Thầy Ngũ Bân

Thầy Ngũ Bân Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Thầy Ngũ Bân, G6 TT1 Khu nhà ở bộ tư lệnh, Yên Nghĩa, Hanoi, Hà Đông.

16/01/2021
LỜI PHẬT DẠY VỀ THAM, SÂN, SI CỦA CON NGƯỜI (TIẾP THEO)SÂN“Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không v...
06/01/2021

LỜI PHẬT DẠY VỀ THAM, SÂN, SI CỦA CON NGƯỜI (TIẾP THEO)
SÂN
“Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ýmuốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù.
Sở dĩ sân sinh khởi là do lòng yêu thích “cái ta” hay thích “cái của ta”. Nếu người ta mắng nhiếc, chê bai kẻ nào khác thời ta không thấy giận, nhưng nếu ai chửi bới hoặc khiển trách ta hay người thân của ta, hoặc làm tổn hại tài sản của ta lập tức ta cảm thấy khó chịu ngay. Khi khó chịu tăng dần thời sẽ trở thành nóng giận. Nhưng nên nhớ rằng trên đời này không ai tránh khỏi bị khiển trách, bị chê bai, khó tránh khỏi miệng thế gian như Đức Phật đã từng đưa nhận xét:
(Pháp Cú 227)
Người con Phật hãy nghe đây
Chuyện không phải chỉ đời này mà thôi
Từ đời xưa đã nói rồi:
“Làm thinh thời sẽ có người chê bai,
Nói nhiều cũng bị chê hoài,
Dù cho nói ít cũng người chê thôi”.
Làm người không bị chê cười
Thực là chuyện khó ở nơi cõi trần.
Trong quá khứ, trong tương lai và trong hiện tại chưa hề có người nào bị tất cả mọi người chê bai hay được tất cả mọi người khen ngợi, đúng như lời Đức Phật dạy:
(Pháp Cú 228)
Ở đời toàn bị chê bai
Hay toàn nghe tiếng người ngoài khen ta
Từ xưa chẳng thấy xảy ra,
Tìm trong hiện tại thật là khó sao,
Tương lai cũng chẳng có nào.
Phải tu tâm để đạt tới “vô sân”. Vô sân là không nóng nảy, hết giận hờn. Chúng sinh bị qua nhiều kiếp sinh tử luân hồi chính vì không thắng nổi lòng sân. Chư Phật được tự tại, giải thoát, là do dứt trừ được lòng sân tận gốc. Điều khó nhất là diệt trừ phẫn nộ ngay từ trong tâm. Khi tâm chúng ta không còn nghĩ đến giận hờn thì tự nhiên cơn phẫn nộ sẽ không bộc phát. Trong khi đốn cây để cất tịnh thất cho mình, thầy Tỳ kheo nọ vô tình làm tổn hại đến cái chồi non của một vị thần cây. Vị này nổi giận, muốn giết thầy nhưng kịp nghĩ suy nên kiềm chế được cơn sân hận của mình đang phát sinh. Đức Phật tán dương vị thần và dạy:
(Pháp Cú 222)
Khi cơn giận dữ bùng ra
Ai mà ngăn được mới là người hay
Giỏi như hãm lại được ngay
Chiếc xe đang chạy chở đầy, phóng nhanh,
Nếu không thì bản thân mình
Cầm cương hờ hững tài tình gì đâu.
SI
“Si” là si mê, vô minh, ngu tối. Người vô minh không sáng suốt, không suy xét hiểu biết đúng lẽ phải, đúng sự thật để phán đoán việc hay dở, tốt xấu, lợi hại… nên mới làm những điều nhiễm ô tội lỗi, có hại cho mình và người. Si, vô minh theo thế tục gọi là “dại” hay “ngu”. Vô minh che lấp tâm trí, làm cho con người không còn nhìn thấy được những chất bợn nhơ đang gậm nhấm từ bên trong con ngườikhiến các thói hư tật xấu ấy sẽ tăng dần và cuối cùng đưa con người vào con đường tội lỗi triền miên. Đức Phật dạy rằng vô minh là điều ô trược tệ hại nhất. Hãy dứt bỏ vô minh để trở thành người trong sạch
Hai ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên bạch với Đức Phật rằng họ không thể thuyết phục được ông thầy của họ trước kia đến gặp Đức Phật và nghe giáo pháp vì vị này còn quá luyến ái tín đồ riêng. Nhân dịp này Đức Phật giải thích sự khác biệt giữa người suy luận chân chính với người suy luận sai lầm và hậu quả dĩ nhiên của mỗi lối suy luận:
(Pháp Cú 11)
Những gì không thật, hão huyền
Lại cho là thật và tin vô bờ,
Những gì chân thật lại ngờ
Lại cho không thật, chỉ là giả thôi,
Nghĩ suy lầm lạc mất rồi
Thấy sao chân thật rạng nơi pháp mầu.
(Pháp Cú 12)
Biết đây là thật để tin
Biết kia không thật, hão huyền mà thôi
Nghĩ suy theo đúng đường rồi
Thấy ngay chân thật rạng nơi pháp mầu.
Với hai câu Pháp Cú kể trên, chúng ta đã thấy vai trò chủ yếu của vô minh và tà kiến trong các nguồn gốc phát sinh các hành vi bất thiện. Như vậy chúng ta cũng không lạ gì khi Đức Phật khuyên chúng takhông nên tu theo lối khổ hạnh khắt khe, ép xác, chỉ nhắm vào bề ngoài và không nên chuyên lo tế tự, vì những hành động này không dẫn chúng ta đến giác ngộ giải thoát, không giúp chúng ta trở nên trong sạch.
Con người sống giữa nhân sinh đều phải thuận theo luân hồi nghiệp báo, tránh không được, nhưng tự mình có thể xây dựng những nghiệp duyên tốt đẹp cho mình. Muốn thiện, trước hết phải hết tham. Muốn phúc, trước tiên phải biết đủ. Vô sở cầu nhi tự đắc, đó mới thực sự là đại trí huệ của đời người.
Tiền của trên đời, cố kiếm thật nhiều rồi chết đi cũng không mang theo được. Tiền tài danh vọng, mất rồi tất cả cũng chỉ là hư vô. Đời người là hữu hạn, nhân sinh là vô hạn, cớ gì mãi tham lam để tự chuốc lấy đau khổ cho mình.
Những lời Phật dạy về sân si và lòng tham nhắc nhở chúng sanh rằng, lòng tham chính là thuốc độc giết chết nhân cách con người. Nếu sở hữu nào của chúng ta có được từ sự đau khổ của người khác, thì sự sở hữu ấy tất yếu là không chính đáng. Dù là mưu cầu cho cuộc sống hằng ngày hay lưu danh hậu thế, bất cứ ai bị lòng tham chi phối ắt sẽ nhận quả báo nặng nề.

