Avalokitesvara Festival/ Lễ hội Quán Thế Âm - Marble Mountains Da Nang

  • Home
  • Vietnam
  • Da Nang
  • Avalokitesvara Festival/ Lễ hội Quán Thế Âm - Marble Mountains Da Nang

Avalokitesvara Festival/ Lễ hội Quán Thế Âm - Marble Mountains Da Nang Hội những người yêu thích Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn (ĐN), di sản văn hoá phi vật thể quốc gia

BÁTCHÁO MÙAHIẾUHẠNH (🌺 Mùa Thu Vu Lan về Xin viết dâng lên Mẹ Cha đã Quá Vãng gọi chút Báo Đáp Ân Tình trong muôn một ) ...
15/08/2026

BÁTCHÁO
MÙAHIẾUHẠNH
(🌺 Mùa Thu Vu Lan về
Xin viết dâng lên Mẹ Cha đã Quá Vãng gọi chút Báo Đáp Ân Tình trong muôn một )

🌸Thuở ấy, dưới chân núi Vân Môn có một thôn nhỏ tên Thanh Khê. Sau làng là núi xanh quanh năm mây phủ, trước làng có con suối trong len qua những phiến đá rêu phong. Mỗi buổi chiều, khi tiếng chuông từ ngôi cổ tự trên sườn núi vọng xuống, khói bếp lại lững lờ bay trên những mái nhà tranh.

Cuối thôn có một căn nhà nhỏ của vợ chồng Trần Viễn và Nguyệt Tâm.

Trần Viễn làm nghề đan sọt. Nguyệt Tâm dệt vải thuê. Hai người không có ruộng tốt, chẳng có bạc vàng, chỉ có một người con trai tên Tử An.

Tử An từ nhỏ sáng dạ. Nhà nghèo không đủ tiền mua dầu thắp đèn, có những đêm cậu đem sách ra ngồi cạnh bếp, nhờ ánh lửa mà đọc.

Nguyệt Tâm thấy vậy thương con, thường giả vờ ngồi vá áo bên cạnh.

Tử An bảo:
Mẹ ngủ đi. Con lớn rồi, không cần mẹ thức cùng.

Bà vẫn cúi đầu xỏ kim:
Ai bảo mẹ thức cùng con? Mẹ đang canh cây kim.

Kim có chân đâu mà chạy?

Có chứ! Mẹ ngủ quên, nó chạy xuống đất. Cha con giẫm phải, sáng mai ông ấy khỏi đi bán sọt. Lúc đó lấy gì mua giấy cho con?

Tử An phì cười.

Ở góc nhà, Trần Viễn đang chẻ nan tre, nghe vậy liền nói:
Bà cứ đổ cho cây kim. Rõ ràng thương con mà còn sĩ diện.

Nguyệt Tâm nguýt chồng:
Ông không sĩ diện chắc? Hôm qua ai nhường bánh mè cho nó rồi bảo răng mình đau?

Trần Viễn ho một tiếng:
Răng ta… hôm qua đau thật.

-Hôm nay hết chưa?

-Hết rồi.

-Thế còn nửa cái bánh trong bếp.

Ông lập tức đáp:
Tự nhiên lại đau.

Cả nhà bật cười.

Những năm tháng nghèo khó ấy, căn nhà chẳng có vật gì quý, nhưng tiếng cười thì chưa bao giờ thiếu.

Tử An càng lớn càng học giỏi.

Năm mười bảy tuổi, chàng đứng đầu kỳ khảo thí trong huyện. Người làng kéo đến chúc mừng. Có người bảo Trần Viễn:
Sau này con ông làm quan lớn, ông bà tha hồ hưởng phúc.

Trần Viễn đang đan dở chiếc sọt, nghe vậy chỉ cười:
Nó làm quan hay làm dân không quan trọng. Ta chỉ mong nó làm người tử tế.

Rồi ông nhìn con:
Con nhớ nhé! Mũ quan đội cao đến đâu cũng đừng để nó che mất con đường về nhà.

Tử An khi ấy còn trẻ, nghe cha nói chỉ cười.

Chàng đâu biết có những lời cha mẹ nói lúc ta còn trẻ, phải đi gần hết đời người mới hiểu.

Năm hai mươi ba tuổi, Tử An lên kinh ứng thí.

Đêm trước ngày con đi, Nguyệt Tâm thức đến gần sáng để khâu nốt chiếc áo bông màu tro.

Bà đưa áo cho con:
Kinh thành lạnh hơn quê. Đừng thấy người ta mặc gấm vóc rồi chê áo mẹ thô.

Tử An khoác thử, cười:
Áo mẹ may nặng thế này, con mặc vào chắc gió bấc cũng không thổi nổi.

Nguyệt Tâm vuốt lại cổ áo:
Áo không nặng. Lòng mẹ nặng.

Trần Viễn đứng bên cạnh không nói gì.

Đến lúc con sắp lên đường, ông mới lấy từ trong ngực áo ra một túi vải nhỏ.

Trong đó chỉ có vài đồng bạc vụn.

Cha chỉ có chừng này.

Tử An biết đó gần như toàn bộ tiền cha mẹ dành dụm.

Chàng định trả lại, nhưng Trần Viễn nắm tay con:
Cầm đi. Đường xa cần dùng.

Rồi ông nói:
Cha không dặn con phải đỗ trạng nguyên. Chỉ dặn ba điều: gặp người già thì kính, gặp người khó thì thương, gặp việc có lợi cho mình mà hại người thì đừng làm.

Tử An quỳ xuống:
Con xin ghi nhớ.

Sáng ấy, chàng đi qua chiếc cầu gỗ đầu làng.

Nguyệt Tâm đứng nhìn mãi.

Trần Viễn đã quay vào sân.

Bà trách:
Con đi mà ông chẳng nhìn thêm một chút?

Ông vẫn cúi xuống bó lại đống nan tre:
Nhìn nữa… mắt cay.
Gió hôm nay có mạnh đâu?

Trần Viễn im lặng.

Một giọt nước rơi xuống thanh tre trong tay ông.

Mùa xuân năm ấy, Tử An đỗ tiến sĩ.

Ba năm sau, chàng được bổ làm quan ở kinh thành.

Ngày tin vui truyền về Thanh Khê, Nguyệt Tâm vừa cười vừa khóc. Trần Viễn vẫn ngồi trước hiên đan chiếc sọt đang làm dở.

Người hàng xóm hỏi:
Con làm quan rồi, ông còn đan sọt làm gì?

Ông đáp:
Nó làm quan là phận sự của nó. Ta còn đôi tay thì làm việc của ta. Chẳng lẽ con làm quan, cái sọt cũng tự đan được?

Mọi người cười ồ.

Những năm đầu, tháng nào Tử An cũng gửi thư về.

