Chùa Tây Lâm Phước

Chùa Tây Lâm Phước Trang thông tin chính thức duy nhất của
Thiền Viện Tây Lâm Phước (Chùa Tây Lâm Phước)

01/05/2026

|| HT THÍCH NHẬT QUANG CÙNG CHƯ TĂNG NI BAN QUẢN TRỊ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM THĂM VÀ AN VỊ PHẬT TẠI THIỀN VIỆN TÂY LÂM PHƯỚC

Ngày 08 tháng 05 năm 2022 (nhằm ngày 08/04/Nhâm Dần).

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM.| Thiền sư Vô Ngôn Thông (? - 826) (Tổ khai sáng dòng Thiền Vô Ngôn Thông ở Việt Nam) |Sư họ Trịnh ...
28/04/2026

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM.

| Thiền sư Vô Ngôn Thông (? - 826) (Tổ khai sáng dòng Thiền Vô Ngôn Thông ở Việt Nam) |

Sư họ Trịnh quê ở Quảng Châu, xuất gia tại chùa Song Lâm xứ Vũ Châu. Tánh Sư điềm đạm ít nói mà thông minh, nên thời nhân gọi là Vô Ngôn Thông.

Sư lễ Phật, có một Thiền khách đến hỏi:

- Tọa chủ lễ đó là cái gì?

Sư đáp:

- Là Phật.

Thiền khách bèn chỉ tượng Phật hỏi:

- Cái này là Phật gì?

Sư không đáp được.

Đến tối, Sư y phục chỉnh tề đến lễ Thiền khách, thưa:

- Hôm nay Thầy hỏi, tôi chưa biết ý chỉ thế nào?

Thiền khách hỏi:

- Tọa chủ được mấy hạ?

Sư thưa:

- Mười hạ.

Thiền khách bảo:

- Đã từng xuất gia chưa?

Sư càng thêm mờ mịt.

Thiền khách khuyên Sư đồng đến tham vấn với Mã Tổ. Đi đến Giang Tây nghe tin Mã Tổ đã tịch, bèn đến yết kiến Bá Trượng Hoài Hải.

Một hôm trong giờ tham vấn, có vị Tăng hỏi Bá Trượng:

- Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa?

Bá Trượng đáp:

- Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu.

Nghe câu này, Sư hoát nhiên đại ngộ.

Sau, Sư về Quảng Châu trụ trì tại chùa Hòa An. Có người hỏi:

- Thầy phải Thiền sư chăng?

Sư đáp:

- Bần đạo chẳng từng học thiền.

Sư lặng thinh giây lâu, gọi người kia.

Người kia đáp:

- Dạ!

Sư chỉ cây tòng lư (cây móc).

Một hôm, Sư bảo Huệ Tịch đem giường lại. Huệ Tịch đem đến.

Sư bảo:

- Đem lại chỗ cũ.

Huệ Tịch vâng theo.

Sư hỏi:

- Cái giường ở bên này là vật gì?

- Không vật.

Sư gọi:

- Huệ Tịch!

Huệ Tịch đáp:

- Dạ!

Sư bảo:

- Đi!

*
* *

Năm Canh Tý niên hiệu Nguyên Hòa thứ mười lăm đời Đường (820), Sư sang An Nam ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng, huyện Tiên Du Bắc Ninh. Ở đây trọn ngày, Sư ngồi xây mặt vào vách, suốt mấy năm mà không ai biết, chỉ Thiền sư Cảm Thành (trụ trì chùa này) biết Sư là vị Cao tăng đắc đạo trong nhà thiền. Cảm Thành hết lòng kính trọng tôn thờ Sư làm thầy.

Một hôm, Sư gọi Cảm Thành đến bảo:

- Ngày xưa Tổ sư là Nam Nhạc Hoài Nhượng khi sắp tịch có dặn mấy lời:

Tất cả các pháp đều từ tâm sanh
Tâm không chỗ sanh, pháp không chỗ trụ.
Nếu đạt tâm địa chỗ trụ không ngại
Chẳng gặp thượng căn dè dặt chớ dạy.

(Nhất thiết chư pháp giai tùng tâm sanh
Tâm vô sở sanh pháp vô sở trụ.
Nhược đạt tâm địa sở trụ vô ngại
Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa.)

Nói xong, Sư chấp tay thị tịch, nhằm năm Bảo Lịch thứ hai đời Đường (826). Cảm Thành rước Sư lên hỏa đàn, thu hài cốt xây tháp thờ ở núi Tiên Du.

•| Thiền sư Việt Nam / HT Thích Thanh Từ.

