vực Phủ Tây Hồ (Hà Nội), họ Hoàng ở khu vực Phủ Tây Mỗ (Thanh Hoá). Có thể là một dòng họ bình dân, mà cũng có thể là một dòng họ có liên đới nào đó với cung vua phủ chúa. Cụ thể hơn về vấn đề đương đại này, chúng tôi sẽ triển khai ở một dịp khác.
Chuyển sang luồng dư luận truy cứu âm mưu, có thể ai đó sẽ có phần bất ngờ, là vì một câu hỏi được đặt ra: ngọc phả bằng đồng phát hiện tại đền Sòng đã từng được cả một viên quan đầu tỉnh viết giới thiệu bằng tiếng Pháp, được sao chép vào sách quốc ngữ lúc đương thời, tại sao lại có ẩn chứa âm mưu ?
Câu chuyện về âm mưu ẩn trong sự kiện phát hiện ngọc phả đồng đã được “đưa ra ánh sáng” trong phong trào bài trừ mê tín dị đoan thời cuối thập niên 1970. Phong trào này, ở khu vực Phủ Giầy, theo tư liệu văn bản của người trong cuộc [Trần Viết Đức 1987] và phỏng vấn hồi cố của chúng tôi, có lẽ đã kéo dài đến cả đầu thời kì Đổi Mới. Khi đó, mặc dù quần thể di tích Phủ Giầy đã được nhà nước xếp hạng là Di tích Lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ 1975 [Bùi Văn Tam 2007 : 5], nhưng lễ hội Phủ Giầy thì vẫn đang bị phê phán là tạo cơ hội cho buôn thần bán thánh, là “hội mê tín chứa nhiều độc hại cần xoá bỏ”. Trong không khí như vậy, cuốn sách Đây ! Thực chất lễ hội Phủ Giày của tác giả là Tuần Cầu đã được Ty Văn hoá Hà Nam Ninh xuất bản. Ở lần tái bản thứ nhất, vào năm 1976, sách được in tới 10.000 bản [Tuần Cầu 1976]. Sách có mục đích “giới thiệu rõ sự hình thành của hội này, từ lai lịch của bà chúa Liễu Hạnh đến những thủ đoạn của bọn buôn thần bán thánh...” [Sđd : 4]. Có nhiều điều cần nói về cuốn sách này, nhưng ở đây chỉ nhắc đến phần nội dung liên quan đến ngọc phả đồng.
Theo tác giả Tuấn Cầu, sự kiện ngọc phả được tìm thấy tại đền Sòng năm 1939 là gắn với một cuộc tranh đua thế lực lúc đó giữa hai ngôi phủ chính yếu trong quần thể di tích Phủ Giầy: phủ Tiên Hương và phủ Vân Cát. Hai bên tranh nhau danh phận phủ chính, tức là nơi chính thức thờ Mẫu Liễu, nơi mà con nhang đệ tử các nơi đến tham bái thì phải trình diện trước. Số là, trước đây phủ Vân Cát toạ lạc ở khu vực nhà cũ của Mẫu Liễu nên được xem là phủ chính, khách thập phương khi về Phủ Giầy đều đến đó lễ bái và nghỉ lại, rồi sau mới sang phủ Tiên Hương. Viên tri huyện Trần Lê Quần quê ở Tiên Hương đã quyết đoạt phủ chính về cho Tiên Hương, nên vào năm 1914 đã cúng mảnh đất của nhà mình để xây mới phủ Tiên Hương, rồi liên kết với quan tổng đốc Đoàn Triển chủ trì công việc. Nhờ đó, phủ mới Tiên Hương được xây cất to và đẹp hơn, trở thành phủ chính. Tri huyện Trần Lê Quần vừa được khắc tên vào bia đá để ghi nhớ, lại vừa được hưởng một nửa số tiền công đức hàng năm (coi như hoa lợi của khu đất làm đền). Từ ngày phủ Tiên Hương trở thành phủ chính thì phủ Vân Cát không còn sầm uất như trước nữa, con nhang đệ tử ngày càng đổ dồn về Tiên Hương [Tuấn Cầu 1976 : 22-23]. Bởi vậy, bên Vân Cát đâm ra ấm ức. Hương lí và kì hào bên Vân Cát bàn nhau cách kéo lại khách về Vân Cát. Họ đưa ra kế để tạo