Chàng hỏi cha còn đau lưng không, mẹ còn ho khi trời lạnh không. Có lần còn gửi thuốc bổ và mấy tấm lụa tốt.

Nguyệt Tâm cất lụa vào rương.

Trần Viễn hỏi:
Sao không may áo?

-Để dành.

-Để dành làm gì?

-Khi con về thì mặc.

Nhưng hết mùa xuân đến mùa đông, chiếc áo vẫn chưa được may.

Bởi Tử An chưa về.

Công việc ở kinh thành ngày một nhiều.

Thư mỗi tháng thành ba tháng một lần.

Ba tháng thành nửa năm.

Rồi những lá thư dài dần biến thành mấy dòng ngắn ngủi:
“Con bình an. Công vụ bận rộn. Cha mẹ giữ gìn sức khỏe.”

Tử An không phải người con vô tình.
Chàng vẫn thương cha mẹ.
Chỉ có điều giữa kinh thành náo nhiệt, việc gì cũng có vẻ cấp bách.
Sáng công văn.
Trưa tiếp khách.
Chiều nghị sự.
Tối yến tiệc.
Người này cần gặp, người kia cần nhờ.

Còn cha mẹ ở quê, chàng luôn nghĩ:
“Tháng sau ta sẽ về.”

Nhưng tháng sau lại có việc khác.

Con người thường lạ như thế.

Ta dành thời gian cho những việc tưởng không thể chậm một ngày, nhưng lại trì hoãn người thương ta nhất, bởi trong thâm tâm cứ tưởng họ sẽ mãi ngồi đó đợi mình.

Một tối cuối thu, Tử An đang dự tiệc ở phủ một vị đại thần thì gia nhân mang đến lá thư từ quê.

Nhìn nét chữ ngoài phong bì, chàng nhận ra ngay chữ mẹ.

Một người bên cạnh nâng chén:
Tử đại nhân, đến lượt ngài!

Tử An đặt thư vào ngực áo.

“Về nhà đọc cũng chưa muộn.”

Đêm ấy chàng uống nhiều.

Sáng hôm sau lại có án lớn.

Rồi sứ đoàn phương Bắc tới kinh.

Lá thư bị quên trong chiếc áo suốt gần hai tháng.

Cho đến một ngày, người hầu mang áo ra phơi, phong thư rơi xuống.

Tử An mở ra.

Nét chữ mẹ run run:
“An nhi,

Cha con mấy tháng nay ho nhiều. Thầy thuốc bảo tuổi cao khí suy. Ông ấy cứ nói bệnh nhẹ.

Mẹ biết con bận việc nước, không muốn con phân tâm.

Chỉ có điều gần đây chiều nào cha con cũng ngồi trước cổng.

Mẹ hỏi đợi ai, ông ấy bảo đợi người bán dầu.

Nhưng làng mình lâu lắm rồi chẳng có người bán dầu nào đi ngang.

Nếu con rảnh, về vài hôm.

Không rảnh cũng không sao.

Cha mẹ vẫn bình an.”

Tử An đọc đến bốn chữ “vẫn bình an”, bàn tay bỗng run lên.

Chàng hiểu mẹ.

Nếu thật sự bình an, bà đã chẳng viết lá thư này.

Ngay trong ngày, Tử An xin nghỉ, thay thường phục, cưỡi ngựa về quê.

Trời cuối thu đổ mưa như trút.

Đến Thanh Khê thì nước lũ dâng cao, cầu gỗ đã bị cuốn mất một đoạn.

Người chèo đò lắc đầu:
Không qua được đâu. Nước dữ lắm.

Tử An tháo miếng ngọc bên thắt lưng:
Đưa ta qua. Miếng ngọc này đủ cho ông sống mấy năm.

Người chèo đò nhìn miếng ngọc rồi nhìn dòng nước:
Khách quan, mạng người không mua bằng ngọc được.

Tử An đứng sững.

Mạng người không mua được.

Vậy những năm tháng của cha mẹ thì sao?

Có mua lại được không?

Những buổi chiều cha ngồi trước cổng, có mua lại được không?

Những đêm mẹ chong đèn chờ thư, có mua lại được không?

Tử An quay ngựa, men theo thượng nguồn, đi vòng hơn hai mươi dặm.

Đến đầu làng thì trời vừa sáng.

Cánh cổng tre vẫn xiêu vẹo như ngày nào.

Cây hồng trước sân đã rụng gần hết lá.

Nguyệt Tâm đang ngồi nhóm bếp.

-Mẹ!

Bà quay lại.

Que củi rơi khỏi tay.

Tử An bỗng thấy mẹ già đến mức mình gần như không nhận ra.

Mái tóc ngày xưa mới lấm tấm bạc, giờ đã trắng quá nửa.

Bà nhìn con thật lâu rồi chỉ nói:
Con về đấy à?

Không trách.

Không hỏi.

Không oán.

Chính sự không trách ấy khiến Tử An đau hơn mọi lời trách móc.

Chàng quỳ xuống ôm lấy đôi chân mẹ.

-Mẹ… con bất hiếu.

Nguyệt Tâm xoa đầu con như ngày chàng còn bé:

-Về rồi thì vào với cha đi.
-Cha đâu?

Bà nhìn về gian trong.

Tử An lao vào.

Trần Viễn nằm trên chiếc giường tre cũ. Người ông gầy đi rất nhiều, hơi thở mỏng như sợi khói.

Tử An quỳ xuống nắm lấy bàn tay cha.

-Cha! Con về rồi!

Không có tiếng đáp.

-Cha! Tử An đây!

Đôi mi Trần Viễn khẽ động.

Một lúc lâu, ông mở mắt.

Nhìn con hồi lâu, khóe miệng bỗng nhếch lên:
À… người bán dầu cuối cùng cũng tới.

Tử An vừa khóc vừa bật cười.

Nguyệt Tâm đứng sau lưng lau nước mắt:
Tôi đã bảo ông, làng này làm gì còn người bán dầu.

Trần Viễn thều thào:
Ta biết… Nói đợi con nghe mất mặt lắm.

Ba người cười giữa nước mắt.

Hôm ấy, Tử An tự tay nấu cháo cho cha.

Chàng từng đọc hàng vạn quyển sách, từng viết những bản tấu được triều đình khen ngợi, vậy mà đứng trước nồi cháo lại chẳng biết một nắm gạo cần bao nhiêu nước.

Nguyệt Tâm ngồi bên chỉ:
Thêm nước.

Chàng thêm.

-Nhiều quá!

Chàng múc bớt.

-Lửa nhỏ thôi!

Tử An cúi xuống thổi.

Tro bay đầy mặt.

Từ trong giường, Trần Viễn yếu ớt gọi:
Quan tiến sĩ mà nấu cháo thế này… dân thiên hạ nguy rồi.

Nguyệt Tâm bật cười.

Tử An cũng cười, nhưng nước mắt chảy xuống gò má.