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM| Thiền sư Pháp Hiền (? - 626) (Đời thứ 1, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi) |Sư họ Đỗ quê ở Chu Diên (Sơn Tây)...
27/04/2026

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM

| Thiền sư Pháp Hiền (? - 626) (Đời thứ 1, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi) |

Sư họ Đỗ quê ở Chu Diên (Sơn Tây), thân hình to lớn cao đến bảy thước ba tấc (2m30). Khi mới xuất gia, Sư theo Đại sư Quán Duyên ở chùa Pháp Vân thọ giới. Đến lúc Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang Việt Nam vào chùa Pháp Vân gặp Sư, Tổ nhìn kỹ vào mặt hỏi:

- Ngươi họ gì?

Sư đáp:

- Hòa thượng họ gì?

- Ngươi không có họ sao?

- Họ thì chẳng không, Hòa thượng làm sao biết được?

- Biết để làm gì?

Sư bỗng nhiên tự tỉnh, liền sụp xuống lạy. Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi ấn chứng, từ đây về sau Sư luôn luôn theo hầu Tổ.

Sau khi Tổ tịch, Sư vào núi Từ Sơn tu thiền định, thân như cây gỗ, vật ngã đều quên. Các loài cầm thú thường quấn quít chung quanh Sư. Người đời thấy thế càng thêm kính mộ, đệ tử tìm đến học đạo càng ngày càng đông. Nhân đó, Sư mới lập chùa nhận đồ đệ ở tu, số học chúng hằng ngày trên ba trăm vị. Thiền tông phương Nam từ đây được thạnh hành.

Thích sử Lưu Phương nghe danh của Sư, bèn dâng sớ về Trung Quốc tâu lên vua nhà Tùy:

“... Cõi này người khâm sùng Phật giáo, lại có những vị cao đức danh tăng...”

Vua Tùy sai sứ mang năm hòm xá-lợi Phật và tờ điệp, bảo Sư xây tháp cúng dường. Sư bèn xây tháp ở chùa Pháp Vân và các chùa danh tiếng ở các châu Phong, Hoan, Trường, Ái... cũng đều dựng tháp cúng dường.

Về sau, Sư trụ trì tại chùa Chúng Thiện, núi Thiên Phước huyện Tiên Du.

Niên hiệu Võ Đức năm thứ chín đời Đường (626), Sư an tường thị tịch. Thiền sư Thanh Biện là người kế thừa dòng thiền của Sư.

•| Thiền sư Việt Nam / HT Thích Thanh Từ.

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM.| Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) (? - 594) (Tổ khai sáng dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi ở Việt...
26/04/2026

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM.

| Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) (? - 594) (Tổ khai sáng dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi ở Việt Nam) |

Sư là người Nam Thiên Trúc (Nam Ấn Độ) dòng Bà-la-môn tên Vinitaruci. Thuở nhỏ đã có chí khác thường, đi khắp miền Tây Trúc (Tây Ấn Độ) để tham khảo Thiền tông. Nhưng vì cơ duyên chưa gặp, Sư lại sang Đông Nam.

Sư sang Trung Quốc nhằm đời Trần Tuyên Đế niên hiệu Thái Kiến năm thứ sáu (574) vào đến Trường An. Gặp thời Chu Vũ Đế phá diệt Phật pháp, Sư lại phải sang qua đất Nghiệp (Hồ Nam). Lúc ấy, Tổ Tăng Xán đang mang y bát ở ẩn trong núi Tư Không, bỗng nhiên Sư tìm gặp được Tổ. Thấy cử chỉ phi phàm của Tổ, Sư phát tâm kính mộ, đến trước vòng tay ba lần, Tổ vẫn ngồi im nhắm mắt không nói. Sư đứng suy nghĩ giây lát bỗng nhiên tâm có sở đắc. Sư liền sụp xuống lạy ba lạy, Tổ cũng chỉ gật đầu ba cái. Sư lùi lại ba bước thưa:

- Đệ tử lâu nay không được an, Hòa thượng vì lòng đại từ bi, xin cho con theo hầu hạ Ngài.

Tổ bảo:

- Ngươi nên mau qua phương Nam giáo hóa, không nên ở đây lâu.

Sau khi được tâm ấn nơi Tổ, Sư từ biệt sang Quảng Châu trụ trì tại chùa Chế Chỉ. Thời gian sáu năm ở đây, Sư dịch xong bộ kinh “Tượng Đầu Tinh Xá” chữ Phạn ra chữ Hán (1) .

Đến niên hiệu Đại Tường năm thứ hai nhà Chu (580), Sư sang Việt Nam trụ trì tại chùa Pháp Vân (2) . Nơi đây, Sư dịch xong bộ kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì (3) .