LỜI PHẬT DẠY VỀ THAM, SÂN, SI CỦA CON NGƯỜITrời đất bao la, lòng người sâu vô tận, lòng tham của con người mênh mông hơn...
03/01/2021

LỜI PHẬT DẠY VỀ THAM, SÂN, SI CỦA CON NGƯỜI

Trời đất bao la, lòng người sâu vô tận, lòng tham của con người mênh mông hơn biển trời. Những lời Phật dạy về lòng tham và nghiệp báo nặng nề từ lòng tham sẽ giúp cho những người con Phật biết quán chiếu hành động, sống biết đủ để tránh được nghiệp duyên oan nghiệt trong tương lai.

NHỮNG LỜI PHẬT DẠY SÂU SẮC

THAM

Phật dạy rằng: “Nguồn cội của mọi khổ đau trên đời đều từ 3 việc mà ra: tham, sân, si”. Trong đó, tham đứng hàng đầu, tuy nhiên phàm là con người ở đời, ai cũng có lòng tham. Từ chữ tham mới nổi lên sân hận, mới khiến con người si mê u tối, từ đó gây nên nghiệp ác.

Theo Phật pháp, tham là sự đắm say, sự ham muốn, sự đam mê một điều gì đó. Cốt lõi của lòng tham nằm ở 5 nhu cầu của con người: Tài (tài sản), sắc (sắc đẹp, hình thức bên ngoài), danh (danh thơm, tiếng tốt), thực (ăn uống), thùy (ngủ nghỉ). Khi ham muốn về 1 trong thứ này dâng lên cao hơn mức bình thường, con người sẽ nảy sinh lòng tham và được hiển hiện với những hành động, lời nói của mình.

Thế nhưng, lời Phật dạy về lòng tham khẳng định rằng, tham lam không phải là bản chất của con người. Nhân chi sơ, tính bổn thiện. Con người sinh ra thuần khiết như tờ giấy trắng, trái tim thuần hậu và thiện lương. Lòng tham lớn dần lên theo năm tháng, qua những bể dâu mà mỗi người gặp phải. Người không biết tiết chế lòng tham thì lòng tham cứ lớn dần mãi lên, đưa lối dẫn đường đến những hành động sai trái.

Phật nói: “Lòng tham càng lớn, phúc đức lại càng tiêu tán”. Vì sao? Tham thường đi liền với ác. Người tham muốn đoạt được thứ mình muốn, lại sinh làm điều ác để thỏa mãn cho mình.

Những dẫn dụ về lòng tham luôn đầy rẫy trong cuộc sống hằng ngày:

Người vì lòng tham mà cố gắng gầy dựng sự nghiệp, khi có của ăn của để rồi lại ưu tư lo nghĩ sợ trộm cắp.

Người giàu sang có tiền của bo bo giữ gìn, sống ích kỷ với kẻ ăn người làm, tằn tiện bố thí, khi bị mất của thì đám ngực khóc than, mất ăn mất ngủ. Lại có người giàu có bạc vạn mà chỉ chăm chút để dành, ăn không dám ăn, mặc không dám mặc.

Quan lại, người có chức tước vì lòng tham mà bớt xén của công, ăn của hối lộ, bóc lột sức lao động người khác.

Người vì lòng tham mà lao vào cờ bạc, cá độ, lô đề, dẫn đến tán gia bại sản.

Đức Phật dạy tham như cỏ hoang làm hại ruộng nương, đây là làm hại “đất tâm” của người tu hành và trị tham chẳng gì hơn là việc bố thí:

(Pháp Cú 356)

Cỏ hoang làm hại ruộng vườn

Tham lam gây hại nhiều hơn cho người,

Tham lam ai đã lìa rồi

Cúng dường vị ấy chẳng nơi nào bằng

Hưởng về phước báu vô vàn.

Theo Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹpsau đây: Ba nghiệp thân, khẩu, ý được tự tại, của cải không bị mất mát, hưởng phúc đức và những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.

Đức Phật còn dạy là đừng để tham và sân, đừng để tội lỗi lôi mình vào cảnh khổ. Tội lỗi ở đây nghịch nghĩa với chánh hạnh, là không theo giáo pháp, trong câu sau này có nghĩa là sân hận. Căn nguyên của điều ác là tham lam và sân hận:

(Pháp Cú 248)

Các ngươi nên biết rõ rằng

Dễ gì chế ngự việc làm ác đâu

Tham lam, tội lỗi hố sâu

Kéo ta xuống chốn khổ đau đời đời.

Kinh Phật dạy rằng, lòng tham của con người không bao giờ có giới hạn. Ví như được ăn no mặc ấm, rồi nhu cầu cao lên lại ăn sang mặc đẹp, rồi nhu cầu được xã hội trọng vọng, nhu cầu được thể hiện bản thân. Nhu cầu càng cao, lòng tham càng lớn.