Cuối cùng cháo chín.

Một nửa đặc.

Một nửa khê.

Tử An đỡ cha dậy, thổi từng thìa.

Trần Viễn ăn được ba thìa rồi dừng.

Tử An hỏi:
Dở lắm sao cha?

-Dở.

Chàng cúi đầu.

Cha nhìn con, mỉm cười:
Nhưng ngon hơn mọi thứ cha từng ăn.

Đêm ấy, trăng thu sáng trên Thanh Khê.

Tử An ngồi bên giường cha.

Trần Viễn hỏi:
Con làm quan mấy năm rồi?

-Bảy năm.

-Bảy năm dài không?

Tử An không trả lời.

Cha nhìn ra cửa sổ:
Khi trẻ, ai cũng tưởng đời còn dài.

Ông im lặng hồi lâu rồi hỏi:
Con còn nhớ hồi tám tuổi bị bệnh, cha cõng con lên huyện tìm thầy thuốc không?

-Con nhớ.

-Hôm ấy tuyết dày. Con nằm trên lưng cha cứ hỏi: “Sắp tới chưa?” Cha luôn nói: “Sắp rồi.”

Ông cười khẽ:
Thật ra lúc ấy mới đi được một phần ba đường.

Tử An cúi đầu.

-Cha nói dối vì sợ con tuyệt vọng. Nhưng đời người lại ngược lại. Khi còn trẻ, ta cứ tự bảo mình: “Còn lâu lắm.” Đến lúc quay đầu mới biết… chẳng còn bao xa.

Tử An nắm chặt tay cha:
Con sai rồi.

Trần Viễn lắc đầu.

-Biết quay về thì chưa muộn hết.

-Con sẽ xin từ quan để phụng dưỡng cha mẹ.

-Không được.

Tử An sửng sốt.

Trần Viễn cười:

-Nếu ai có cha mẹ già cũng bỏ hết bổn phận, thiên hạ này ai lo?

Ông thở chậm rồi nói:
Hiếu không phải lúc nào cũng là ở cạnh cha mẹ. Con có bổn phận của con. Nhưng đừng dùng hai chữ “bận rộn” để che giấu sự lãng quên.

Tử An hỏi:
Vậy thế nào mới là hiếu?

Trần Viễn nhìn con:
Khi cha mẹ còn gọi được tên con, con còn chịu nghe. Khi cha mẹ còn ăn được một bát cháo, con còn có dịp nấu. Khi còn có thể nói một câu thương, đừng để đến trước bàn thờ mới nói.

Tử An cúi đầu, nước mắt rơi xuống tay cha.

Tử An ở lại quê hơn một tháng.

Sáng sắc thuốc.
Trưa nấu cơm.
Chiều dìu cha ra ngồi dưới cây hồng.

Có lần chàng dìu cha quá chặt.

Trần Viễn càu nhàu:
Buông ra chút. Cha chưa chết.

-Con sợ cha ngã.

-Hồi nhỏ con ngã suốt, cha có trói con vào lưng đâu.

Nguyệt Tâm đứng phía sau cười:
Hai cha con già rồi mà vẫn cãi nhau.

Nhưng bệnh Trần Viễn ngày một nặng.

Một sáng, ông gọi Tử An đến.

-Sau này nếu con có con, đừng bắt nó trả ơn con.

Tử An ngạc nhiên:
Vì sao?

-Cha mẹ thương con mà đem tình thương ra đòi trả thì tình thương biến thành món nợ.

Ông nhìn con thật lâu:
Con hiếu với cha mẹ không phải vì mắc nợ. Mà vì biết ơn.

Rồi ông chậm rãi nói:
Nếu sau này con biết thương người già như thương cha, biết thương người yếu như mẹ từng thương con, ấy mới là báo hiếu lớn.

Chiều hôm ấy, Trần Viễn ra đi.

Rất nhẹ.

Nguyệt Tâm ngồi bên giường, một tay lần chuỗi hạt, một tay đặt lên bàn tay chồng.

Tử An quỳ dưới chân cha rất lâu.

Ngoài sân, một chiếc lá hồng lìa cành.

Chàng nhìn chiếc lá rơi và bỗng hiểu:

Vô thường không phải chuyện sẽ xảy đến một ngày nào đó.

Vô thường chính là chiếc lá vừa rời cành trong khi ta còn tưởng mùa thu hãy còn dài.

Ba năm sau, Nguyệt Tâm cũng già yếu.

Tử An vẫn làm quan nhưng đều đặn trở về thăm mẹ.

Có người hỏi:
Đường xa như thế, đại nhân đi lại không mệt sao?

Chàng đáp:

-Mệt thì nghỉ được. Muộn thì không cách gì quay lại cho kịp.

Một đêm trăng sáng, Nguyệt Tâm gọi con đến.

-Con còn giữ chiếc áo bông mẹ may năm con lên kinh không?

-Con vẫn giữ.

-Cũ rồi, bỏ đi.

Tử An cười trong nước mắt:

-Ngày trước mẹ bảo con đừng chê áo mẹ thô.

Bà mỉm cười:
Khi ấy mẹ sợ con quên mẹ. Bây giờ biết con không quên rồi… giữ cái áo làm gì cho chật rương.

Đó là câu nói cuối cùng của bà.

Nhiều năm sau, Tử An tóc đã bạc.

Ông trở về Thanh Khê.

Căn nhà cũ không còn nữa. Cây hồng trước sân cũng chỉ còn một gốc mục.

Tử An ngồi bên bờ suối, lấy từ hành lý ra chiếc áo bông màu tro.

Áo đã sờn.

Chỉ có đường kim của mẹ vẫn còn.

Từ ngôi cổ tự trên núi, tiếng chuông chiều chậm rãi vọng xuống.

Ông chợt nhớ cha ngồi đan sọt.
Nhớ mẹ vá áo bên bếp.
Nhớ bát cháo khê năm ấy.
Và nhớ câu cha từng nói:
“Nếu thương được người đời như cha mẹ từng thương con, ấy mới là báo hiếu lớn.”

Bấy giờ Tử An mới hiểu:
Cha mẹ sinh ra một đời con.

Nhưng tình thương của cha mẹ không nên dừng lại ở người con ấy.

Nếu người con biết đem tình thương mình từng nhận mà đối đãi tử tế với cuộc đời, thì cha mẹ tuy đã khuất, lòng từ của họ vẫn tiếp tục sống giữa nhân gian.

Tử An đặt chiếc áo lên đầu gối.
Chắp hai tay.
Lặng yên.

Dòng Thanh Khê vẫn chảy.
Mây Vân Môn vẫn bay.

Người cũ không còn, nhưng tình thương chưa từng mất.

Bởi có những người rời khỏi đời ta, mà suốt phần đời còn lại, ta vẫn đang sống bằng những gì họ đã trao.