ra tiếng vang lớn. Một kế hoạch tinh vi đã được Bá Oanh, đồng Lam cùng một số hương lí vạch ra và trực tiếp thực hiện. Dựa vào cuốn sách Truyền kì tân phả1 (của Đoàn Thị Điểm), họ viết tóm tắt tiểu sử của bà Chúa Liễu “sinh ra ở thôn Vân Cát đã có những hành vi hiển hách, hiển linh, hiển thánh cứu nhân độ thế, phò vua dẹp giặc và tài văn thơ”. Họ phân công nhau mỗi người đi một tỉnh, thuê thợ bí mật khắc vào những lá đồng thau rồi xếp cả vào một cái hộp bằng đồng. Sau khi đã tìm cách cho những lá đồng và hộp đồng hoen gỉ và mòn chữ đi, họ lại cho anh Trần Hợp bí mật đem vào chôn ở sau đền Sòng (Thanh Hoá). Anh Trần Hợp được bố trí ở lại đóng giả thành người bắt ếch, lảng vảng ở khu đền Sòng chờ khi cần dùng đến. Bà Nguyễn Thị Thục là vợ bé của viên tỉnh trưởng Kiến An Mai Trung Cát vốn rất sùng lễ bái và rất tin vào bói toán đồng cốt, vẫn về Phủ Giầy lễ và hầu bóng. Họ đã bố trí người lên đồng thánh Mẫu phán dạy là phải tiến cho Mẫu một cây ngọc lan tại đền Sòng (Thanh Hoá) thì Mẫu sẽ phù hộ cho mát mẻ, khoẻ mạnh và mua may bán đắt. Nghe theo lời của cô đồng, vợ Mai Trung Cát đã cùng một số hương lí người thôn Vân Cát đem cây ngọc lan vào đền Sòng. Một người đào ếch đã được nhờ đào giúp cái hố để trồng cây ngọc lan. Vừa đào xuống thì người đó đã trợn mắt, méo mồm ngã lăn xuống đất. Viên hương lí đi cùng vợ Mai Trung Cát đã mau miệng kêu khấn Mẫu thì người đào hố tỉnh lại và tiếp tục công việc [Sđd : 25-26].
Hình 7: Trang nói về âm mưu tạo dựng sự kiện ngọc phả đồng [Tuấn Cầu 1976 : 25]
Lần này, lưỡi mai đào đất chạm phải một vật rắn bằng kim khí, moi ra thấy góc một cái hộp bằng đồng. Mọi người sợ hãi, không đào tiếp nữa, và báo cho viên tổng đốc Thanh Hoá là phát hiện quan tài bằng đồng. Tổng đốc Thanh Hóa được tin báo cũng muốn nhân dịp phát hiện quan tài đồng sẽ gây ảnh hưởng cho đền Sòng. Tổng đốc vội báo về cho triều đình Huế và lập đàn ăn chay niệm Phật 7 đêm ngày. Sau đó, tổng đốc cho đào tiếp, lấy lên được chiếc hộp bằng đồng hình chữ nhật có chữ ngọc phả. Triều đình Huế phái đại diện về đền Sòng tổ chức lễ trọng thể để khai ngọc phả. Buổi lễ có đủ các quan chức đầu tỉnh, các nhà báo và nhân viên Viễn đông bác cổ, các phóng viên nhiếp ảnh cùng hàng vạn người khắp nơi tò mò kéo đến. Cuốn ngọc phả được chụp ảnh và quảng cáo rùm beng trên báo chí. Triều đình Huế lại cho rước ngọc phả từ đền Sòng về Vân Cát. Suốt dọc đường các chặng nghỉ được lệnh quan tỉnh, nhân dân đã bày nhang án và lễ bái vọng [Tuấn Cầu 1976 : 25-26].
Kết quả là, theo tác giả Tuấn Cầu: ngọc phả giả xác nhận lí lịch và hành vi thật của bà chúa Liễu đã chấn động dư luận khắp bắc trung nam. Uy tín bà chúa Liễu lại thêm một lần nữa được đề cao. Nhờ đó, bên Vân Cát được chứng minh là quê của Mẫu Liễu, lấy lại được thanh thế, khách đổ về rất đông. Tuy nhiên cuộc đua tranh giữa Tiên Hương và Vân Cát vẫn chưa chấm dứt, mâu thuẫn giữa nhân dân ở hai thôn vẫn tồn tại dai dẳng.
Cuối cùng, tác giả Tuấn Cầu đưa ra lời kết rằng: “Cũng may n