Một hôm, Sư gọi đệ tử nhập thất là Pháp Hiền bảo:

- Tâm ấn của chư Phật, không có lừa dối, tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, không đi không lại, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn; vốn không có chỗ sanh, cũng không có chỗ diệt, cũng chẳng xa lìa, mà chẳng phải chẳng xa lìa. Vì đối với vọng duyên mà giả lập tên ấy thôi. Bởi thế, chư Phật trong ba đời cũng như thế, nhiều đời Tổ sư cũng do như thế mà được, ta cũng do như thế được, ngươi cũng do như thế được, cho đến hữu tình vô tình cũng do như thế được. Tổ Tăng Xán khi ấn chứng tâm này cho ta, bảo ta mau về phương Nam giáo hóa, không nên ở đây lâu. Đã trải qua nhiều nơi, nay đến đây gặp được ngươi quả là phù hợp với lời huyền ký. Vậy ngươi khéo giữ gìn, giờ đi của ta đã đến.

Nói xong, Sư chắp tay thị tịch. Pháp Hiền làm lễ hỏa táng, lượm xá-lợi năm sắc, xây tháp cúng dường. Năm ấy nhằm niên hiệu Khai Hoàng thứ mười bốn nhà Tùy (594).

Về sau, vua Lý Thái Tông (1028-1054) có làm bài kệ truy tán phong tặng Sư:

Mở lối nước Nam đến
Nghe Ngài giỏi tập thiền.
Hiện bày các Phật tánh
Xa hiệp một nguồn tâm.
Trăng Lăng-già sáng rỡ
Hoa Bát-nhã ngạt ngào.
Bao giờ được gặp mặt
Cùng nhau bàn đạo huyền.

(Sáng tự Nam lai quốc
Văn quân cửu tập thiền
Ứng khai chư Phật tánh
Viễn hợp nhất tâm nguyên
Hạo hạo Lăng-già nguyệt
Phân phân Bát-nhã liên
Hà thời hạnh tương kiến
Tương dữ thoại trùng huyền.)

(1) Phật thuyết Tượng Đầu Tinh Xá Kinh, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng số 466.

(2) Chùa Pháp Vân cũng gọi là chùa Dâu tên chữ là chùa Diên Ứng ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, hiện nay cách Hà Nội khoảng 25km về hướng Đông. Chùa này thời Lý gọi là chùa Cổ Châu (làng Cổ Châu, huyện Siêu Loại); đời Trần gọi là chùa Thiền Định hay chùa Siêu Loại; đời Hậu Lê gọi là chùa Diên Ứng .

(3) Phật thuyết Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì Kinh, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng số 275.

•| Thiền sư Việt Nam / HT Thích Thanh Từ.

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM.| Thiền sư Thích Huệ Thắng (thế kỷ thứ 6) |Thích Huệ Thắng, là người Giao Chỉ, ở chùa núi Tiên Châu...
25/04/2026

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM.

| Thiền sư Thích Huệ Thắng (thế kỷ thứ 6) |

Thích Huệ Thắng, là người Giao Chỉ, ở chùa núi Tiên Châu, lánh ngụ rừng đầm, thong d**g ngoại vật, tụng kinh Pháp Hoa, ngày đến một biến, mỗi năm càng sâu. Sư ăn mặc đơn sơ, tùy thân vui dùng, theo Thiền sư nước ngoài là Đạt-ma-đề-bà (Dharmadeva) học pháp quán hạnh. Mỗi lần Sư nhập định đến ngày mai mới xuất định.

Lưu Tích ở Bành Thành khi làm Thái thú ở Nam Hải, nghe đạo phong của Sư, lúc về nước thỉnh Sư cùng đi. Khi về tới Bành Thành, Sư cư trú tại chùa U Thê. Sư giữ kín chỗ kỳ đặc, thường tỏ ra ngu ngốc. Nhưng người ở lâu với Sư rất kính trọng, những học giả về Thiền rất khâm phục. Ở chùa U Thê, Sư không đòi phần ăn, chỉ sống bằng khất thực, hoàn toàn tuân theo sự thanh liêm.

Năm Vĩnh Minh thứ năm (487), Sư dời về Tinh xá Diên Hiền tại núi Khế Chung. Từ trẻ đến già, Sư giữ gìn một tâm trinh chánh.

Sư mất khoảng niên hiệu Thiên Giám (502-519), tuổi vừa bảy mươi.

•| Thiền Sư Việt Nam / HT Thích Thanh Từ.