THÔNG ĐIỆP

Đạo hiếu của Đông phương không chỉ nằm ở mâm cao cỗ đầy, tiền bạc hay nghi lễ. Hiếu bắt đầu từ lòng biết ơn và sự hiện diện.

Khi cha mẹ còn sống, hãy dành thời gian để hỏi han, chăm sóc, lắng nghe và làm cho cha mẹ được an lòng.

Theo tinh thần Phật giáo, báo hiếu không chỉ là phụng dưỡng thân cha mẹ, mà còn là sống đời thiện lành, giữ tâm chân thật, tránh điều bất thiện, tạo phước và hồi hướng công đức đến cha mẹ hiện tiền cũng như cha mẹ đã quá vãng.

Nhưng chữ hiếu còn có một tầng sâu hơn:

Đừng để tình thương cha mẹ trao cho ta kết thúc ở chính ta.

Cha từng che chở ta — ta học cách che chở người yếu thế.

Mẹ từng tha thứ cho ta - ta học cách bao dung.

Cha từng nhường phần ngon - ta biết sẻ chia.

Mẹ từng thức trắng khi ta bệnh - ta biết ngồi xuống bên một người đang khổ đau.

Khi ấy, tình cha nghĩa mẹ đã hóa thành lòng từ.

Và lòng hiếu từ một mái nhà nhỏ có thể mở rộng thành tình thương đối với cuộc đời.

Đừng đợi thành đạt mới báo hiếu.

Đừng đợi rảnh mới trở về.

Đừng đợi cha mẹ già yếu mới nói lời yêu thương.

Bởi có những món nợ có thể trả bằng tiền.

Có những lỗi lầm có thể sửa bằng thời gian.

Nhưng một buổi chiều cha mẹ đã ngồi đợi trước hiên thì không có vàng bạc nào mua lại được.

Khi cha còn, xin quý tiếng cha gọi.
Khi mẹ còn, xin quý bóng mẹ chờ.

Và khi cha mẹ đã khuất, hãy sống sao để mỗi việc thiện mình làm đều có một phần ánh sáng của người xưa ở trong đó.
Ấy chính là một cách đẹp đẽ để viết tiếp chữ:
HIẾU.

KHÚC HIẾU TÂM

Ơn cha như bóng non ngàn,
Che con mưa nắng chẳng than nhọc nhằn.
Nghĩa mẹ tựa ánh trăng rằm,
Đêm khuya còn thức âm thầm vì con.

Mai sau đá núi có mòn,
Sông kia có cạn, nghĩa còn trong tâm.
Đừng chờ phú quý mới thăm,
Đừng chờ tóc mẹ trắng ngần mới thương.

Cha còn, xin giữ yêu thương,
Mẹ còn, xin quý đoạn đường có nhau.
Một mai bóng khuất sân sau,
Mâm cao cỗ quý còn đâu người chờ.

Hiếu đâu chỉ trước bàn thờ,
Mà trong hơi thở từng giờ thiện tâm.
Sống sao chẳng thẹn âm thầm,
Đem tình cha mẹ gieo mầm từ bi.

Người đi, bóng khuất còn gì,
Mà ân ở lại cùng đi với mình.
Chuông chùa ngân giữa bình minh,
Hiếu là sống trọn nghĩa tình mẹ cha.

Thái Huyền
Mùa Hiếu Hạnh
Năm Bính Ngọ

CHIẾCCHÉNMẺ   ẤMTRÀMÂY Người xưa kể rằng, dưới chân núi Vân Mộng có một trấn nhỏ tên là Thanh Khê. Trấn không lớn, chỉ v...
04/08/2026

CHIẾCCHÉNMẺ
ẤMTRÀMÂY

Người xưa kể rằng, dưới chân núi Vân Mộng có một trấn nhỏ tên là Thanh Khê. Trấn không lớn, chỉ vài con đường lát đá, một cây cầu gỗ cong cong bắc qua dòng suối và ngôi chùa cổ nằm lưng chừng núi.

Ở Thanh Khê có một người buôn tơ lụa tên là Lục Thành.

Lục Thành ngoài bốn mươi tuổi, nhà cao ba dãy, kho lụa đầy sáu gian, người làm ra vào suốt ngày. Trong trấn, ai nhắc đến ông cũng phải hạ giọng đôi chút, có người kính nể, có người thèm muốn, cũng có người vừa cười vừa nói sau lưng:
“Nhà họ Lục chắc phải ăn cơm bằng bát vàng.”

Thật ra Lục Thành vẫn ăn cơm bằng bát sứ. Có điều, mỗi bữa ông chỉ ăn được vài miếng.
Ông sợ người làm ăn cắp, sợ đối tác lật lọng, sợ kho hàng cháy, sợ giá tơ tụt xuống, lại sợ kẻ khác giàu hơn mình. Đêm nào nghe chó sủa, ông cũng bật dậy cầm đèn đi một vòng quanh nhà.
Có hôm con mèo nhảy qua mái ngói làm vỡ một chiếc chậu, ông hốt hoảng gọi cả mười gia nhân dậy, tưởng cướp đã trèo tường.
Tìm mãi chỉ thấy con mèo ngồi bên góc sân liếm chân.

Người quản gia bật cười, nhưng vừa thấy sắc mặt ông chủ liền ho khan:
“Con mèo này… quả thật rất đáng nghi.”

Lục Thành không cười nổi.

Trong trấn còn có Tạ Uyên, một viên quan coi việc thuế khóa. Tạ Uyên chưa đến năm mươi, áo gấm đai ngọc, mỗi lần đi qua chợ đều có người cúi chào. Ông nói một lời, nhiều kẻ phải nghe. Ông nhíu mày một cái, thuộc hạ đã lo sửa lại sổ sách.

Lục Thành thường nhìn kiệu của Tạ Uyên mà thở dài:
“Có tiền mà không có quyền, vẫn phải cúi đầu trước người ta. Giá như ta được như Tạ đại nhân thì đời này còn mong gì nữa.”

Còn Tạ Uyên mỗi lần đi ngang cửa hàng lụa của Lục Thành, nhìn những rương bạc chuyển vào kho, lại nghĩ:
“Làm quan lắm khi chỉ mang tiếng. Người giàu như Lục Thành mới thật tự do, muốn ăn thì ăn, muốn ngủ thì ngủ, chẳng cần nhìn sắc mặt ai.”

Hai người đều nghĩ cuộc đời của người kia sung sướng hơn mình.

Chỉ có một người không nghĩ vậy.

Đó là Thiền sư Không Chiếu ở chùa Tịch Vân.
Không Chiếu tuổi đã ngoài sáu mươi, dáng gầy, áo vá vài chỗ. Ngài thường xuống trấn đổi rau, khi thì tự gánh củi, lúc lại ngồi uống trà với người bán bánh. Có kẻ hỏi việc lớn, ngài nói một câu. Có người hỏi việc nhỏ, ngài cũng nói một câu. Đôi khi hỏi mãi, ngài lại cười mà không đáp.

