PHƯỚC LONG PHẬT TÍCH

PHƯỚC LONG PHẬT TÍCH Diễn đàn giao lưu tu học của Phật tử TIỂU SỬ CHÙA PHƯỚC LONG PHẬT TÍCH

----------------------------------------

I. Mặt trước chùa Phước Long Phật Tích

II. A. B.

VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:
Chùa Phước Long Phật Tích thuộc Thôn Phước Tuy, Xã Diên Phước, Huyện Diên Khánh, Tỉnh Khánh Hoà. Ngôi Cổ Tự này cách thành phố Nha Trang 17 km về phía Tây, theo đường 723 (Tỉnh lộ 652) từ Nha Trang đi Đà Lạt. Cảnh trí thiên nhiên hữu tình có sơn bao thuỷ bộc, mặt tiền hướng Tây Nam là đường làng, ngó ra Bầu Sen, xa xa là đỉnh Hòn Bà có độ cao 1.574m, với rừng nguyên sinh bạt ngàn hù

ng vĩ làm bình phong; mặt hậu hướng Đông Bắc là đường Liên xã, có Sông Cái với luỹ tre xanh và bãi cát trắng phiêu lượng mình giữa đồng ruộng, làng quê và rừng núi, trông thế “Ngoạ long ẩm châu”. Danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở đây được sử sách diễn tả: “Xứ Thành Hồ có núi non chập chùng hùng vĩ bao quanh, với sông hồ nổi tiếng về sen trắng và le le (vịt trời); một vùng đất trú phú với nhiều đặc sản như trầm hương, cam quít, mía đường,v.v...”[1]
Đứng trên đỉnh núi Hòn Ngang, ta thể ngắm nhìn toàn cảnh Làng Phước Tuy được bao bộc bởi sông hồ, đồng ruộng và núi non, như một bức tranh sơn thuỷ với giang sơn cẩm tú lung linh sắc màu. Lồng mình vào cảnh thiên nhiên hữu tình, ngôi Cổ tự Phước Long Phật Tích đứng sừng sửng uy nghiêm, lượng mình trong không gian, càng tô đẹp thêm cho cảnh thiên nhiên nơi đây nên thơ. KHỞI NGUYÊN:
Tương tự với nhiều ngôi Cổ Tự không thể truy nguyên cội nguồn khác, Chùa Phước Long Phật Tích đã trải qua bao thăng trầm biến cố thạnh suy, chiến tranh tàn phá, bao lần sụp đổ, bao lần di dời, bao lần tái thiết,v.v.... Vả lại, dòng truyền thừa của các đời bị đứt quãng; hơn nữa, thời gian cũng đã làm phai mờ đi bao chứng tích của tiền nhân. Thế nên, di chỉ, di vật,... các đầu mối đánh dấu móc lịch sử đã bị mai một, lu mờ,… Đây là trở ngại lớn cho việc truy tìm nguyên lai của ngôi Chùa Cổ này. DI CHỈ:
Về lịch sử khởi nguyên Chùa Phước Long, các bậc Hào lão 80-90 tuổi trong làng cũng chỉ diễn tả lại kí ức mờ nhạc. Theo dân gian địa phương truyền miệng, ngày xưa nơi đây còn rừng hoang vu, dọc theo bờ sông là Sao, Dầu,… mọc um tùm, cọp beo thường lội sông về làng bắt heo; còn nữa, sông hồ nơi đây có rất nhiều cá sấu và bạt má (cua đinh má trắng to bằng chiếc ghe). Thật sự nơi đây là chốn rừng thiêng nước độc. Truông Thanh Minh, Vực Chõng Ân,v.v… luôn là nỗi ám ảnh cho lữ khách và thuyền khách. Thành Hồ lúc này mới chỉ là địa điểm dừng chân của dân khai thác gỗ, săn bắn thú rừng và đánh bắt cá. Thế rồi, một vị Sư già trên đường hành cước đã quá bước lại đây, dựng một thảo am trên đầu làng tu niệm, ít lâu sau Ngài ra đi. Từ đó, dân làng đã thay nhau hương khói ngôi thảo am này; và nhiều lần di dời và tái thiết,....đã trở thành chùa Phước Long ngày nay. Như vậy, ngôi chùa này đã gắn liền với lịch sử của Thành Hồ năm xưa, tên của làng Phước Tuy ngày nay. Cái thời di dân lập ấp, mở mang bờ cõi của Cha ông trong buổi đầu Nam tiến, phỏng chừng vào cuối thời Nhà Hậu Lê (Lê Trung Hưng {1533-1789}), thời di dân lập ấp của các Chúa Nguyễn Đàn Trong. Kể từ thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1653)[2], phủ Diên Ninh (nay là Diên Khánh), một trong hai phủ của dinh Thái Khang, đã bắt đầu thành hình. Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi dinh Thái Khang thành dinh Bình Khang, phủ Diên Ninh thành phủ Diên Khánh; mà khu vực Thanh Minh và Thành Hồ là 2 điển Cư dân sớm nhất so với khu vực miền Tây Diên Khánh. 2 khu vực này tập trung cư dân, vì phương tiện di chuyển duy nhất thời ấy chỉ dựa vào đường thuỷ của Sông Cái, mà Cư dân thời đó cũng chỉ sống dựa vào lưu vực sông, vì đất đai tương đối phì nhiêu mầu mở, lại dễ dàng sử dụng nguồn nước cho việc canh tác và tưới tiêu.
Điều đó có nghĩa, Ngôi chùa này đã gắn liền tên tuổi của mình với lịch sử hình thành làng. Đất chùa, nền chùa, tháp miếu,... còn sót lại trên đầu làng, cách Chùa Phước Long hiện nay khoảng 1 km đường chim bay về hướng Tây Bắc. Ngôi Tháp Cổ (bị loang lổ, mất chữ) sau nhà ông Nguyễn Tranh, cách Chùa Phước Long khoảng ½ km đường chim bay về hướng Bắc, như một di chỉ cho việc nghiên cứu lịch sử khởi nguyên Chùa Phước Long. Những di tích này đã nhiều lần được Hoà Thượng Thích Như Pháp, trụ trì Chùa Thiên Lộc Thiền Tông đã cùng Cụ ông Phạm Trứ và nhiều Cụ ông (dân làng) có vốn Hán học đến khảo cứu. Vả lại, Đất Chùa trên đầu làng và Ngôi Tháp Cổ cũng khá gần bờ sông; dấu hiệu này cho thấy, Ngôi Chùa này đã gắn liền với lịch sử di dân ngay trong buổi đầu thành hình làng xã. Có lẽ các vị Tổ sư đã hành cước du hoá qua đây, lâu đời nơi đây trở thành Tự viện; hoặc giả theo truyền thống sinh hoạt đời sống tinh thần của Cha ông chúng ta trong thời di dân mở mang bờ cõi xa xưa ấy, đi đến đâu xây dựng Đình Chùa đến đó, để thờ phụng các bậc tiền hiền khai công lập quốc trong tinh thần uống nước nhớ nguồn và tín ngưỡng vào trời Phật gia hộ cho nhân dân được an cư lạc nghiệp. Vậy, tên Phước Long Tự cũng chỉ mới có sau khi Làng Thành Hồ đổi thành Phước Tuy, tên này có được từ khi chùa ở trên đầu làng chuyển xuống; vậy trước đó tên gì? Do ai khai sơn, kiến tạo?… vẫn còn là một nan đề chưa có câu trả lời! DI VẬT:
a. PHẬT TƯỢNG & PHÁP KHÍ:
Những di tích còn lại kể từ giai đoạn tái kiến tạo Chùa vào năm 1953