Phật dạy rằng, tham lam càng nhiều thì báo ứng càng lớn. Luật nhân quả của lòng tham thường được trả ngay trong kiếp này, qua rất nhiều minh chứng thực tế trong đời sống mà hàng ngày chúng ta vẫn thấy báo đài đưa tin. Kẻ tham nhũng trộm cắp thì tù tội, kẻ cờ bạc cá độ thì bần hàn, người tham quyền cao chức trọng rồi cuối cùng cũng chẳng còn được gì, gia đình bất hòa, xã hội bất dung.

CƠN GIẬN TỪ ĐÂU TỚI VÀ LÀM SAO ĐỂ CHUYỂN HÓA CƠN GIẬN? ĐẠO PHẬT CHUYỂN HÓA CƠN GIẬNKhi ta chưa thấu hiểu cơn giận, dù có...
02/01/2021

CƠN GIẬN TỪ ĐÂU TỚI VÀ LÀM SAO ĐỂ CHUYỂN HÓA CƠN GIẬN? ĐẠO PHẬT CHUYỂN HÓA CƠN GIẬN

Khi ta chưa thấu hiểu cơn giận, dù có điều khiển được nó thì cũng chỉ là giải pháp tạm thời mà thôi.

NGUỒN GỐC CỦA CƠN GIẬN

- Ta cần kiên nhẫn luyện tập để điều chỉnh lại cơ chế hoạt động của tâm thức, chứ không phải muốn trấn áp hay điều khiển cơn giận.
Mỗi khi nổi giận ta thường cho rằng chính người kia là thủ phạm đã làm cho ta giận, như thể cơn giận đang ở trong ta là do họ đem tới vậy. Vì thế ta luôn tìm mọi cách để trả đũa, dù ít nhất là một câu nói hay một hành động khiến người kia phải đau điếng hay tức giận thì ta mới hả dạ. Ta cho rằng mình phải làm như thế thì mới mạnh mẽ, để họ không còn dám chọc giận mình nữa. Sự thật là càng trả đũa thì cơn giận càng lớn mạnh và khiến ta càng đuối sức. Vì khi giận năng lượng trong ta bị đốt sạch, cơ thể liên tục phóng thích ra các chất kích thích adrenaline và cortisol gây rối loạn chu trình sinh học của cơ thể, nhất là nhịp tim và hơi thở tăng dồn dập. Ta sẽ rơi vào tình trạng “hôn mê tạm thời” , nhìn mọi thứ đều sai lệch, suy nghĩ không sáng suốt và không kiểm soát nổi mọi hành vi của mình.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ KIỀM CHẾ VÀ HÓA GIẢI CƠN GIẬN?

- Nếu thế hệ trước, gần nhất là cha mẹ, có mang tính nóng giận thì ta khó thoát khỏi sự trao truyền từ nhiễm sắc thể (DNA). Ta còn chịu sự “tưới tẩm” từ cách nói năng và hành động hằng ngày của họ. Môi trường lớn lên và làm việc cũng đóng góp đáng kể cho tính cách nóng giận hình thành trong ta. Sự nuông chiều và nể trọng cũng rất dễ khiến ta có thói quen muốn gì được nấy hay muốn chứng tỏ quyền lực trước mọi người, vì thế chỉ cần có chút vấn đề không vừa ý là ta lập tức nổi giận ngay. Ngoài ra, ta còn bị ảnh hưởng sâu nặng bởi tâm thức xã hội, nên ta luôn cho rằng nổi giận là bản năng tự vệ của con người, nhờ nó mà người khác mới không dám uy hiếp mình. Ta còn xem đó cũng là cách giải tỏa cảm xúc để ta lấy lại sự cân bằng mỗi khi gặp điều phiền toái. Nhưng thực chất là ta đã thất bại. Ta chưa thuần phục được bản tính hơn thua cố hữu, không biết cách giãi bày sự không hài lòng một cách hiểu biết hơn và đang làm cho tình trạng càng tồi tệ hơn.

CHUYỂN HÓA CƠN GIẬN

- Khi phát hiện ra cơn giận đang nổi lên và sắp sửa. Khi phát hiện ra cơn giận đang nổi lên và sắp sửa “bung” ra thành lời nói hay hành động, ta hãy mau chóng tìm cách tách ly ra khỏi đối tượng vừa mới tác động vào cơn giận của mình.

Sau mỗi cơn giận, ta thường cảm thấy hối tiếc và ray rứt vì những phản ứng dại dột và thấp kém của mình. Ta biết mỗi lần tức giận là mỗi lần ta đánh mất hình tượng đẹp và làm suy giảm niềm tin yêu trong mắt người khác, nên lòng cứ dặn lòng sẽ không để cho cơn giận thao túng mình thêm lần nào nữa. Thế nhưng khi gặp chuyện trái nghịch, nhất là tổn hại đến quyền lợi hay danh dự, là cơn giận cứ không hẹn mà đến. Ngay lúc ấy dù được người khác nhắc nhở ta cũng gạt ngang, lý trí cũng phải đứng lặng chào thua cảm xúc. Từ thất bại này đến thất bại khác, ta dần trở nên căm ghét cơn giận của mình. Rồi có khi ta quay sang trách giận cha mẹ trao chi cái tính làm khổ mình khổ người như thế.

Thật ra, nếu hạt giống giận trong ta không được nuôi dưỡng thường xuyên thì nó không đủ sức làm cho ta khổ. Ta đã vô tình tạo ra nó từ những điều bất như ý nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày mà ta không hay biết như: kẹt xe, xếp hàng mua đồ, gọi điện người thân không nhấc máy, thức ăn không vừa miệng, người kia quên chào hỏi đến những phiền toái do chính mình gây ra như: mở nhầm chìa khóa, uống nước bị bỏng miệng, trượt chân ở cầu thang, tìm mãi không ra quyển sách, hồi tưởng về quá khứ đau buồn Nếu ta không quan sát và hóa giải bớt những phản ứng chống đối một cách âm ỉ từ những việc như thế, thì cơn giận chắc chắn sẽ hình thành như một quy trình tự nhiên. Khi nguồn năng lượng giận gần như được mặc định trong tâm thức, chỉ cần một hành động không dễ thương hay một hoàn cảnh trái ý nho nhỏ cũng đủ khiến cho nó bị kích động. Nó sẽ nhanh chóng biến thành cơn giận dữ dội mà chính ta cũng rất bất ngờ.