Người trong trấn bảo thiền sư cao thâm.

Riêng bà bán đậu phụ lại nói:
“Cao thâm gì đâu. Hôm trước ngài còn thiếu tôi hai đồng.”

Một ngày cuối thu, Lục Thành mang một hộp trà quý lên chùa.
Ông đặt hộp trà trước mặt Không Chiếu, rồi than rằng mình có nhiều tiền nhưng không được an lòng. Ông kể chuyện người làm gian dối, bạn buôn tráo hàng, họ hàng vay bạc không trả, con trai lớn chỉ thích cưỡi ngựa đi chơi.
Nói đến đây, ông tức giận vỗ bàn:
“Bạch thiền sư, người đời đều bảo có tiền là có phúc. Vì sao tôi càng có nhiều lại càng khổ.”

Không Chiếu mở hộp trà, ngửi một lát rồi nói:
“Trà tốt.”

Lục Thành chờ nghe đạo lý, nhưng thiền sư chỉ nói có hai chữ ấy. Ông sốt ruột:
“Ngài không nghe tôi nói sao.”

“Có nghe.”

“Vậy vì sao ngài không chỉ cho tôi cách hết khổ.”

Không Chiếu thong thả đặt một chiếc chén trước mặt ông. Chiếc chén ấy nhỏ, men xanh, nhưng miệng bị khuyết một góc.

Thiền sư rót trà.
Nước vừa chạm đến chỗ khuyết liền chảy xuống bàn.

Lục Thành vội kêu:

“Chén vỡ rồi, sao còn dùng được.”

Không Chiếu lấy tay xoay chiếc chén, để phần khuyết hướng lên trên. Lần này trà không chảy nữa.
Ngài nói:
“Chén không cần lành hết mới giữ được trà. Người không cần có đủ mọi thứ mới sống được một đời.”

Lục Thành im lặng.

Nhưng rồi ông vẫn chưa phục:
“Nếu có thể đổi lấy chiếc chén lành, cớ gì phải dùng chén khuyết.”

Thiền sư cười:
“Vì ông chỉ thấy chỗ khuyết, nên quên rằng nó vẫn còn phần lành.”

Lục Thành nghe vậy, trong lòng hơi động. Song… chỉ hơi động thôi. Người đã quen tính sổ lời lỗ, đâu dễ vì một chiếc chén mà buông được cả kho bạc.

Ba ngày sau, Tạ Uyên cũng lên chùa.

Ông vừa nhận được mật thư từ kinh thành. Một viên quan đồng liêu bị kết tội tham ô, trước khi bị bắt đã khai ra nhiều cái tên, trong đó có tên Tạ Uyên. Chuyện thật giả còn chưa rõ, nhưng từ sáng đến chiều, ông ăn không ngon, tay lạnh như nước suối mùa đông.

Tạ Uyên gặp Không Chiếu liền hỏi:
“Bạch thiền sư, quyền thế có phải là phúc không.”

Thiền sư đang quét lá, nghe hỏi liền đưa cây chổi cho ông:
“Quét giúp ta.”

Tạ Uyên ngẩn người.
Từ nhỏ đến lớn, ông đã từng cầm bút, cầm kiếm, cầm ấn quan… chưa từng cầm chổi tre. Nhưng vì trong lòng có việc, ông đành quét.

Quét được một lúc, gió lại thổi lá từ sân trên xuống.

Tạ Uyên cau mày:
“Lá rụng mãi thế này, quét đến bao giờ mới sạch.”

Không Chiếu đáp:
“Người đời cũng hỏi như ông. Danh chưa đủ thì cầu thêm danh. Quyền chưa cao thì muốn cao nữa. Vừa quét được một sân, gió đã mang đến một sân khác.”

Tạ Uyên dựa chổi vào gốc thông, thở dài:
“Nhưng không có quyền, người ta sẽ coi thường.”

“Có quyền thì người ta kính ông hay kính chiếc ấn trong tay ông.”

Câu ấy làm Tạ Uyên đứng lặng.

Thiền sư lại hỏi:
“Nếu ngày mai chiếc ấn thuộc về người khác, những cái cúi đầu hôm nay còn bao nhiêu cái dành cho ông.”

Tạ Uyên không đáp được.

Chiều hôm ấy, khi hai người sắp xuống núi, trời bỗng đổ mưa lớn. Lục Thành cũng đang ở chùa vì nghe nói kho phía tây có thể bị kiểm tra. Ông muốn xin thiền sư một quẻ lành, dù Không Chiếu chưa bao giờ xem quẻ.

Ba người trú mưa dưới mái hiên.

Đúng lúc ấy, một tiểu đồng từ dưới trấn chạy lên, mình mẩy lấm bùn, vừa thở vừa gọi:
“Lục lão gia, kho lụa cháy rồi.”

Lục Thành nghe xong, mặt trắng bệch. Ông đứng bật dậy, trượt chân suýt ngã khỏi bậc đá.

“Cháy kho nào.”

“Kho phía nam. Lửa bén từ nhà bếp… người ta đang cứu.”

Lục Thành chẳng kịp mặc áo mưa, lao xuống núi.

Tạ Uyên nhìn theo, trong lòng thoáng nghĩ: người giàu cũng chẳng tự do hơn ta.

Nhưng chưa hết.

Một lát sau, một sai dịch khác chạy đến, quỳ trước Tạ Uyên:

“Đại nhân, kinh thành có lệnh niêm phong công đường. Xin ngài lập tức giao ấn để chờ tra xét.”

Tạ Uyên nghe xong, bàn tay đang đặt trên lan can bỗng run lên. Ông muốn hỏi thật nhiều, nhưng cuối cùng chỉ nói:
“Ta hiểu rồi.”

Hai người, một kẻ mất kho, một người mất ấn, cùng lao xuống con đường núi trong mưa. Khi ấy chẳng ai còn nhớ người nào giàu hơn, người nào sang hơn.

Ba tháng sau, sự việc mới dần sáng tỏ.

Kho lụa của Lục Thành cháy mất hơn nửa, nhưng không có ai thiệt mạng. Điều lạ là trong đêm hỏa hoạn, người con trai vốn bị ông xem là ham chơi lại dẫn người phá cửa cứu hết gia nhân bị kẹt bên trong. Cậu còn lao vào khói lửa kéo người quản kho già ra ngoài, cánh tay bị bỏng nặng.

Lục Thành ngồi bên giường con ba ngày liền.

Lần đầu tiên ông nhận ra, lâu nay mình nhớ rõ từng cuộn lụa trong kho, nhưng chẳng biết con trai thích ăn món gì.