Bức hoành phi ghi: Phước Long Tự, Bảo Đại thập niên, Nguyễn Nhiễu phụng cúng. Hồng chung ghi:
Tượng Đức Bổn Sư Thích Ca bằng Ciment, đúc vào thập niên 60. Chuông gia trì và mõ lớn khoảng 5 tay

b. BẤT ĐỘNG SẢN:
1. ĐẤT CHÙA BAN SƠ:
Đất Chùa hiện tại do ông bà Đoàn Công Bố vô tự cúng xây dựng Chùa; Đông giáp: đường liên xã; Nam giáp: đường làng; Tây giáp: đất nhà ông Trương Phán và ông Trương Phú; Bắc giáp: đất nhà ông Nguyễn Văn Hạng. Bao gồm: Đất Chùa (hiện nay), đất nhà ông Phạm Ngọc Hải, Trương Ngọc Hùng, Trương Thị Thuận, Phan Hữu Huỳnh Long, Ruộng Chân Điển; tổng cộng có trên 3 ha. Thế nhưng, ngày xưa ông Trần Trọng Cảnh (Tổng Hai) đã cấu kết với ông Đoàn Nhàn[3] lấy đất Chùa bán. Vết nhơ tai tiếng này đến nay dân làng vẫn còn nhắc mãi. Đúng là "Trăm năm bia đá còn mờ, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Cụ Huỳnh Dực (Hương Hai) suốt đời đi kiếu kiện vụ này đến nổi khuynh gia bại sản để bảo vệ Chùa, nhưng không thành! Ngoài ra, Chùa Phước Long còn có một số ruộng toạ lạc ở Mã Rống, khoảng 800m2, do Cụ Võ Chấn (Thân phụ ông Võ Trọng Kim) cúng, nhưng nay Hợp tác xã đã lấy!
2. ĐẤT CHÙA HIỆN TẠI:
Đất Chùa hiện nay chỉ còn vỏn vẹn: thửa số 68 diện tích 2085m200
Mua thêm: Thửa số 912 diện tích 434m200, đất ông Phạm Ngọc Hải; và 180m200, đất bà Trương Thị Thuận vào năm 2008. Tổng diện tích: 2699m200. Một ngôi Chùa làng, điểm tựa tinh thần, nêu cao giá trị hướng thiện cho toàn dân địa phương, giữ cán cân đạo lý cho đời, với ruộng đất rộng lớn và Tín đồ Phật tử đông đảo đến thế, nhưng nay còn lại một không gian chật hẹp. Thật đáng tiếc! III. THIỀN PHẢ TRUYỀN THỪA:
+ Từ năm 1928 về trước: Chùa ở trên đầu Làng, bị chiến tranh tàn phá; dân làng chuyển xuống xây dựng ở vị trí ngày nay. Các di vật bị thất truyền!
+ Từ năm 1928-1938: HT. Thích Bổn Hạnh (Thầy Ba, người Phú Yên), hành trì Mật tông du-già, hàng năm Hoà thượng lên núi hành trì 6 tháng mới xuống núi; vào khoảng thập niên 30, Hoà thượng du sơn hành trì không trở về nữa (Theo Pháp phái và dân gian địa phương lưu truyền).
+ Từ năm 1940-1945: TT. Thích Thiện Thọ
+ Từ năm 1945-1978: HT. Thích Tâm Tịch, tự Thiện Giải, thế danh Nguyễn Đô, thuộc Tổ Đình Linh Nghĩa, Thiền phả Liễu Quán đời thứ 42.
+ Từ năm 1978-1985: TT. Thích Thiện Nhơn, hiệu Kế Chánh, thế danh Tô Dĩnh, thuộc Tổ Đình Phước Duyên, Thiền phả Nghĩa Huyền đời thứ 42. Sau biến cố 1985, Chú tiểu Nhật Hiếu đốt tay để bảo vệ Phật pháp, gặp chướng duyên Thượng Toạ phải ra đi. Hiện nay, Thượng toạ trở về dựng thảo am tu hành, lấy hiệu là Tịnh Thất Hoa Đàm trên núi Hòn Ngang, xã Diên Thọ.
