VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:
Chùa Phước Long Phật Tích thuộc Thôn Phước Tuy, Xã Diên Phước, Huyện Diên Khánh, Tỉnh Khánh Hoà. Ngôi Cổ Tự này cách thành phố Nha Trang 17 km về phía Tây, theo đường 723 (Tỉnh lộ 652) từ Nha Trang đi Đà Lạt. Cảnh trí thiên nhiên hữu tình có sơn bao thuỷ bộc, mặt tiền hướng Tây Nam là đường làng, ngó ra Bầu Sen, xa xa là đỉnh Hòn Bà có độ cao 1.574m, với rừng nguyên sinh bạt ngàn hù
ng vĩ làm bình phong; mặt hậu hướng Đông Bắc là đường Liên xã, có Sông Cái với luỹ tre xanh và bãi cát trắng phiêu lượng mình giữa đồng ruộng, làng quê và rừng núi, trông thế “Ngoạ long ẩm châu”. Danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở đây được sử sách diễn tả: “Xứ Thành Hồ có núi non chập chùng hùng vĩ bao quanh, với sông hồ nổi tiếng về sen trắng và le le (vịt trời); một vùng đất trú phú với nhiều đặc sản như trầm hương, cam quít, mía đường,v.v...”[1]
Đứng trên đỉnh núi Hòn Ngang, ta thể ngắm nhìn toàn cảnh Làng Phước Tuy được bao bộc bởi sông hồ, đồng ruộng và núi non, như một bức tranh sơn thuỷ với giang sơn cẩm tú lung linh sắc màu. Lồng mình vào cảnh thiên nhiên hữu tình, ngôi Cổ tự Phước Long Phật Tích đứng sừng sửng uy nghiêm, lượng mình trong không gian, càng tô đẹp thêm cho cảnh thiên nhiên nơi đây nên thơ. KHỞI NGUYÊN:
Tương tự với nhiều ngôi Cổ Tự không thể truy nguyên cội nguồn khác, Chùa Phước Long Phật Tích đã trải qua bao thăng trầm biến cố thạnh suy, chiến tranh tàn phá, bao lần sụp đổ, bao lần di dời, bao lần tái thiết,v.v.... Vả lại, dòng truyền thừa của các đời bị đứt quãng; hơn nữa, thời gian cũng đã làm phai mờ đi bao chứng tích của tiền nhân. Thế nên, di chỉ, di vật,... các đầu mối đánh dấu móc lịch sử đã bị mai một, lu mờ,… Đây là trở ngại lớn cho việc truy tìm nguyên lai của ngôi Chùa Cổ này. DI CHỈ:
Về lịch sử khởi nguyên Chùa Phước Long, các bậc Hào lão 80-90 tuổi trong làng cũng chỉ diễn tả lại kí ức mờ nhạc. Theo dân gian địa phương truyền miệng, ngày xưa nơi đây còn rừng hoang vu, dọc theo bờ sông là Sao, Dầu,… mọc um tùm, cọp beo thường lội sông về làng bắt heo; còn nữa, sông hồ nơi đây có rất nhiều cá sấu và bạt má (cua đinh má trắng to bằng chiếc ghe). Thật sự nơi đây là chốn rừng thiêng nước độc. Truông Thanh Minh, Vực Chõng Ân,v.v… luôn là nỗi ám ảnh cho lữ khách và thuyền khách. Thành Hồ lúc này mới chỉ là địa điểm dừng chân của dân khai thác gỗ, săn bắn thú rừng và đánh bắt cá. Thế rồi, một vị Sư già trên đường hành cước đã quá bước lại đây, dựng một thảo am trên đầu làng tu niệm, ít lâu sau Ngài ra đi. Từ đó, dân làng đã thay nhau hương khói ngôi thảo am này; và nhiều lần di dời và tái thiết,....đã trở thành chùa Phước Long ngày nay. Như vậy, ngôi chùa này đã gắn liền với lịch sử của Thành Hồ năm xưa, tên của làng Phước Tuy ngày nay. Cái thời di dân lập ấp, mở mang bờ cõi của Cha ông trong buổi đầu Nam tiến, phỏng chừng vào cuối thời Nhà Hậu Lê (Lê Trung Hưng {1533-1789}), thời di dân lập ấp của các Chúa Nguyễn Đàn Trong. Kể từ thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1653)[2], phủ Diên Ninh (nay là Diên Khánh), một trong hai phủ của dinh Thái Khang, đã bắt đầu thành hình. Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi dinh Thái Khang thành dinh Bình Khang, phủ Diên Ninh thành phủ Diên Khánh; mà khu vực Thanh Minh và Thành Hồ là 2 điển Cư dân sớm nhất so với khu vực miền Tây Diên Khánh. 2 khu vực này tập trung cư dân, vì phương tiện di chuyển duy nhất thời ấy chỉ dựa vào đường thuỷ của Sông Cái, mà Cư dân thời đó cũng chỉ sống dựa vào lưu vực sông, vì đất đai tương đối phì nhiêu mầu mở, lại dễ dàng sử dụng nguồn nước cho việc canh tác và tưới tiêu.