Ông cũng nhận ra số bạc cháy mất khiến mình đau, nhưng nhìn con nằm bất động lại đau hơn gấp trăm lần. Hóa ra có những thứ đáng giữ mà ông từng quên giữ, có những thứ cứ tưởng rất quý, đến lúc lửa cháy mới biết chỉ là tro.

Còn Tạ Uyên, sau cuộc tra xét, được chứng minh không liên quan đến án tham ô. Triều đình cho ông phục chức. Nhưng ông xin từ quan.

Người quen đều ngạc nhiên.

Có kẻ bảo ông giả thanh cao. Có người nói ông sợ liên lụy. Tạ Uyên không giải thích. Chỉ có ông biết, trong những ngày bị tước ấn, số người đến thăm mình ít đến đáng thương.

Thuộc hạ từng cúi đầu sát đất, giờ gặp ngoài đường lại giả vờ nhìn mây.

Chỉ có một người lính già đem đến túi khoai, ngồi trước cửa nói:

“Đại nhân ngày trước từng tha cho con tôi một lần. Nay nhà chẳng có gì, xin biếu ngài ít khoai.”

Tạ Uyên cầm túi khoai mà mắt đỏ hoe.

Chiếc ấn từng khiến trăm người cúi đầu, cuối cùng không quý bằng một túi khoai được trao bằng lòng thật.

Mùa xuân năm sau, Lục Thành và Tạ Uyên cùng lên chùa Tịch Vân.

Không Chiếu vẫn ngồi bên chiếc bàn cũ. Trên bàn vẫn là chiếc chén men xanh bị khuyết một góc.

Lục Thành vừa thấy đã bật cười:
“Thiền sư còn dùng chiếc chén này sao. Tôi xin cúng ngài một bộ chén ngọc.”

Không Chiếu hỏi:
“Chén ngọc có làm trà thơm hơn không.”

Lục Thành nghĩ một lúc:
“Có lẽ không.”

“Vậy giữ bạc mua thuốc cho người bị bỏng còn hơn.”

Lục Thành nhìn sang con trai đang đứng ngoài sân chẻ củi, khẽ gật đầu.

Tạ Uyên hỏi:
“Bạch thiền sư, có phải trời cao cố ý lấy đi một thứ để đổi lại một thứ khác không.”

Không Chiếu lắc đầu:
“Đừng vội đổ mọi được mất cho trời.”

Hai người ngạc nhiên.

Thiền sư nói tiếp:
“Có việc do nhân duyên, có việc do lựa chọn, có việc do lòng tham và sự sơ suất của chính mình. Kho cháy vì bất cẩn, không phải vì trời ghen người giàu. Quan mắc nạn vì chốn quan trường phức tạp, không hẳn do thiên đạo muốn phạt người có quyền.”

Ngài rót trà vào ba chiếc chén.

“Đạo lý không phải là hễ được tiền thì chắc chắn mất nhà, có quyền thì nhất định gặp họa. Nghĩ như thế cũng thành mê tín. Điều đáng hiểu là mọi thứ ta có đều kèm theo trách nhiệm, giới hạn và nguy cơ. Càng ôm nhiều, càng phải tỉnh thức nhiều.”

Lục Thành chậm rãi nói:
“Vậy đời người thật sự không thể viên mãn sao.”

Không Chiếu nhìn mây trắng trôi qua đỉnh núi:
“Nếu ông cho rằng viên mãn là có đủ giàu sang, quyền thế, vợ hiền, con tốt, trường thọ, không bệnh, không buồn… thì chẳng ai viên mãn.”

Ngài dừng lại một chút rồi nói tiếp:
“Nhưng nếu viên mãn là biết quý điều đang có, sửa điều có thể sửa, buông điều nên buông, không làm khổ mình và người, thì chiếc chén khuyết cũng có thể là chiếc chén tròn đầy.”

Tạ Uyên cười:
“Thì ra mấy tháng nay tôi mất chức, lại được uống trà ngon hơn lúc làm quan.”

Lục Thành cũng cười:
“Vì lúc làm quan, ngài chỉ uống trà bằng miệng, còn bây giờ uống bằng lòng.”

Không Chiếu nhìn hai người:
“Hôm nay các ông nói được vài câu giống người tu rồi đấy.”

Tạ Uyên hỏi đùa:
“Vậy có được miễn công quả không.”

Thiền sư lập tức chỉ ra sân:
“Không. Một người bổ củi, một người gánh nước.”

Cả hai cùng bật cười. Tiếng cười hòa với tiếng chuông chùa, rơi xuống triền núi, nghe nhẹ như một chiếc lá.

Về sau, Lục Thành xây lại kho nhỏ hơn trước. Ông không còn thức mỗi đêm để đếm khóa cửa. Số tiền dành dụm được, ông mở một gian thuốc cho người nghèo trong trấn. Việc buôn bán vẫn có lúc lời lúc lỗ, nhưng bữa cơm nhà ông đã đông đủ hơn.

Tạ Uyên không trở lại quan trường. Ông mở lớp dạy chữ cho trẻ con. Có đứa học mãi không thuộc, ông tức đến đỏ mặt, rồi chợt nhớ ngày xưa mình từng khiến cả công đường run sợ. Ông tự bật cười:
“Làm quan còn dễ hơn dạy trẻ.”

Cuộc đời của họ từ đó không phải chỉ có ngày vui.

Lục Thành vẫn có lúc bị người lừa. Tạ Uyên vẫn có đêm nhớ thời áo gấm. Con trai Lục Thành vẫn ham cưỡi ngựa, đôi khi còn làm gãy cả hàng rào nhà bên.

Nhưng họ đã thôi nhìn sang đời người khác để đo phần thiếu của mình.

Họ hiểu rằng nơi cao có gió lớn của nơi cao, chốn thấp có nước sâu của chốn thấp. Giàu sang không đáng trách, quyền thế cũng chẳng phải tai họa tự thân. Tai họa thường bắt đầu khi con người đem hết bình an đánh đổi cho lòng tham, lấy danh lợi làm thước đo duy nhất, rồi quên mất mình đang sống cùng ai, vì điều gì.

Một buổi chiều, chiếc chén men xanh vô tình rơi khỏi bàn, vỡ làm ba mảnh.

Tiểu đồng tiếc rẻ hỏi:
“Chiếc chén khuyết ấy quý lắm phải không, thưa thầy.”

Không Chiếu đang nhặt từng mảnh lên, nghe vậy liền đáp:
“Không quý.”

“Vậy sao thầy dùng nhiều năm.”

“Vì nó còn dùng được.”

“Bây giờ thì sao.”

Thiền sư cười:
“Bây giờ thì làm ba miếng kê chân bàn.”

Tiểu đồng ngơ ra rồi cũng cười.

Có những thứ nên giữ khi còn hữu ích. Có những thứ nên buông khi duyên đã tận. Giữ được mà không tham đắm, buông được mà không oán hờn… có lẽ đó mới là chỗ con người học cả đời vẫn chưa xong.