+ Từ năm 1985 đến nay: ĐĐ. Thích Nhật Hiếu, thuộc Tổ Đình Phước Duyên, Thiền phả Nghĩa Huyền đời thứ 43. Thành lập các tổ chức Phật tử tại Chùa như: Hội Chúng Tu Học Phước Long, Gia Đình Phật Tử Phước Long, Đoàn Thanh Thiếu Hành Thiền Học Phật Phước Long,v.v...
IV. TÁI THIẾT & TRÙNG TU:
+ Lần thứ i: Năm 1928 về trước, Chùa nằm trên đầu làng, nơi đó còn nhiều chứng tích.
+ Lần thứ ii: Năm 1928, HT. Thích Bổn Hạnh (người Phú Yên) cùng Dân làng chuyển Chùa xuống vị trí hiện nay, nhưng Chùa cũng chỉ là tranh lá.
+ Lần thứ iii: Năm 1953, do HT. Thích Tâm Tịch và dân làng đứng trùng tu. Trong thời chiến tranh, kinh tế khó khăn nên Chùa chỉ xây dựng lại đơn sơ theo mô hình: Chánh điện, Đông lang và Tây lang; Chánh điện chỉ có bề: 7.5m00 x 6.7m00 = 50.25m200
+ Lần thứ iv: Sau chiến tranh, Chùa xuống cấp nghiêm trọng, bị sạt mái vì pháo canh-nông, tường vách siêu sẹo, lổ chổ dấu đạn,… Năm 1993-2004, Thầy Trụ trì Thích Nhật Hiếu đứng trùng tu. Lần đại trùng tu này, nhà Chùa chủ trương không quyên góp, quần chúng Phật tử chỉ tự nguyện đóng góp, việc xây dựng kéo dài có tới 11 năm. Công trình xây dựng mới xong phần Chánh điện, Quan Âm Cát và Cổng Tam Quan. Các hạng mục công trình còn lại như: Hậu Tổ, Phương Trượng, Thiền đường, Giảng đường, Kinh Cát, Miếu Địa Tạng, Tháp Chuông, Tăng Xá, Khách Xá, Trai Đường, Nhà Trù, Thành ngoại, Phật Tích,v.v… vẫn còn trong kế hoạch dự kiến. Sau lần trùng tu này, Chùa Phước Long được đổi thành Chùa Phước Long Phật Tích. Theo ý nguyện của Thầy trụ trì, sẽ thành lập khu Phật Tích tại nơi đây. IV. KHÔNG GIAN CẤU TRÚC:
+ MÔ-TUÝP KIẾN TRÚC: Phong cách văn hoá truyền thống Á Đông, Đại điện với cấu trúc không gian hình Chữ công ( 工 ), cổ lầu với mái lượng mũi thuyền Đầu Đao với các hoạ tiết điêu khắc tinh xảo Long - Lân - Qui - Phụng,v.v… trước tiền đình trải dài xuống tam cấp là đôi Đại Long chầu nghinh uy nghiêm,…
+ CÁC HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH:
- Diện tích vi mô Chánh điện: 11.5 m x 19.5 m = 224.25 m2
- Quần thể chính: a. Chánh Điện chùa; b. Hậu Tổ, c. Phương Trượng, d. Thiền đường, e. Giảng đường, f. Tàng Kinh Cát.
- Quần thể phụ: a. Miếu Địa Tạng, b. Tháp Chuông, c. Tăng Xá, d. Khách Xá, e. Trai Đường, f. Nhà Trù,…
- Quần thể ngoại: a. Quan Âm Cát, b. Tam quan Cổng Biểu Thủ Quyển, d. Thành ngoại, e. Phật Tích,…
VI. KHÔNG GIAN THỜ TỰ:
- Chánh điện: Bài trí theo thể thức Thiền - Tịnh song tu, nên giản đơn nhưng rất nghiêm trang. Bàn chính thờ Tam Thế Phật, Bàn trước thờ Xá Lợi Phật.
- Hậu Tổ: Giữa thờ Lịch đại Tổ sư, tả hữu thờ Bổn đạo Phật tử quá cố và Chư Phật tử tiền bối hữu công ký tự.
- Miếu Địa Tạng: Thờ Địa Tạng, Hộ pháp long thiên, chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn…