Điều đó có nghĩa, Ngôi chùa này đã gắn liền tên tuổi của mình với lịch sử hình thành làng. Đất chùa, nền chùa, tháp miếu,... còn sót lại trên đầu làng, cách Chùa Phước Long hiện nay khoảng 1 km đường chim bay về hướng Tây Bắc. Ngôi Tháp Cổ (bị loang lổ, mất chữ) sau nhà ông Nguyễn Tranh, cách Chùa Phước Long khoảng ½ km đường chim bay về hướng Bắc, như một di chỉ cho việc nghiên cứu lịch sử khởi nguyên Chùa Phước Long. Những di tích này đã nhiều lần được Hoà Thượng Thích Như Pháp, trụ trì Chùa Thiên Lộc Thiền Tông đã cùng Cụ ông Phạm Trứ và nhiều Cụ ông (dân làng) có vốn Hán học đến khảo cứu. Vả lại, Đất Chùa trên đầu làng và Ngôi Tháp Cổ cũng khá gần bờ sông; dấu hiệu này cho thấy, Ngôi Chùa này đã gắn liền với lịch sử di dân ngay trong buổi đầu thành hình làng xã. Có lẽ các vị Tổ sư đã hành cước du hoá qua đây, lâu đời nơi đây trở thành Tự viện; hoặc giả theo truyền thống sinh hoạt đời sống tinh thần của Cha ông chúng ta trong thời di dân mở mang bờ cõi xa xưa ấy, đi đến đâu xây dựng Đình Chùa đến đó, để thờ phụng các bậc tiền hiền khai công lập quốc trong tinh thần uống nước nhớ nguồn và tín ngưỡng vào trời Phật gia hộ cho nhân dân được an cư lạc nghiệp. Vậy, tên Phước Long Tự cũng chỉ mới có sau khi Làng Thành Hồ đổi thành Phước Tuy, tên này có được từ khi chùa ở trên đầu làng chuyển xuống; vậy trước đó tên gì? Do ai khai sơn, kiến tạo?… vẫn còn là một nan đề chưa có câu trả lời! DI VẬT:
a. PHẬT TƯỢNG & PHÁP KHÍ:
Những di tích còn lại kể từ giai đoạn tái kiến tạo Chùa vào năm 1953
Bức hoành phi ghi: Phước Long Tự, Bảo Đại thập niên, Nguyễn Nhiễu phụng cúng. Hồng chung ghi:
Tượng Đức Bổn Sư Thích Ca bằng Ciment, đúc vào thập niên 60. Chuông gia trì và mõ lớn khoảng 5 tay
b. BẤT ĐỘNG SẢN:
1. ĐẤT CHÙA BAN SƠ:
Đất Chùa hiện tại do ông bà Đoàn Công Bố vô tự cúng xây dựng Chùa; Đông giáp: đường liên xã; Nam giáp: đường làng; Tây giáp: đất nhà ông Trương Phán và ông Trương Phú; Bắc giáp: đất nhà ông Nguyễn Văn Hạng. Bao gồm: Đất Chùa (hiện nay), đất nhà ông Phạm Ngọc Hải, Trương Ngọc Hùng, Trương Thị Thuận, Phan Hữu Huỳnh Long, Ruộng Chân Điển; tổng cộng có trên 3 ha. Thế nhưng, ngày xưa ông Trần Trọng Cảnh (Tổng Hai) đã cấu kết với ông Đoàn Nhàn[3] lấy đất Chùa bán. Vết nhơ tai tiếng này đến nay dân làng vẫn còn nhắc mãi. Đúng là "Trăm năm bia đá còn mờ, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Cụ Huỳnh Dực (Hương Hai) suốt đời đi kiếu kiện vụ này đến nổi khuynh gia bại sản để bảo vệ Chùa, nhưng không thành! Ngoài ra, Chùa Phước Long còn có một số ruộng toạ lạc ở Mã Rống, khoảng 800m2, do Cụ Võ Chấn (Thân phụ ông Võ Trọng Kim) cúng, nhưng nay Hợp tác xã đã lấy!