LÚC MẮNG CHỬI MÌNH LÀ AI?

Khi phát hiện ra cơn giận đang nổi lên và sắp sửa “bung” ra thành lời nói hay hành động, ta hãy mau chóng tìm cách tách ly ra khỏi đối tượng vừa mới tác động vào cơn giận của mình. Lý tưởng nhất là ngồi trong căn phòng yên tĩnh, hay dạo bước trên con đường râm mát. Trong trường hợp không thể tách khỏi hoàn cảnh thì ta hãy ngồi yên đó, cố gắng đừng mở lời nói thêm một câu hay một từ nào, dù ta cho đó là lời giải thích thỏa đáng. Mọi hành vi xảy ra trong cảm xúc giận hờn đều sẽ khiến ta hối tiếc sau này. Ta hãy cố quên đối tượng kia đã làm hay đã nói điều gì với ta, mà chỉ đem hết tâm ý tập trung vào hơi thở để làm lắng dịu cơn bão cảm xúc. Nếu ta đã có sẵn kỹ năng theo dõi hơi thở để định tâm thì chỉ 15 phút sau là ta sẽ vượt khỏi. Cũng như khi căn nhà của ta bất ngờ bị cháy thì ta chỉ cần lo chữa cháy để cứu lấy những tài sản quý báu bên trong, chứ đừng vội vã truy cứu hay trừng phạt kẻ mà ta tình nghi đã đốt nhà. Chuyện đó “hạ hồi phân giải”.

Hơi thở là điểm tựa rất an toàn mỗi khi ta bị những cơn bão cảm xúc tấn công mà ta không biết phải làm sao. Tuy nhiên, nếu cứ sử dụng mãi cách này thì ta sẽ không bao giờ hiểu rõ bản chất cơn giận của mình. Không hiểu rõ cơn giận thì muôn đời ta cũng không thể chuyển hóa được nó, sẽ mãi bị nó phiền nhiễu. Cho nên, sau khi luyện tập được thói quen nhìn lại bản thân mình mỗi khi nổi giận, thay vì tìm cách trả đũa, ta hãy dành nhiều thời gian để quan sát cơn giận của mình. Hãy chú tâm quan sát tiến trình từ khi cơn giận biểu hiện lên bề mặt ý thức, thôi thúc ra hành động, đến khi nó tan biến. Khi có kinh nghiệm, ta sẽ phát hiện ra cơn giận vốn không có thật. Nó chỉ là nguồn năng lượng được sinh ra từ vài sai sót trong sự vận hành của guồng máy tâm thức như: nhận thức sai lầm, trí tưởng tượng phóng đại, cảm xúc nhạy bén, các giác quan không được phòng hộ cẩn thận. Nên chỉ cần duy trì khả năng quan sát tiến trình ấy lâu bền, bằng thái độ không thành kiến, từ từ ta sẽ thấy rõ những gì đã tạo nên cơn giận và dễ dàng chuyển hóa nó.

Nỗi sợ cơn giận người khác, tôi làm thế nào?

Tuy nhiên, lỗi thường mắc phải là ta mong muốn mình sẽ hết nóng giận ngay khi bắt đầu luyện tập. Một thói quen được hình thành trong thời gian quá dài thì không thể thay đổi trong một sớm một chiều được. Tiến trình quan sát cơn giận có thể đem tới cho ta những khó chịu bất ngờ trong giai đoạn đầu, nhưng dần dà ta sẽ quen và còn cảm thấy rất thú vị như đang xem một bộ phim hành động. Ta cứ ngồi đó quan sát cơn giận của mình như đang ngả người ra ghế xem phim vậy. Trong trường hợp bất hại đến kẻ khác, ta hãy để cơn giận của mình nổi lên một cách tự nhiên, nhưng khác với mọi lần là ta có quan sát.

Lẽ dĩ nhiên, cơn giận vẫn cứ xảy ra theo tốc độ của riêng nó và ta không có ý đuổi theo để dập tắt. Ta chỉ quan sát để thấu hiểu cơ chế hoạt động của nó như thế nào thôi. Mỗi lần quan sát sẽ cho ta một cái thấy mới về bản chất vô thường của cơn giận. Nhận thức sai lầm trong ta từ đó sẽ rơi rụng. Ta cần kiên nhẫn luyện tập để điều chỉnh lại cơ chế hoạt động của tâm thức, chứ không phải muốn trấn áp hay điều khiển cơn giận. Khi ta chưa thấu hiểu cơn giận, dù có điều khiển được nó thì cũng chỉ là giải pháp tạm thời mà thôi.

LUẬN VỀ CHỮ THIỆN!!“Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.Thiện tâm, tâm thiện là làm sao mà người ta đa số phải lao nhọ...
31/12/2020

LUẬN VỀ CHỮ THIỆN!!

“Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.
Thiện tâm, tâm thiện là làm sao mà người ta đa số phải lao nhọc, bất an?
Người phàm, phải sống giữa cõi đời ô trọc, lòng không được yên ổn đã đành, giới tu hành cũng lao đao, nhấp nhỏm. Qua chiếc áo tăng ni, giáo sĩ, ta thấy họ an vui, thanh nhàn, điềm tĩnh, nhưng chưa chắc bên trong không sóng gió! Thật tội nghiệp cho chiếc áo tu, suốt ngày ôm ấp một con trăn luôn vùng vẫy, quằn quại, mà không biết, không hay. Bên ngoài, các nếp áo vẫn nghiêm trang, thẳng thớm! Miệng vẫn thốt lời từ bi!
Là bởi chưa rành hai chữ thiện, ác.
Sống sao cho có thiện tâm đây?
Sách luân lý đạo Phật có luận về thiện ác rất hay, giá mà chúng ta biết khiêm tốn đọc rồi suy, rồi đổi thay, chỉnh sửa, tương lai chắc chắn có được nhiều vị ...đạt chánh quả.
Nói đâu xa xôi, chỉ xin ước cho đời tu sĩ được phúc bình an, muôn lòng bình an.
Mến chúc mọi người bình an.