Thông điệp

Đời sống không phải một cuộc chia phần máy móc, rằng hễ có tiền thì phải gặp họa, hễ có quyền thì phải chịu tai ương. Tiền tài, địa vị, tài năng hay phúc duyên đều không tự nhiên tốt hoặc xấu. Chính cách con người nắm giữ chúng mới tạo nên bình an hay khổ lụy.

Không cần khước từ mọi thành tựu, cũng không nên dùng hai chữ “biết đủ” để che lấp sự lười biếng. Ta vẫn có thể làm việc, vun bồi sự nghiệp và sống có ước nguyện. Nhưng trong khi bước tới, cần nhớ rằng sức người có hạn, thời gian có hạn, tình thân cũng có lúc không còn chờ đợi.

Viên mãn không phải là chưa từng mất mát. Viên mãn là giữa những điều chưa trọn, ta vẫn giữ được lòng sáng, biết thương người, biết dừng đúng lúc và không đem cả cuộc đời đổi lấy những thứ cuối cùng chẳng thể mang theo.

Trăng tròn đâu thể mãi tròn
Hoa tươi rồi cũng héo mòn trước sân
Có danh xin giữ nghĩa nhân
Có tiền xin nhớ một phần sẻ chia
Được thì đừng vội kiêu kia
Mất rồi chớ để lòng lìa bình an
Hai tay ôm cả thế gian
Đến khi mỏi gối, muộn màng buông ra
Chén tuy khuyết vẫn đượm trà
Đời chưa toàn vẹn vẫn là đời vui
Biết dừng giữa cuộc đầy vơi
Tâm không vướng mắc, thảnh thơi đường về.

Thái Huyền
Tháng 5/ 2026
🌺🌸🌺🌸🌺

🙏🏻 Bản quyền câu chuyện thuộc về Thái Huyền. Khi sử dụng hoặc trích dẫn, vui lòng ghi rõ nguồn và tên tác giả.
🌺 Xin Bạn Đọc Lưu Ý :
Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính văn chương, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, Truyền Thông hay tin tức báo chí.
Xin Kính Tri Ân Quý Vị

( Một số hình ảnh sưu tầm trên mạng )

🙏🏻🌺🙏🏻🌺🙏🏻

01/08/2026
ĐỌC CẢ ĐẤTTRỜINgày ấy… dưới chân một dãy núi già quanh năm mây phủ, có một ngôi am nhỏ lợp cỏ tranh. Trong am chỉ có hai...
31/07/2026

ĐỌC CẢ ĐẤTTRỜI

Ngày ấy… dưới chân một dãy núi già quanh năm mây phủ, có một ngôi am nhỏ lợp cỏ tranh. Trong am chỉ có hai thầy trò. Vị lão cư sĩ tên là Vô Trần, người đời chẳng ai biết ông từ đâu đến. Người học trò trẻ tên Mộc, mới ngoài hai mươi, ham đọc sách, thông kinh sử, nhưng trong mắt vẫn còn ánh nhìn của kẻ nghĩ mình hiểu biết.

Một sáng đầu thu.

Mộc ôm chồng sách bước vào.
“Thưa sư phụ… con nghĩ mình đọc cũng không ít. Kinh đã thuộc, sử cũng nhớ, thi phú cũng hiểu. Có phải… học đến vậy là đã đủ rồi không?”

Lão cư sĩ không trả lời ngay.

Ông khép cuốn sách đang đọc lại. Nhìn ra khoảng sân trước am. Một chiếc lá vàng vừa rơi xuống chiếc chum nước.
Ông cười.
“Cái lá vừa dạy con một bài… con có đọc được không?”

Mộc ngơ ngác.
“Dạ… chỉ là chiếc lá rơi thôi mà.”

Ông già khẽ gật đầu.
“Ừ… nếu chỉ nhìn thấy chiếc lá, thì mới đọc được cái vỏ.”



Hôm ấy, hai thầy trò xuống núi.
Đường đất quanh co, sương còn chưa tan.

Đi được một đoạn, gặp một bà lão đang cúi mình múc nước bên dòng suối.
Bà múc rất chậm.
Mỗi gáo nước đều đợi mặt nước yên rồi mới múc.

Mộc thấy lạ.
“Sao bà không múc nhanh hơn?”

Bà cười hiền.
“Nước đục vì người khuấy. Chờ nước lặng thì nước tự trong.”

Nói rồi bà lặng lẽ đi.

Mộc bước thêm mấy bước… bỗng quay lại nhìn dòng nước.
Không hiểu sao trong lòng mình cũng lặng đi một chút.

Lão cư sĩ hỏi nhỏ.
“Con vừa đọc được gì?”

“Dạ… nước.”

“Không.”

Ông lắc đầu.
“Con vừa đọc chính cái tâm mình.”



Buổi trưa.
Nắng lên.

Hai thầy trò nghỉ dưới một gốc đa cổ.

Một cơn gió thổi qua.
Lá rung.
Chim hót.
Mây trôi.

Mộc bỗng hỏi.
“Thầy… sao thiên nhiên lúc nào cũng bình yên như vậy?”

Lão cư sĩ bật cười.
“Con chỉ đến đúng lúc nó bình yên thôi.”

Vừa dứt lời…

Một cơn gió mạnh kéo tới.
Mây đen ùn về.
Mưa đổ xuống bất ngờ.

Hai thầy trò chạy vội vào một mái hiên bỏ hoang.

Mộc vừa phủi nước vừa than.
“Thật xui…”

Ông già nhìn màn mưa.

“Con lại đọc sai rồi.”

“Sai chỗ nào ạ?”

“Mưa đâu có xui.”

“Mưa chỉ làm việc của mưa.”
“Người khó chịu… là cái tâm đang chống lại mưa.”

Mộc im.

Ngoài kia.
Mưa vẫn rơi.
Tự nhiên tiếng mưa nghe giống tiếng ai đang gảy đàn.



Chiều xuống.
Họ đến một ngọn núi đá.
Đường rất dốc.
Leo chưa được nửa đường, Mộc đã thở hổn hển.

“Con mệt quá.”

Lão cư sĩ chống gậy.
“Núi không làm con mệt.”

“Là đôi chân chưa quen.”
“Lòng nóng mới làm thân mệt.”

Đi thêm một đoạn.

Mộc trượt chân.
May ôm kịp một tảng đá.
Cậu vừa sợ vừa cười.

“Lần này con nhớ rồi.”

Ông già hỏi.

“Nhớ gì?”

“Đá cứng.”

Lão cư sĩ cười lớn.

“Con vẫn chỉ đọc được đá.”
“Còn núi thì sao?”

“Núi đang dạy con… muốn nhìn xa phải chịu leo cao.”