2. ĐẤT CHÙA HIỆN TẠI:
Đất Chùa hiện nay chỉ còn vỏn vẹn: thửa số 68 diện tích 2085m200
Mua thêm: Thửa số 912 diện tích 434m200, đất ông Phạm Ngọc Hải; và 180m200, đất bà Trương Thị Thuận vào năm 2008. Tổng diện tích: 2699m200. Một ngôi Chùa làng, điểm tựa tinh thần, nêu cao giá trị hướng thiện cho toàn dân địa phương, giữ cán cân đạo lý cho đời, với ruộng đất rộng lớn và Tín đồ Phật tử đông đảo đến thế, nhưng nay còn lại một không gian chật hẹp. Thật đáng tiếc! III. THIỀN PHẢ TRUYỀN THỪA:
+ Từ năm 1928 về trước: Chùa ở trên đầu Làng, bị chiến tranh tàn phá; dân làng chuyển xuống xây dựng ở vị trí ngày nay. Các di vật bị thất truyền!
+ Từ năm 1928-1938: HT. Thích Bổn Hạnh (Thầy Ba, người Phú Yên), hành trì Mật tông du-già, hàng năm Hoà thượng lên núi hành trì 6 tháng mới xuống núi; vào khoảng thập niên 30, Hoà thượng du sơn hành trì không trở về nữa (Theo Pháp phái và dân gian địa phương lưu truyền).
+ Từ năm 1940-1945: TT. Thích Thiện Thọ
+ Từ năm 1945-1978: HT. Thích Tâm Tịch, tự Thiện Giải, thế danh Nguyễn Đô, thuộc Tổ Đình Linh Nghĩa, Thiền phả Liễu Quán đời thứ 42.
+ Từ năm 1978-1985: TT. Thích Thiện Nhơn, hiệu Kế Chánh, thế danh Tô Dĩnh, thuộc Tổ Đình Phước Duyên, Thiền phả Nghĩa Huyền đời thứ 42. Sau biến cố 1985, Chú tiểu Nhật Hiếu đốt tay để bảo vệ Phật pháp, gặp chướng duyên Thượng Toạ phải ra đi. Hiện nay, Thượng toạ trở về dựng thảo am tu hành, lấy hiệu là Tịnh Thất Hoa Đàm trên núi Hòn Ngang, xã Diên Thọ.
+ Từ năm 1985 đến nay: ĐĐ. Thích Nhật Hiếu, thuộc Tổ Đình Phước Duyên, Thiền phả Nghĩa Huyền đời thứ 43. Thành lập các tổ chức Phật tử tại Chùa như: Hội Chúng Tu Học Phước Long, Gia Đình Phật Tử Phước Long, Đoàn Thanh Thiếu Hành Thiền Học Phật Phước Long,v.v...
IV. TÁI THIẾT & TRÙNG TU:
+ Lần thứ i: Năm 1928 về trước, Chùa nằm trên đầu làng, nơi đó còn nhiều chứng tích.
+ Lần thứ ii: Năm 1928, HT. Thích Bổn Hạnh (người Phú Yên) cùng Dân làng chuyển Chùa xuống vị trí hiện nay, nhưng Chùa cũng chỉ là tranh lá.
+ Lần thứ iii: Năm 1953, do HT. Thích Tâm Tịch và dân làng đứng trùng tu. Trong thời chiến tranh, kinh tế khó khăn nên Chùa chỉ xây dựng lại đơn sơ theo mô hình: Chánh điện, Đông lang và Tây lang; Chánh điện chỉ có bề: 7.5m00 x 6.7m00 = 50.25m200
+ Lần thứ iv: Sau chiến tranh, Chùa xuống cấp nghiêm trọng, bị sạt mái vì pháo canh-nông, tường vách siêu sẹo, lổ chổ dấu đạn,… Năm 1993-2004, Thầy Trụ trì Thích Nhật Hiếu đứng trùng tu. Lần đại trùng tu này, nhà Chùa chủ trương không quyên góp, quần chúng Phật tử chỉ tự nguyện đóng góp, việc xây dựng kéo dài có tới 11 năm. Công trình xây dựng mới xong phần Chánh điện, Quan Âm Cát và Cổng Tam Quan. Các hạng mục công trình còn lại như: Hậu Tổ, Phương Trượng, Thiền đường, Giảng đường, Kinh Cát, Miếu Địa Tạng, Tháp Chuông, Tăng Xá, Khách Xá, Trai Đường, Nhà Trù, Thành ngoại, Phật Tích,v.v… vẫn còn trong kế hoạch dự kiến. Sau lần trùng tu này, Chùa Phước Long được đổi thành Chùa Phước Long Phật Tích. Theo ý nguyện của Thầy trụ trì, sẽ thành lập khu Phật Tích tại nơi đây. IV. KHÔNG GIAN CẤU TRÚC:
+ MÔ-TUÝP KIẾN TRÚC: Phong cách văn hoá truyền thống Á Đông, Đại điện với cấu trúc không gian hình Chữ công ( 工 ), cổ lầu với mái lượng mũi thuyền Đầu Đao với các hoạ tiết điêu khắc tinh xảo Long - Lân - Qui - Phụng,v.v… trước tiền đình trải dài xuống tam cấp là đôi Đại Long chầu nghinh uy nghiêm,…
+ CÁC HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH:
- Diện tích vi mô Chánh điện: 11.5 m x 19.5 m = 224.25 m2
- Quần thể chính: a. Chánh Điện chùa; b. Hậu Tổ, c. Phương Trượng, d. Thiền đường, e. Giảng đường, f. Tàng Kinh Cát.