LUẬN VỀ CHỮ THIỆN
1. Thế nào là thiện ?
Theo Luận Thành Thật định nghĩa:
Tùy làm việc gì, hay cho người sự ưa thích, ấy là thiện...
Khiến người được vui, ấy gọi là ưa thích, cũng gọi là thiện, cũng gọi là phước.
(Tùy dĩ hà nghiệp, năng dữ tha hão sự, thị danh thiện...
Linh tha đắc lạc, thị danh vi hão, diệc danh vi thiện, diệc danh vi phước.)
(Thành Thật Luận 8, phẩm Nghiệp 100)
Lại cũng trong Luận Thành Thật, phẩm Giải:
Nếu được lợi mình lợi người, lợi hiện tại và vị lai đều do tâm thiện làm gốc, nếu bị tổn mình tổn người, tổn hiện tại và vị lai đều do tâm bất thiện làm gốc!
(Nhược nhân lợi tha lợi dĩ, kim lợi đương lợi, giai dĩ thiện tâm vi bản, nhược nhân tổn dĩ, kim tổn đương tổn giai dĩ bất thiện tâm vi bản.)
Căn cứ theo Luận Thành Thật định nghĩa: Phàm làm việc gì khiến người ta vui thích là thiện, và lợi ích cho mình và người, hiện tại và vị lai là thiện.
2. Thế nào là thiện, ác?
Ngài Thái Hư định nghĩa thiện ác: Việc làm lợi mình lợi người, hiện tại và vị lai, lấy đại chúng làm tiền đề là thiện. Việc làm chỉ nhằm lợi ích mình hiện tại, lấy tổn hại người làm tiền đề là ác.
Qua các nhà luận trên, tương đối chúng ta thấy thiện ác đã rõ. Nhưng cũng còn vài nghi vấn nhỏ. Như việc làm lợi mình lợi người, hiện tại và vị lai, gọi là thiện. Thực tế có nhiều việc lợi người, hại mình mà vẫn là thiện. Như thấy nhà cháy, một em bé đang bị kẹt trong ấy, có người hi sinh chạy vào lửa cứu em ra. Khi cứu được em bé, người kia bị cháy phỏng khá nhiều, phải đau khổ vì những vết phỏng hành hạ. Sự an ổn của em bé, trong sự đau khổ của người kia như vậy, đâu phải hiện tại cả hai đều lợi? Hoặc như người phát nguyện vào bệnh viện lao, hủi săn sóc bệnh nhân. Hiện tại họ an ủi bệnh nhân được phần nào, song tương lai họ có thể bị truyền nhiễm. Như vậy, hiện tại thấy có lợi một phần, mà tương lai đâu hẳn là lợi?
Tuy nhiên, theo Phật giáo, những hành động cứu người, vì người, hiện tại hoặc vị lai ta có khổ, song cái khổ ấy chỉ thời gian ngắn ngủi, sau này sẽ hưởng cái vui thời gian dài gấp mấy lần. Như trường hợp người cứu em bé sắp bị chết thiêu, người phát nguyện vào nhà thương lao chẳng hạn. Vì cái khổ ngắn, cái vui dài, nên cũng gọi là vui. Hơn nữa, tuy thân khổ mà cứu được mạng người, tâm vui thích, nên cũng gọi là vui.
Bởi tánh cách phức tạp của thiện ác như thế, nên qui định tiêu chuẩn thật khó khăn.
Thể theo những ý trên, tôi qui định tiêu chuẩn thiện ác thế này:
“Đối tự thân, hành vi xuất phát từ ý chí hướng thượng, được hướng dẫn bằng trí sáng suốt là thiện. Hành vi xuất phát từ tâm niệm hưởng thụ dục lạc, bị sai sử bởi si mê là ác.
Đối tha nhân, hành động xuất phát từ tình thương chân thật, được hướng dẫn bằng trí sáng suốt là thiện. Hành động xuất phát từ tâm tổn hại, sai sử bởi si mê là ác.
Bản thân chúng ta, bất cứ một hành vi nào xuất phát từ ý chí hướng thượng cộng với trí suy nghĩ sáng suốt, đều đưa đến kết quả tốt đẹp, an ổn. Như từ người xấu xa hèn hạ muốn tiến lên người thường, từ người thường muốn tiến lên người tốt, từ người tốt muốn tiến lên thành người hiền, từ người hiền muốn tiến lên thành bậc Thánh. Sự mong mỏi tiến lên ấy là ý chí hướng thượng. Có ý chí hướng thượng rồi, cần phải có trí sáng suốt xét đoán muốn thành người tốt người hiền phải làm thế nào? Sau khi xét đoán rồi, phải thanh lọc cái gì làm cho mình xấu, phụ trợ cái gì làm cho mình tốt. Có thế mới từ người xấu trở thành người tốt được.

