18/12/2021
Thánh ý cao thâm
Phàm tâm nan trắc .
Bức tranh diễn tả đức Phật A-di-đà dùng lực rất mạnh của cả hai tay, kéo sợi dây siết vào cổ của một người, người này tuy bị kéo những hai chân vẫn ráng chạm đất, ngoan cố chống trả. Phía sau có Bồ-tát Quan Thế Âm dùng hoa sen nâng và đẩy người ấy về phía trước, còn trước mặt thì Bồ-tát Đại Thế Chí chỉ tay thẳng vào mặt quở trách, khuyến dụ người đó nên tùy thuận, đừng chống đối.
Đây là bức tranh “Huyền chứng bổn A-di-đà câu triệu đồ -玄證本阿彌陀鉤召圖”, được một hành giả tu Tịnh độ niệm Phật vẽ vào thời kì Bình An (Thời kỳ Heian từ 794-1185) của Nhật Bản, cách đây hơn một nghìn năm.
Mục đích chính là truyền tải thông điệp, chư Thánh ở phương Tây ngoài mục đích trang nghiêm tự thân còn luôn dùng vô số phương tiện từ nhẹ nhàng, mềm mỏng đến mạnh bạo, cứng rắn để cứu độ chúng sanh được vãng sanh Cực Lạc.
Cũng như phàm phu cho rằng hắc bạch vô thường sẽ dẫn thần thức người mất xuống cõi địa ngục, bị vua Diêm La xét xử. Cho nên người niệm Phật chúng ta, chỉ cần một hướng chuyên niệm “Nam Mô A-di-đà Phật”, sẽ bị đức Phật A-di-đà phóng quang gia hộ không ngừng, cũng như bị móc lôi, không bao giờ buông, nhất định vãng sanh thế giới Cực Lạc ở Tây Phương.
Có nhiều thuyết bất đồng, cho rằng vị cầm đài sen là Quan Âm hay Thế Chí, nhưng nếu xét theo vị trí đứng, Di-đà là trung tâm thì bên phải là bồ-tát Thế Chí – vị chỉ tay, bên trái Di-đà là Bồ-tát Quan Âm – vị cầm đài sen.
Ngoài ra, Quan Âm tượng trưng cho từ bi, Thế Chí tượng trưng cho trí tuệ trong Phật giáo phát triển, như vậy thì vị trí chỉ tay quở trách, phá tan vô minh của chúng sanh là Bồ-tát Thế Chí, và vị cầm đài sen thể hiện tình thương, đứng phía sau lưng để vỗ về, đưa chúng sanh đến gần bờ giác là Bồ-tát Quan Âm.
Mới đầu chưa tìm hiểu, bản thân chúng tôi cũng có ngờ vực không hiểu sao Phật lại lôi kéo chúng sanh như vậy, nhưng đọc được chú giải mới vỡ lẽ ra tình thương của chư Phật quảng đại vô biên, không buông bỏ ngay khi chúng sanh cang cường, chống đối.
Thứ hai là sự kết hợp giữa hai thái cực từ bi và trí tuệ trên con đường hóa độ, phía sau lưng là từ bi vỗ về, còn trước mặt là ánh sáng tuệ giác để phá tan chấp trước vô minh.
Thứ ba là khi chúng sanh có nhân duyên với đức Phật thì dù ngoại duyên ngoại cảnh khiến xa lìa, đi ngược lại con đường tuệ giác thì trong vòng sanh tử vẫn được chư Phật gia hộ, như trong kinh Pháp Hoa có câu: “Nhất xưng Nam Mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo”, khi niệm Phật, gieo nhân duyên với Phật thì đã tạo được sợi dây liên kết giữa chúng sanh với Phật, sớm muộn gì cũng được vãng sanh.
Ngoài ra còn có nhiều cách lí giải:
Người ngồi đài sen là chúng ta, chúng ta niệm Phật nhưng còn hoài nghi là có được vãng sanh hay không! Trong lúc tụnh kinh niệm Phật, một chút an tâm, pháp hỷ không có, do vì không dốc lòng tin tưởng nên còn chấp víu, bấp bênh thân ngồi đài sen nhưng chân còn chạm đất.
Quan Thế Âm cầm đài sen tượng trưng cho lòng từ bi hộ niệm, giúp hành giả gặp được minh sư, xả ly mê hoặc, cần cầu vãng sanh Tịnh Độ.
Bồ-tát Đại Thế Chí chỉ tay biểu trưng cho tám vạn bốn nghìn pháp môn đều quy về Tịnh Độ niệm Phật. Nếu hành thiện tu phước, thì niệm một câu A-di-đà Phật, phước báo có được bằng bố thí bảy báu cho khắp Tam thiên đại thiên thế giới. Nếu tiêu trừ tội chướng, thì niệm một câu A-di-đà Phật, công đức có được tiêu trừ trọng tội của tám mươi ức kiếp sanh tử. Công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn.
Còn đức Phật A-di-đà đối với chúng ta từ vô thỉ kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp chưa từng buông bỏ, ân đức vô lượng, khó thể nghĩ bàn.
Đây chỉ là những hiểu biết thiển cận, mong đại chúng hoan hỉ!