- Quần thể phụ: a. Miếu Địa Tạng, b. Tháp Chuông, c. Tăng Xá, d. Khách Xá, e. Trai Đường, f. Nhà Trù,…
- Quần thể ngoại: a. Quan Âm Cát, b. Tam quan Cổng Biểu Thủ Quyển, d. Thành ngoại, e. Phật Tích,…
VI. KHÔNG GIAN THỜ TỰ:
- Chánh điện: Bài trí theo thể thức Thiền - Tịnh song tu, nên giản đơn nhưng rất nghiêm trang. Bàn chính thờ Tam Thế Phật, Bàn trước thờ Xá Lợi Phật.
- Hậu Tổ: Giữa thờ Lịch đại Tổ sư, tả hữu thờ Bổn đạo Phật tử quá cố và Chư Phật tử tiền bối hữu công ký tự.
- Miếu Địa Tạng: Thờ Địa Tạng, Hộ pháp long thiên, chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn…
Quan Âm Cát: Thờ Bồ tát Quán Thế Âm, vị Bồ tát với lòng từ bi vô biên, che chở cho nhân gian tai qua nạn khỏi. VII. HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC:
Rằm tháng 8 năm Giáp Tuất (1993): thành lập Gia Đình Phật Tử Phước Long
Mùng 8 tháng giêng năm Bính Tuất (2006): thành lập Hội Chúng Tu Học Phước Long Phật Tích
Mùng 8 tháng chạp năm Mậu Tý (2008): thành lập Đoàn Thiền sinh Thanh-thiếu niên Phật Tử Phước Long Phật Tích
VIII. THỜI KHOÁ TU HỌC:
a. HÀNG THÁNG ÂM LỊCH:
Ngày 14 & rằm: Tu Bát quan trai, sám hối và học Phật pháp
Ngày 29 hoặc 30: Tu Bát quan trai, sám hối và học Phật pháp
b. HẰNG TUẦN:
19g00'–20g30' thứ bảy: học Phật pháp
07g00'–08g15' chủ nhật: Hành Thiền
14g00'–17g00' chủ nhật: Gia đình Phật tử sinh hoạt. IX. TÔN CHỈ BỔN TỰ:
Với tâm nguyện: “Phục vụ chúng sinh, cúng dường chư Phật”, kiến tạo Già Lam trong tinh thần: “Mái Chùa che chở hồn dân tộc…”, và nêu cao truyền thống: “Trang Sử Phật cũng là trang Sử Việt…”, tôn tạo chốn Già Lam này trở thành Trung tâm sinh hoạt và hoằng truyền Phật pháp theo tôn chỉ: “Thiền tịnh song tu”, “Tri hành hợp nhất”, “Nhị đế dung thông”. Bổn tự trở thành trung tâm giáo dục và tu học cho Thanh - thiếu niên Phật Tử; hình thành nên Trung Tâm Hành Thiền & học Phật cho mọi Tăng - Tín đồ Phật tử, đáp ứng nhu cầu thư giản và trút bỏ mọi não phiền, để mọi người cùng tìm lại phút giây thanh thảng và bình an của chính mình nơi đất Phật ngay trong hiện tại.
“Cửa Phật đây! Thanh tịnh thay! Non xanh, nước biếc, trời mây hữu tình;
Ân lành che chở hàm linh,
Đây ngôi Tam bảo sinh linh thuyền từ.”
-------------------------------------------
Ghi chú:
[1] Xứ Trầm Hương, tg. Quách Tấn
[2] Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, năm 1686, trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An. Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ và Phủ Biên Tạp Lục, năm 1776 của Lê Quý Đôn...
[3] Ông Đoàn Nhàn mạo danh con cháu họ Đoàn, nhưng thật ra không dính dấp gì đến dòng họ Tiền bối Đoàn Công Bố. MẠNH ĐÔNG - MẬU TÝ - PL 2552
THÍCH NHẬT HIẾU
CẨN GHI