( trích Vài nét chính luân lý Phật giáo - Thích Thanh Từ)

Người muốn đưa bạn về nhà, dù là ở đâu đều cũng tiện đường.Người muốn cùng bạn ăn cơm, mùi vị ra sao cũng đều thích ăn.N...
10/12/2020

Người muốn đưa bạn về nhà, dù là ở đâu đều cũng tiện đường.
Người muốn cùng bạn ăn cơm, mùi vị ra sao cũng đều thích ăn.
Người muốn gặp bạn, 24 giờ đều có khoảng trống.
Người muốn giúp bạn, sẽ nghĩ mọi cách để có thể giúp đỡ.
Người thích bạn, dù bạn có bao nhiêu khuyết điểm cũng chẳng sao.
Người không thích bạn thì dù bạn có giỏi giang đến đâu thì cũng chẳng ích gì.
Người quan tâm bạn, bạn có làm gì cũng không sao.
Người không muốn quan tâm, dù chỉ là một ánh nhìn, cũng cảm thấy phiền phức.
Nhớ nhé!
Người khác không có lòng thì bạn việc gì phải cố gắng? Họ vốn dĩ không xem trọng bạn thì bạn cũng không cần phải đặt họ ở trong lòng.

II - Công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹChúng ta sanh ra cõi đời ai mà không chịu ơn sâu của cha mẹ. Tổ Quy Sơn dạy:...
09/12/2020

II - Công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ

Chúng ta sanh ra cõi đời ai mà không chịu ơn sâu của cha mẹ. Tổ Quy Sơn dạy: “Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành”, có nghĩa là: “nhờ cha mẹ để tạo hình, mượn các duyên mà nên thân”. Kinh Thi dạy: “Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu sanh ngã cù lao, dục báo thân ân, hiếu thiên võng cực”, nghĩa là: “Cha sanh ra ta, mẹ dưỡng nuôi ta, thương thương thay cha mẹ sanh dưỡng nuôi ta khó nhọc; muốn đáp đền thâm ân cha mẹ như vói lên trời cao chẳng cùng”.

Người xưa lại nói:

“Cây có cội mới tủa cành sanh ngọn

Nước có nguồn mới bủa khắp rạch sông

Hôm nay mình được thong d**g

Nhờ ơn cha mẹ, dày công khai đường”.

Ca dao Việt Nam lại có câu:

“Công cha như núi Thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Chúng ta cũng nên biết rằng núi Thái tuy cao nhưng nghĩa cha còn cao hơn non Thái. Nước nguồn chảy mãi nhưng tình mẹ lại vô tận bao la. Thật vậy, công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ thậm thâm vi diệu làm sao. Mẹ thì chín tháng cưu mang, ba năm bồng ẵm, ngay khi còn thai nghén người mẹ chịu khổ nhiều bề, đứng đi nặng nhọc , kiêng ăn bớt nói như chịu cực hình; đến khi đứa trẻ chào đời mẹ chịu muôn ngàn đau đớn có khi ngất lịm, ăn đắng nuốt cay. Chắt chiu thân con từ tấm bé, mẹ nằm chỗ ướt con nằm chỗ ráo, sú nước nhai cơm những lúc nghỉ ngơi hoặc khi cơm nước con trẻ khóc đòi mẹ liền bồng bế , lỡ như đại tiện trên mình mẹ cam đành chịu không phiền lòng chi. Còn cha thì sao, nếu là gia đình khá giả chẳng nói làm chi, gặp cảnh túng cùng, cha già một nắng hai sương, chạy tảo chạy tần lo kiếm đồng tiền bát gạo bảo bọc gia đình, lo cho con chén cơm manh áo, muốn cho con có đức rộng tài cao, cha mẹ mải miết lo cho con từ khi mới lọt lòng cho đến ngày già nhắm mắt. Chính người đã vất vả vì ai mà thân xác giờ đây héo gầy, mắt mờ tai điếc, nhìn vào đôi mắt mờ lệ đăm chiêu; chúng ta cũng đoán biết nỗi lo âu đau khổ của cha mẹ khi con mình hoạn nạn đau yếu. Cha mẹ luôn nghĩ đến con sung sướng mà quên mình lam lũ đọa đày, vô tình tạo gây nghiệp dữ, vì nghĩ đến con thông minh mà quên mình dốt nát quê mùa.

“Ôi ! Hai tiếng cha mẹ thương thân cao đẹp quá

Như suối hiền mát dịu lúc trưa hè

Như gió chiều nhè nhẹ ở cành tre

Như dòng nước của đại dương vô tận”.

Nếu những ai đã từng làm cha mẹ thì mới rõ công lao của cha mẹ đối với con như thế nào rồi.

“Lên non mới biết non cao

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ”.

Thật là cha mẹ già trăm tuổi vẫn nuôi con 80. Lòng cha mẹ thường lo cho con như thế, nhưng khi con lớn trưởng thành, thì tinh hoa sự sống lại truyền hết cho con để nhận lấy cái già cái chết. Bởi công lao của cha mẹ cao vời, nên trong Kinh Pháp Cú Phật dạy:

“ Cha mẹ là đấng Phạm Thiên

Cha mẹ là thầy đầu tiên trong đời”.

Cha mẹ là Bậc đáng cho con sùng bái cúng dường.

Vậy mà có lắm cảnh cha mẹ tuổi đã về chiều lại không nơi nương tựa, đời sống lang thang thiếu ăn thiếu mặc. đói rét cơ hàn; thậm chí có những kẻ bất hiếu vô nghì, chửi cha mắng mẹ, đánh chó đuổi mèo coi cha mẹ như người thuê ở mướn, nuôi cha mẹ đôi ngày lại tính từng giờ từng khắc, thật là đau đớn ngậm ngùi thay:

“Cha mẹ nuôi con như biển hồ lai láng

Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày”.

Phật dạy: “Phàm con người được cha mẹ sanh ra nuôi dưỡng cực nhọc như thế, khi trưởng thành lại không phụng dưỡng song đường, cư xử tệ bạc với cha mẹ, kẻ đó chết rồi đọa vào địa ngục A tỳ chịu khổ trầm luân”. Chúng ta phải sống thế nào đây để không lỗi đạo vô nghì, phạm tội bất hiếu.