Quan Âm Cát: Thờ Bồ tát Quán Thế Âm, vị Bồ tát với lòng từ bi vô biên, che chở cho nhân gian tai qua nạn khỏi. VII. HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC:
Rằm tháng 8 năm Giáp Tuất (1993): thành lập Gia Đình Phật Tử Phước Long
Mùng 8 tháng giêng năm Bính Tuất (2006): thành lập Hội Chúng Tu Học Phước Long Phật Tích
Mùng 8 tháng chạp năm Mậu Tý (2008): thành lập Đoàn Thiền sinh Thanh-thiếu niên Phật Tử Phước Long Phật Tích
VIII. THỜI KHOÁ TU HỌC:
a. HÀNG THÁNG ÂM LỊCH:
Ngày 14 & rằm: Tu Bát quan trai, sám hối và học Phật pháp
Ngày 29 hoặc 30: Tu Bát quan trai, sám hối và học Phật pháp
b. HẰNG TUẦN:
19g00'–20g30' thứ bảy: học Phật pháp
07g00'–08g15' chủ nhật: Hành Thiền
14g00'–17g00' chủ nhật: Gia đình Phật tử sinh hoạt. IX. TÔN CHỈ BỔN TỰ:
Với tâm nguyện: “Phục vụ chúng sinh, cúng dường chư Phật”, kiến tạo Già Lam trong tinh thần: “Mái Chùa che chở hồn dân tộc…”, và nêu cao truyền thống: “Trang Sử Phật cũng là trang Sử Việt…”, tôn tạo chốn Già Lam này trở thành Trung tâm sinh hoạt và hoằng truyền Phật pháp theo tôn chỉ: “Thiền tịnh song tu”, “Tri hành hợp nhất”, “Nhị đế dung thông”. Bổn tự trở thành trung tâm giáo dục và tu học cho Thanh - thiếu niên Phật Tử; hình thành nên Trung Tâm Hành Thiền & học Phật cho mọi Tăng - Tín đồ Phật tử, đáp ứng nhu cầu thư giản và trút bỏ mọi não phiền, để mọi người cùng tìm lại phút giây thanh thảng và bình an của chính mình nơi đất Phật ngay trong hiện tại.
“Cửa Phật đây! Thanh tịnh thay! Non xanh, nước biếc, trời mây hữu tình;
Ân lành che chở hàm linh,
Đây ngôi Tam bảo sinh linh thuyền từ.”
-------------------------------------------
Ghi chú:
[1] Xứ Trầm Hương, tg. Quách Tấn
[2] Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, năm 1686, trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An. Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ và Phủ Biên Tạp Lục, năm 1776 của Lê Quý Đôn...
[3] Ông Đoàn Nhàn mạo danh con cháu họ Đoàn, nhưng thật ra không dính dấp gì đến dòng họ Tiền bối Đoàn Công Bố. MẠNH ĐÔNG - MẬU TÝ - PL 2552
THÍCH NHẬT HIẾU
CẨN GHI