Tối ấy.
Hai người ngủ nhờ trong một căn lều của người tiều phu.

Trong nhà chỉ có một ngọn đèn dầu.
Ngọn lửa nhỏ.
Lúc sáng.
Lúc yếu.

Mộc nhìn mãi.
“Thầy.”
“Đèn nhỏ thế mà vẫn xua được bóng tối.”

Lão cư sĩ gật đầu.
“Con đọc đúng một nửa.”

“Còn nửa kia?”
“Đèn phải tự cháy mình.”

“Nếu tiếc dầu… thì chẳng bao giờ có ánh sáng.”

Mộc cúi đầu.
Trong lòng như có ai gõ nhẹ.



Đêm khuya.

Mưa đã tạnh.

Hai thầy trò ngồi trước hiên.

Trăng lên.
Vầng trăng sáng như được gột rửa sau cơn mưa.

Mộc ngẩng nhìn.
“Trăng đẹp thật.”

Lão cư sĩ hỏi.
“Có bao nhiêu mặt trăng?”

“Dạ… một.”

Ông cười.
“Không.”

“Một nghìn người sẽ có một nghìn mặt trăng.”

“Người vui đọc trăng thành đoàn viên.”

“Người nhớ quê đọc trăng thành nỗi nhớ.”

“Người tu đọc trăng thành tánh giác.”

“Trăng không đổi.”
“Là lòng người đổi.”



Sáng hôm sau.
Hai người đi ngang một cánh đồng lúa.

Lúa đang thì con gái.
Gió thổi.
Sóng lúa dập dờn như biển.

Một chú bé chăn trâu vừa chạy vừa hát.
Giọng rất dở.
Đến mức con trâu cũng giật mình.

Mộc bật cười.

Thằng bé cũng cười.

“Con hát dở lắm phải không?”

“Dở.”

“Nếu dở thì mai con hát tiếp.”
“Tập mãi chắc sẽ hay.”

Nói rồi cậu bé chạy mất.

Lão cư sĩ nhìn theo.
“Con thấy chưa.”

“Đó là người biết đọc thất bại.”
“Người không sợ sai… mới học được.”

Mộc chợt thấy…

Một đứa trẻ có khi còn là quyển sách lớn hơn mình.



Chiều.
Hai người đến bờ biển.
Biển hôm ấy lặng.
Từng con sóng nối nhau vào bờ.

Mộc đứng rất lâu.

“Con hiểu rồi.”
“Biển lớn vì nhận tất cả.”

Lão cư sĩ mỉm cười.
“Đúng.”

“Sông mang phù sa.”
“Suối mang lá mục.”
“Mưa mang bùn.”

“Biển chẳng chối từ.”
“Cho nên biển mới lớn.”

“Con người cũng vậy.”
“Dung được người khác.”

“Mới dung được chính mình.”



Vài tháng trôi qua.
Một hôm.

Mộc hỏi.
“Thầy.”

“Con đã đọc nước.”
“Đọc mưa.”
“Đọc núi.”
“Đọc biển.”
“Đọc trăng.”
“Đọc cây.”
“Đọc hoa.”
“Đọc gió.”

“Còn gì phải đọc nữa?”

Ông già nhìn thẳng vào mắt học trò.

“Còn.”

“Còn gì ạ?”

“Chính con.”

Mộc lặng người.

Ông nói chậm rãi.
“Đọc sách khó một.”

“Đọc thiên nhiên khó mười.”

“Đọc lòng người khó trăm.”

“Nhưng đọc chính mình… khó gấp ngàn lần.”
“Người đọc được mình.”
“Sẽ bớt trách người.”
“Biết lỗi mình.”
“Sẽ bớt kiêu ngạo.”
“Hiểu mình.”
“Mới thật sự hiểu người.”



Nhiều năm sau.

Lão cư sĩ viên tịch.

Trong am chỉ còn lại một chiếc gậy trúc và một cuốn sổ cũ.

Mộc mở ra.

Bên trong không có kinh văn.
Không có lời huyền diệu.
Chỉ vẻn vẹn mấy dòng chữ đã nhòe mực.

“Học cả đời cũng chưa hết một chiếc lá.”

“Đọc cả thiên hạ vẫn chưa xong một tấm lòng.”

“Mỗi ngày bớt tự cho mình biết… thì mỗi ngày lại hiểu thêm một điều.”

Mộc khép cuốn sổ.
Bước ra sân.
Một cơn gió nhẹ vừa đi qua.
Chiếc lá vàng rơi xuống chum nước năm nào.

Lần này…
Ông không còn thấy chỉ là chiếc lá.
Ông thấy một mùa.
Một đời cây.
Một vòng sinh diệt.
Một bài học vô ngôn.

Ông mỉm cười.

Thì ra… trời đất chưa từng ngừng giảng dạy.

Chỉ là con người nhiều khi quá vội, nên quên lắng nghe.

Thông điệp

Kho tàng tri thức không chỉ nằm trong sách vở, mà còn hiện hữu trong từng giọt nước, cơn mưa, ngọn gió, cành cây, khuôn mặt con người và cả những vui buồn của chính mình. Người học rộng chưa hẳn là người đọc nhiều sách, mà là người biết khiêm cung trước đất trời, biết lắng nghe cuộc sống và không ngừng đọc lại chính tâm mình. Khi đọc được mình, ta sẽ bớt kiêu mạn. Khi hiểu được người, ta sẽ thêm bao dung. Và khi hiểu được quê hương, hiểu được cội nguồn, ta sẽ biết nơi nào là chốn để trở về.

Bài thơ kết

Đọc sông mới hiểu nguồn xa,
Đọc mây mới biết phong ba giữa trời.

Đọc người chớ vội buông lời,
Đọc mình trước đã, lòng thời lặng yên.

Đọc hoa mới thấu nhân duyên,
Đọc cơn mưa nhỏ gột phiền trong tâm.

Đọc quê giữ một âm thầm,
Mang theo bóng mẹ trăm năm chẳng rời.

Đọc đời đến cuối cuộc đời,
Mới hay tri thức… chỉ rơi hạt ngàn.

Thái Huyền
15/9/2018
🌺🟢🌺🟢

🙏🏻 Bản quyền câu chuyện thuộc về Thái Huyền. Khi sử dụng hoặc trích dẫn, vui lòng ghi rõ nguồn và tên tác giả.
🌺 Xin Bạn Đọc Lưu Ý :
Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính văn chương, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, Truyền Thông hay tin tức báo chí.
Xin Kính Tri Ân Quý Vị

( Một số hình ảnh sưu tầm trên mạng )

🙏🏻🌺🙏🏻🌺🙏🏻

Address

48 Sư Vạn Hạnh, Hoà Hải, Ngũ Hành Sơn
Da Nang
550000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Avalokitesvara Festival/ Lễ hội Quán Thế Âm - Marble Mountains Da Nang posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share