Vậy thì chúng ta phải noi theo những gương từ hiếu hạnh của Bậc Hiền Nhân Thánh Tiết để sống đúng bổn phận con hiền hiếu đạo như nàng Kiều bán mình để chuộc cha; Nguyễn Đình Chiểu trên đường lên kinh dự thi khi hay tin mẹ già ở quê nhà khuất núi, ông thương nhớ mẹ trên đường về khóc than đến đôi mắt mù lòa. Lòng hiếu thảo của Thầy Mạnh Tử cảm động đến lòng trời, trời đổ cơn mưa trong mùa nắng hạn. Thầy Tử Lộ thuở hàn vi đốn củi đổi gạo nuôi mẹ già với bát cơm rau lê.

“Thầy Tử Lộ là người nước Lỗ

Thờ hai thân thường bữa canh Lê

Thường khi đội gạo đi về

Xa xăm trăm dặm nặng nề mà vui”.

Khi ra làm quan thân được sung sướng, nhớ đến cha mẹ già muốn phụng dưỡng, mà cha mẹ không còn, Thầy đã than:

“Mộc dục Tịnh nhi phong bất đình

Tử dục dưỡng, nhi thân bất tại”.

Nghĩa là:

“Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng

Con muốn nuôi cha mẹ, mà cha mẹ không còn”.

Lại hơn thế nữa Đức Thế Tôn khi hay tin phụ vương lâm trọng bịnh, Ngài trở lại quê nhà thăm viếng vua cha và thuyết giảng pháp mầu cho vua cha nghe trước lúc băng hà; Đức Phật lại tự tay đỡ kim quan vua cha trên đường đến nơi hỏa táng. Tôn giả Mục Kiền Liên dâng cơm cho mẹ trong đường ngạ quỷ, đã có bài thơ thắm thiết biết bao:

“Đây bát cơm lòng nặng mong ước

Mẹ ơi đây ngọc với đây lòng

Đây tình còn đọng trong tha thiết

Ơn nghĩa sanh thành chưa trả xong”.

Ôi những tấm gương chí hiếu cao thượng làm sao. Chúng ta là người thế nào mà không lo toan học hỏi để đáp nghĩa sanh thành. Và ở đây cũng chính nhờ mẫu thân Thanh Đề chúng con mới biết bao nỗi khổ đau nhọc nhằn của mẹ và cũng nhờ Tôn giả Mục Kiền Liên chúng con mới biết ân thâm cha mẹ phải lo đáp đền.

CHỮ HIẾU TRONG ĐẠO PHẬTCon đứng giữa mù sa bơ ngơ vô tận ý, Mẹ, giọt nước đời qua, con uống ăn thiện mỹ. Nghẹn lời dòng ...
07/12/2020

CHỮ HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT
Con đứng giữa mù sa bơ ngơ vô tận ý, Mẹ, giọt nước đời qua, con uống ăn thiện mỹ. Nghẹn lời dòng sâu chèo chống một mình, lướt ghềnh vượt thác phù sinh nhọc nhằn. Mặt trời nắng ấm tháng năm tình cha vô lượng nói năng nghẹn lời!
A - MỞ ĐỀ

Trăng sao vẫn là trăng sao của bầu trời muôn thuở. Đạo hiếu con người vẫn là đạo hiếu của vạn đời thế nhân. Nền luân lý đạo đức hiếu đạo ấy đã được dân tộc ta ngàn đời ca tụng, hơn 4000 ngàn năm văn hiến cha ông của chúng ta đã luôn luôn lấy niềm hòa hiếu để làm nhịp cầu thông cảm, để đón nhận những tinh hoa tư tưởng vĩ đại nhất của con người từ mọi hướng.

Trên tinh thần đó Đạo Phật truyền vào Việt Nam trên dưới 2000 năm lịch sử, xuyên suốt thời gian Đạo Phật càng làm sáng tỏ nền đạo hiếu và hòa quyện vào lòng dân tộc ta như máu chảy về tim, như suối diệu tình thương rạt rào luôn rưới mát tâm hồn người con hiếu Đạo. Tình thương ấy chính là Từ bi. Từ bi là một trong những giáo lý căn bản của nhà Phật, mà hiếu chính là khởi điểm của từ bi; từ lòng thương yêu hiếu thảo với cha mẹ đến hiếu nhân với mọi người, hiếu nghĩa đến đồng loại, hiếu sinh với muôn loài.

Do đó, Đạo Phật được gọi là Đạo hiếu, đạo dạy con người trước tiên phải hiếu thảo với cha mẹ, Đức Phật trong vô lượng kiếp tu hành mong cầu Đạo quả đều lấy sự hiếu kính với cha mẹ làm đầu.

Đức Phật dạy: “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh của Phật, muốn tu hành thành đạo đắc quả như chư Phật thì trước tiên phải hiếu thảo với cha mẹ”. Ngài lại dạy: “Cha mẹ còn sanh tiền như Phật còn ở trên đời”. Cho nên Ngài tiên cáo: “Người nào sanh thời không gặp Phật, khéo biết hiếu thảo phụng thờ mẹ cha tức là thờ Phật”.

- Sách Nho có câu: “Niên hữu tứ thời xuân tại thủ, nhân sanh bách hạnh hiếu vi tiên”. Nghĩa là: trong năm có bốn mùa, mùa xuân là trước nhất, phàm con người có trăm hạnh thì hạnh hiếu làm đầu; lại có câu: “Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên”. Nghĩa là: ngàn bộ kinh, muôn quyển sách đều lấy hiếu nghĩa làm đầu. Đạo Lão dạy rằng: “Dục tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo; Nhân đạo bất tu, Tiên đạo viễn hỷ”. nghĩa là: muốn tu theo tiên đạo trước phải tu nhân đạo, nhân đạo không tròn thì con đường tiên đạo xa vậy.

Bấy nhiêu cũng đủ cho chúng ta lý hội được rằng Phật, Tiên, Hiền, Thánh đều dạy chúng ta phải hiếu thảo với cha mẹ làm đầu. Là đệ tử Phật, là người con chí hiếu, tất nhiên chúng ta phải lo tròn hiếu đạo. Bởi lẽ, hôm nay chúng tôi xin trình bày cùng đại chúng đề tài: “CHỮ HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT”.