Cáo phó: Phật tử: NHẬT NGUYÊN, Thế danh: VÕ THỊ GỪNGSinh năm: Tân mùi - 1930; Hưởng thọ: 92 tuổi.Từ trần: Ngày 23, tháng...
23/05/2022

Cáo phó:
Phật tử: NHẬT NGUYÊN, Thế danh: VÕ THỊ GỪNG
Sinh năm: Tân mùi - 1930; Hưởng thọ: 92 tuổi.
Từ trần: Ngày 23, tháng 4, Nhâm Dần - 2022.
(Nhà gần Chùa Phước Long Phật Tích)
Từ trần: 20g45’ ngày 23/4 âm lịch '2022.
+ 9g00 sáng 24/4 âm lịch Lễ nhập quan;
+ 3g00 chiều 25/4 âm lịch Lễ di quan.
Kính mời quí Phật tử góp phần hộ niệm.

24/5/2022
Kính báo
Trụ trì
Tk. Thich Nhat Hieu

PHẬT GIÁO VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH---- Tk. Thích Nhật Hiếu ----        Đức Phật không cho rằng có thể dùng chiến tranh...
07/03/2022

PHẬT GIÁO VỚI CÁC VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH
---- Tk. Thích Nhật Hiếu ----

Đức Phật không cho rằng có thể dùng chiến tranh mà có thể giải quyết mọi vấn đề; và không bao giờ có cái gọi là chiến tranh chân chính. Vì rằng cuộc chiến nào cũng gây ra sự tương tàn, sát hại sinh linh. Thế mà, người ta tôn vinh chiến tranh độc ác ấy là thánh chiến[16].
Chiến tranh thật sự tàn bạo! Và nguyên nhân chính của các cuộc chiến tranh đều phát xuất từ hai nguyên nhân: "tham dục" (kāmma) và "tà kiến" (micchadiṭṭha) mà ra; nói cách khác, nguyên nhân chiến tranh vì: kinh tế, thuộc địa; sắc tộc, chủ nghĩa, tôn giáo. Ngày nào nhân loại chế ngự được lòng dục vọng, sân hận và những triết thuyết lệch lạc, mới hòng chấm dứt được chiến tranh. Phật giáo xưa nay vẫn giữ một lập trường dứt khoát như vậy đối với chiến tranh, cho đó là một sự cuồng nghiệt và si mê nhất của con người. Tại sao nhân loại tự tìm đến con đường diệt vong như vậy?
Đức Phật đã khẳng định: "Hình phạt ai cũng sợ, Mất mạng ai cũng khiếp, Lấy ta suy ra người, Chớ giết chớ bảo giết", hay: "Hận thù diệt hận thù, Đời này không có được, Từ bi diệt hận thù; Là định luật ngàn thu", và: "Chiến thắng sinh thù oán, Thất bại chịu khổ đau; Sống tịch tịnh an lạc, Bỏ sau mọi thắng bại."[17]
Khi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) trị vì vương quốc Kosala (Kiều-tất-la), đóng đô tại thành Sāvathi (Vệ-xá-li) đã chiến thắng và thâu đoạt toàn bộ đội quân vua Ajātasattu (A-xà-thế), trước cảnh thảm sát tan thương như vậy, với lòng bi mẫn[18] và dũng cảm vô biên, đức Phật đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh vua Pasenadi rằng:
"Một người có thể cướp bóc của người khác, nhưng khi bị cướp, người kia sẽ tìm cách chiếm đoạt trở lại; và cướp bóc, chiếm đoạt trở đi trở lại không ngừng. Ngày nào quả xấu chưa đủ cơ duyên để trổ, người cuồng si còn tưởng tượng: 'Cơ hội tốt đã đến, đây là dịp may!' Nhưng khi quả trổ, phải chịu khốn khổ. Người sát nhơn sẽ gặp kẻ sát nhơn. Người xâm lăng sẽ bị chinh phục. Kẻ hỗn hào sẽ bị chửi mắng. Người ưa quấy rầy sẽ bị phiền nhiễu. Vậy theo tiến trình của hành vi, kẻ cướp ắt bị cướp"[19].
Không những chỉ với vai trò Đạo sư về đời sống tâm linh, mà ngài còn là nhà thuyết khách tài tình trong vai trò trung gian hoà giải nhiều cuộc xung đột có thể xảy ra giữa các vương quốc đương thời, tránh được nhiều cuộc chiến tranh như cuộc chiến giữa vương quốc Kosala và Magadha; khi vua Ajātasattu bị vua Pasenadi bắt được, đức Phật đã đóng vai trò nhà quan sát trong cuộc trao trả tự do cho vua xứ Magadha này; làm trung gian hoà giải giữa các bộ tộc Shakya và Kosala trong việc tranh chấp nước sông Robimi; và đặc biệt trong những ngày cuối đời, Ngài cũng ngăn chặng được một cuộc thảm sát có thể xảy ra, khi vua Ajātasattu có ý định xâm chiếm nước cộng hoà Vajji (Bạt-kì)[20] trù phú. Trước khi đức Thế Tôn rời thành Magadha (Vương Xá) đến Kusinārā (Câu-thi-la) nhập diệt, vua Ajātasattu sai vị đại thần Vassakāra (Võ-xá)[21] đến thăm dò ý kiến của đức Phật về mưu định của nhà vua muốn thôn tính nước Vajji. Đức Phật đã phân tích tính chất và thực trạng xã hội của quốc gia nhỏ bé sắp bị xâm lăng này:
"Dân chúng thường hay tụ họp đông đảo để bàn việc nước, việc làng; dân chúng tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết; dân chúng không ban hành những luật lệ không được ban hành, sống đúng với truyền thống như đã ban hành thuở xưa; dân chúng tôn trọng và đảnh lễ những trưởng lão và nghe theo lời dạy của những vị này; dân chúng tôn trọng phẩm hạnh của phụ nữ, không bắt cóc và cưỡng hiếp họ sống với mình; dân chúng bảo vệ, tôn trọng, đảnh lễ và làm vẻ vang tôn miếu của họ dù xa hay gần, không xao lãng những việc nghi lễ cổ truyền; dân chúng bảo hộ và cúng dường cho những vị tu hành chân chính"[22].
Đây là những yếu tố hình thành trọng lực quốc gia; nguyên tắc qui tụ lòng người, hợp quần sức mạnh mà dân Vajji đã có được. Cho dù quân xâm lược hùng mạnh có thôn tính được đất nước họ đi chăng nữa, cũng không sao thủ tiêu được bản sắc dân tộc và ý chí yêu nước của họ. Sau khi nghe bảy điều kiện của một quốc gia cường thịnh mà dân chúng nước Vajji đã hội đủ, đại thần Vassakāra xin cáo từ đức Phật; biết vua xứ Magadha không thể nào chiến thắng được quốc gia Vajji, nên cuộc chiến không xảy ra.
Không những Phật giáo đã hoá giải các cuộc xung đột bạo lực chiến tranh trong tình thế nước sôi lửa bỏng, mà còn tham gia dập tắt nguy cơ ấy trong mầm mống, cảm hoá những ông vua hung bạo, hiếu chiến như Asoka (300-232 BCE). Ông ta đã từng thực hiện những cuộc chinh phạt đẩm máu; sau cuộc đại thắng nước Kalinda (gần vịnh Bengala), chỉ bằng gươm và đao mà quân đội của ông đã phơi thây đồng nội mấy trăm ngàn người. Nhà vua vô cùng hối hận chỉ vì chinh phạt một dân tộc bất khuất đã mang lại sự tàn sát và nô lệ cho dân tộc này. Đức Vua hối hận, đau khổ và phát nguyện nương vào Đạo đại từ bi. Ngài đã ban hành một Đạo luật trên toàn cõi Ấn Độ rằng:
"Tất cả chúng sinh đều được an vui, tự kiểm, lạc tâm và hỉ hạnh theo tinh thần Đạo pháp, chiến thắng cao cả nhất là sự chiến thắng của Đạo pháp"[23].
Không phải với sự chinh phạt bằng gương giáo mà khiến cho triều đại Maurya của Asoka huy hoàng, trái lại cũng vì lý do này khiến cho triều đại của ông ta phải trải qua bao phen nguy khốn. Nhưng từ khi Đức vua Asoka từ bỏ ý đồ chinh phục bằng gươm giáo với những quốc gia nhược tiểu, mà đi đến sự chinh phục bằng Đạo pháp khiến cho các nước qui tụ dưới quyền mà không đổ một giọt máu. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Ấn Độ có sự thống nhất. Không những thế mà đây là thời kỳ thịnh vượng nhất của Ấn Độ, chính thời kỳ này ảnh hưởng tinh thần Ấn Độ và nhất là của Phật giáo lan tràn từ Á sang Âu.
Ngày nay, Phật giáo hầu như đã biến mất khỏi Ấn Độ do cuộc thảm sát của quân xâm lăng Hồi giáo (642 AD). Nhưng tinh thần chánh pháp vẫn bất tuyệt, vẫn in đậm vào lòng dân tộc Ấn Độ; vẫn bằng chinh phục bằng Đạo pháp, tinh thần Bất bạo động[24] mà Thánh Mahātma Gandhi đã đem lại sự độc lập cho Ấn Độ trong tay người Anh mà không phải đổ một giọt máu. Từ đó, những biểu tuợng quốc gia Ấn đều lấy ở Phật giáo như: con Sư tử bằng đá bốn đầu của vua Asoka, tượng trưng cho Giáo lý Tứ đế Phật giáo nay là Quốc Ấn nước Cộng Hoà Ấn Độ; cái vòng Pháp luân được in ngay trên Quốc kỳ, và danh hiệu Dharmacakrapra-varttanāya (Chuyển pháp luân vương) được khắc lên chỗ ngồi của Tổng thống.
Trước những vấn đề nan giải xã hội như kinh tế, chính trị,…cực đoan hiện nay, tạo ra bao biến động toàn cầu như chiến tranh, khủng bố, đói khát, tật bệnh, ô nhiễm,v.v… đều do thiếu hiểu biết và từ tâm, rơi vào tư kỉ, hẹp hòi. Bao cảnh nhồi da nấu thịt, lửa bỏng dầu sôi của chiến tranh và đói nghèo khi âm ỉ lúc dữ dội đang diễn ra đó đây khắp thế giới như Iraq, Kosovo, Bosnia, Gaza, Afganistant, Pakistant,v.v... không có hồi kết thúc, đẩy nhân loại đến bờ vực thẳm diệt vong.
Trong lúc Việt Nam đang hội nhập sâu vào sân chơi chung của toàn cầu, cục diện chung của thế giới hiện tại rất nhạy cảm với các tiềm năng phát triển cũng như nguy cơ biến động. Bài học kinh nghiệm ngót 2 ngàn năm có mặt của Phật giáo trên đất Việt và cũng là bài học xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam: kinh tế và chính trị có bình ổn đất nước mới phát triển; nhất là trong xu thế đất nước thay da đổi thịt hiện nay, cần có một giải pháp khôn ngoan, chính sách trong sáng và chính trị mềm dẻo. Xưa nay, nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới chỉ vì thiếu khôn ngoan mà đưa dân tộc và đất nước mình vào cảnh lầm than[25].
Trước tình hình ấy, trầm tư chuyện xưa mà ngẫm nghĩ chuyện nay, ôn lại những lời dạy của đấng Từ phụ Thích Ca Mâu Ni ngót ba ngàn năm qua. Chúng ta không khỏi kinh ngạc, những lời dạy của ngài rất trí tuệ vì đã thuyết minh về qui luật vận hành của vũ trụ và nhân sinh, đầy từ bi vì đem lại hiệu năng tác dụng ban vui cứu khổ cho con người và muôn loài. Cho dù với phương thức tư duy và lý luận hiện đại về xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá, môi trường,v.v…mới mẻ, nhưng ý tưởng này cũng đã có mặt rất sớm và rất đổi sâu xa trong Giáo pháp của đức Phật xa xưa.
Thật vậy, vì cuộc sống trên cõi đời này mang nguyên lý "duyên sinh-vô ngã"[26], cộng sinh và cộng hưởng, chỉ có hiểu biết và từ tâm, nên mở rộng con đường sống cho kẻ khác như là một cơ hội tốt cho bản thân; được vậy, may ra mới có thể cứu nhân loại ra khỏi cảnh nghiệt ngã lầm than của chiến tranh, bạo lực, đói nghèo, dịch bệnh, thiên tai,v.v…
Xuyên qua Giáo pháp để tìm kiếm giải pháp hiệu quả, thiết thực và bền vững cho các vấn đề xã hội hiện nay, điều mà Đức Phật đã đề cập rất nhiều trong Giáo điển của Ngài như trên đã trình bày. Từ đó, chúng ta nhận ra, chính trị và kinh tế luôn là mối quan hệ tương duyên và tương tác, chính trị có thông thoáng thì kinh tế mới phát triển. Nếu chính trị là ý thức thì kinh tế là hành động. Ý thức có trong sáng thì hành động mới có hiệu năng, và xã hội mới có công bằng, dân chủ, văn minh; và ngược lại. Điều đó có nghĩa, mọi chúng ta không thể đi tìm hạnh phúc hoặc thủ lợi cho riêng mình, mà phải ý thức sống quên mình, biết đặt quyền lợi bản thân trong quyền lợi của cộng đồng xã hội. Mọi ý thức và hành động đều hướng về phụng sự và phục vụ nhân quần. Một xã hội tốt đẹp phải là xã hội bao gồm những nhân tố biết phụng sự và hy sinh; đặc biệt, vai trò thủ lĩnh, lãnh tụ quốc gia phải là những người thông thái và thanh liêm; họ chính là hạt nhân, là động cơ vận hành con tàu quốc gia hướng đến đích vinh quang cho xã hội "công bằng, dân chủ, văn minh, hoà bình và thịnh vượng".
-----------------
Chú thích:
[16] Thánh chiến Hồi giáo (Jihad), Thánh chiến Thiên chúa giáo/ Thập tự chinh (crusade).
[17] Dhp.129-201-225
[18] lòng bi (s-p:karuṇā) và lòng từ (s:maitrī, p:mettā) đối với tất cả chúng sinh.
[19] Anguttara Nikāya I, Chapter III, §§.4,5. Two sayings about war, Rhys Davids, 1950, PP.109-110
[20] Vajji (tức Vrijji): một bộ tộc theo thể chế cộng hoà (Solas Mahajanapadas; republics), nơi giao thương giữa 16 Đại Vương quốc (Mahājanapadas: Great kingdoms), rất tiến bộ và thịnh vượng, thuộc miền Bắc lưu vực sống Hằng, một phần của miền Nam và Tây Nam Ấn Độ châu lục. Theo Anguttara Nikāya I, P.213; IV, PP.252, 256, 261: Phật giáo phát triển rất thịnh hành tại đây vào thời Phật tại thế.
[21] Anguttara Nikāya IV, Rhys Davids, 1950, P.11
[22] Dīgha Nikāya II, No.16, Mahāparinibbānasutta, Edi. F.Max Müller, 1956, PP.79-81
[23] Đặc san hoằng pháp số 3, Bi ký Asoka, Viện Hoá Đạo GHPGVNTN, 1973, tr.118
[24] bất hại (s:āhiṃsa), bất sát (p:pāṇāṭipātā paṭivirati/ ~ veramaṇī) (Dīgha Nikāya I, No.5, Kūtadantasutta, Edi. F.Max Müller, 1956, P.165)
[25] Chính trị hà khắc còn dữ tợn hơn cả cọp beo. (苛政猛于虎: hà chính mãnh vu hổ) (Khổng Tử)
[26] Pratītyasamutpāda-ānatta