B - CHÁNH ĐỀ

I - Định danh và giải nghĩa

Trước khi đi vào nội dung chúng ta hiểu qua chữ “Hiếu”. Vậy Hiếu là gì ? Hiếu cũng như chữ Từ - Để - Trung - Nghĩa, đây là những danh từ tượng trưng lòng thương tưởng và niềm tri ân, báo ân của chúng đối với những người mà mình đã thọ ân, nhưng danh từ ấy tùy theo thiên tước của người thi ân mà thay đổi. Như bổn phận làm con đối với cha mẹ gọi là hiếu; tôi đối với vua, dân đối với đất nước chánh phủ gọi là trung, đối với anh em gọi là để, đối với vợ chồng bè bạn gọi là nghĩa, đối với chúng sinh gọi là từ; trong đó chữ hiếu quan trọng hơn hết chứa đựng ý nghĩa vừa yêu thương vừa tôn kính. Vì vậy, ở đây hiếu được coi như cội gốc lành trong muôn hạnh, cũng là đạo căn bản của dân tộc Việt Nam.

1 - Hiếu là cội gốc lành trong muôn hạnh

Đạo Nho dạy rằng: “Hiếu là cội đức - hiếu đứng đầu muôn nết tốt”. Đức Phật dạy “Điều thiện tối cao không gì hơn hạnh hiếu; điều ác cùng cực không gì bằng tội bất hiếu”, tội bất hiếu là một trong năm tội ngũ nghịch. Kinh Địa Tang, Phật dạy: “Kẻ nào phạm tội ngũ nghịch thì bị đọa vào địa ngục A tỳ đời đời không ra khỏi được”.

Cho nên, hiếu ở đây cũng gọi là giới, là điều thọ trì trước nhất của người tu hành, thế nên nói:

“Ai ơi phát nguyện tu hành

Trước tiên hiếu thảo với người sanh ra

Phận làm con phải xót xa

Cù lao cúc dục mẹ cha nghìn trùng”.

Đức Phật lại dạy: “Người nào khéo biết hiếu thảo, phụng thờ mẹ cha tức là thờ Phật; thờ trời đất quỷ thần không bằng thờ cha mẹ, kẻ đó quỷ thần đều kính nể”. Trái lại dầu ta có thông minh tài trí, quán triệt huyền cơ, thông rành kinh sử đi nữa mà không có lòng hiếu thảo với mẹ cha, kẻ đó đáng bị người đời khinh khi nguyền rủa. Xem thế đủ biết hiếu là cội gốc lành trong muôn hạnh. Trong các đạo giáo, tôn giáo cao siêu thuần túy đều chú trọng vấn đề hiếu đạo và xây dựng căn bản con người trên nền tảng ấy.

Chính vì vậy tổ tiên ta xem hiếu đạo là nền tảng căn bản của dân tộc.

2 - Hiếu là đạo căn bản của dân tộc Việt Nam

Dân tộc Việt Nam rất tôn sùng hiếu đạo. Ai nấy đều nghĩ rằng nếu được sống gần gũi với cha mẹ là điều hạnh phúc nhất đời, trẻ thơ nếu thiếu vòng tay sưởi ấm của mẹ thì trẻ thơ không khôn lớn ; người lớn nếu thiếu sự dạy dỗ bảo bọc của cha mẹ thì sẽ già nua cằn cỗi mất hết ý nghĩa cuộc đời. Càng gần được dân quê chất phát chúng ta càng thấy rõ tấm lòng hiếu thảo của họ đối với cha mẹ như thế nào. Khi cha mẹ còn sanh tiền thì hết lòng phụng dưỡng , sớm chiều hầu hạ không chút nại hà, lúc cha mẹ qua đời thì khóc than thảm thiết, cư tang báo hiếu, lập bàn thờ hương khói, nơi lòng chí thành tha thiết , tin tưởng đó là nơi cha mẹ tổ tiên y cứ đi về hộ trì con cháu. Có những nơi không theo Đạo Phật nhưng trong nhà đều đặt bàn thờ cúng vái Tổ tiên, những ý nghĩ cử chỉ trên là phát xuất từ một tấm lòng chân thành thuần nhiên của dân tộc. Vào những năm 1920 Bác Hồ đã từng nói với nhà báo Pháp: “Lòng hiếu thảo là một trong những đức tính căn bản của người dân Việt chúng tôi”. Vì từ lòng hiếu thảo với cha mẹ mới đến lòng hiếu nhân giúp đỡ mọi người. Đây là một đức tánh thuần lương không vá víu. Tục ngữ Việt Nam ta có câu “Lá lành đùm là rách”, lại như câu ca dao: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tinh thần tương thân tương ái trong tình nhân loại nghĩa đồng bào đã tạo nên một sức sống và tình thương mãnh liệt trong niệm tri ân, báo ân , gợi lại cho chúng ta ý niệm: “Cây có cội, nước có nguồn; chim có tổ, người có tông”. “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ người đào giếng”. Tất cả đều hàm tàng ý nghĩa luân lý đạo đức căn bản, vốn quý lâu đời của dân tộc và đạo lý ấy rất khế hợp với đạo đức Phật giáo. Đức Phật dạy: “Khi chúng ta chào đời đã chịu ơn muôn loài”. Tiêu biểu nhất là bốn ơn sâu. Đó là ân Cha mẹ, ân Tam Bảo, ơn Đất nước chánh phủ, ơn Nhân loại và chúng sanh. Trong đó ơn cha mẹ là chúng ta cảm thọ trước nhất.

Address

G6 TT1 Khu Nhà ở Bộ Tư Lệnh, Yên Nghĩa, Hanoi
Hà Đông
10000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thầy Ngũ Bân posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share