29/09/2021

HIẾN MÁU NHÂN ĐẠO
Lúc 07:00' sáng ngày 21/10/2021
Tại Chùa Long Sơn – Nha Trang
-----------------
Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chỉ đạo Vận động Hiến máu tỉnh Khánh Hoà:
+ Cần 100 đơn vị máu;
+ Từ 150 – 200 người tham dự.
+ Điều kiện tham dự:
1. Người khỏe mạnh, hoàn toàn tự nguyện hiến máu.
2. Tuổi: từ 18 – 60.
3. Cân nặng: ≥ 42 kg với nữ và ≥ 45kg với nam. Lượng máu hiến mỗi lần không quá 9ml/kg cân nặng.
4. Không bị nhiễm hoặc không có các hành vi lây nhiễm HIV và các bệnh lây nhiễm qua đường truyền máu khác (vi rút viêm gan B, vi rút viêm gan C, giang mai…).
5. Đã hiến máu lần gần nhất trước đó 12 tuần hoặc hiến thành phần máu lần gần nhất trước đó 3 tuần.
6. Phụ nữ không có thai hoặc không nuôi con nhỏ dưới 1 tuổi.
7. Mang theo một trong các loại giấy tờ tùy thân: CMND, CCCD,…; đeo khẩu trang.
8. Người khỏe mạnh mỗi lần hiến không quá 9 ml/kg cân nặng. Người có cân nặng từ 45 – 50 kg có thể hiến 350 ml máu toàn phần, người từ 50 kg trở lên có thể hiến 450 ml máu toàn phần.
Kính mời Quí Tăng Ni, quí GĐPT, Học sinh và Sinh viên Phật tử tham dự với tinh thần Từ bi cứu người, giọt máu cho đi, cuộc đời ở lại.
Đường Link đăng ký tham dự:
https://docs.google.com/.../1FAIpQLSfYQdUUvspp8z.../viewform
Nha Trang, ngày 29/9/2021
Ban HDPT tỉnh Khánh Hoà
Trưởng ban
TT. THÍCH NHẬT HIẾU

29/03/2021

GIÁO HỘI ĐANG XÁC NHẬN TÍN ĐỒ - KHAI TÔN GIÁO TRONG CCCD ĐIỆN TỬ
-----------------
Phật tử hay Tín đồ Phật giáo nào khi làm Căn cước Công dân điện tử, khi khai Cột số 7 - Tôn giáo, cần giấy xác nhận Tín đồ thì liên lạc Thầy Nhật Hiếu nhận, hoặc Chùa nào gần nhất xin giấy xá nhận theo mẫu sau:

Address

Diên Phước
Diên Khánh
054

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when PHƯỚC LONG PHẬT TÍCH posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share