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM.| Thiền Sư Thích Đạo Thiền (đầu thế kỷ thứ 6) |Thích Đạo Thiền, người Giao Chỉ, sớm xuất gia lập hạ...
24/04/2026

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM.

| Thiền Sư Thích Đạo Thiền (đầu thế kỷ thứ 6) |

Thích Đạo Thiền, người Giao Chỉ, sớm xuất gia lập hạnh tinh nghiêm, giới luật trong sạch, chẳng kém các bậc cao đức. Dân chúng tăng tục đều kính quí đức khắc kỷ và sự dốc chí tu hành của Sư. Chùa núi Tiên Châu xưa bị nhiều cọp quấy nhiễu, Sư đến ở đó nạn ấy liền hết. Nghe Cánh Lăng Vương nhà Tề rộng mở Thiền luật, lập nhiều chỗ giảng dạy, người xa gần rong ruổi kéo đến Kim Lăng. Họ là những người tài đức bốn phương trong đạo. Sư giảng dạy kinh điển rất thông, ban đêm ít ngủ tham khảo kinh sách cố tìm chân lý. Đến năm Vĩnh Minh thứ nhất (483), Sư dạo đến kinh đô ở chùa Vân Cư Hạ tại Chung Sơn. Sư vâng lệnh Vua điều khiển Tăng chúng, nổi tiếng vì rộng dùng luật Thập Tụng...

Sư thích diệt giác và quán, luôn ẩn núi xa, nếu cảnh ồn náo liền tìm cách lui bước. Sư thích ăn những thức ăn hoang dã, mặc đồ rách rưới, miệng không bao giờ nói chuyện phù phiếm; nếu có ai cho thức ngon đồ đẹp đều đem cấp phát cho người nghèo ốm. Sư sống một đời thiểu dục tri túc, ít ai sánh kịp. Về già, Sư đến ở nhà của chùa, chôn dấu mình ở núi rừng không giao thiệp với kẻ cao sang, sống trong cảnh khổ hạnh. Người ta cho thế là buồn, song Sư vẫn thấy là an vui của mình. Niên hiệu Đại Thông thứ nhất (527) Sư mất ở chùa núi, thọ bảy mươi tuổi.

•| Thiền sư Việt Nam / HT Thích Thanh Từ.

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM.| Thiền sư Khương Tăng Hội (? - 280) |Ngài Khương Tăng Hội (K’ang-Sen-Houci) người nước Khương Cư (...
24/04/2026

|| THIỀN SƯ VIỆT NAM.

| Thiền sư Khương Tăng Hội (? - 280) |

Ngài Khương Tăng Hội (K’ang-Sen-Houci) người nước Khương Cư (Sogdiane), cha mẹ sang Giao Châu buôn bán. Ngài mồ côi cha mẹ từ lúc mười tuổi. Sau thời kỳ cư tang, Ngài xuất gia, chăm học kinh điển, trở thành một tăng sĩ nổi danh thời ấy. Ngài tánh tình chân thật hòa nhã rất thông minh. Ngài thông hiểu Tam tạng, Lục kinh còn nghiên cứu toán số, thiên văn, văn chương và chánh trị. Ngài sang Đông Ngô tuyên dương Phật pháp trong thời Ngô Tôn Quyền (229-252).

Ngài đến thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh) nhằm năm thứ mười niên hiệu Xích Ô nhà Ngô (247) cất một túp lều ở đó tu trì và mở trường giảng dạy. Ngô Tôn Quyền thấy Ngài thi thố nhiều phép lạ lấy làm tín phục, xây dựng ngôi chùa Kiến Sơ thỉnh Ngài ở. Từ đây Phật giáo thạnh hành miền Giang Tả.

Ngài phiên dịch nhiều kinh chữ Phạn ra chữ Hán và viết tựa trong kinh An Ban Thủ Ý, biên tập chú sớ các kinh khác, Ngài tịch khoảng niên hiệu Thiên Kỷ thứ tư nhà Ngô (280).

•| Thiền sư Việt Nam / HT Thích Thanh Từ.

|| PHÒNG HỘ TÂM.Vọng tưởng, phóng dật là căn bệnh muôn thuở của chúng sinh. Mấy ai trong chúng ta chưa từng mang trong m...
20/04/2026

|| PHÒNG HỘ TÂM.

Vọng tưởng, phóng dật là căn bệnh muôn thuở của chúng sinh. Mấy ai trong chúng ta chưa từng mang trong mình những vết thương âm ỉ, những nỗi buồn không tên, lặng lẽ chất chứa và lớn dần theo năm tháng.

Căn bệnh ấy không biểu hiện trên thân xác, nhưng lại ngấm sâu vào từng ý nghĩ, từng nhịp thở, khiến ta ngày đêm khắc khoải, ưu tư, để rồi dần dà, ta vô tình đẩy chính mình vào nấm mồ của tủi hận. Cố nhiên, những phiền não hay bất an này sẽ chẳng thể nào được chuyển hóa, nếu ta cứ mãi dừng lại ở việc than trời trách đất, hay khẩn cầu sự thương xót từ một ai khác. Thế thì, làm cách nào để thoát khỏi vòng xoáy thăng trầm tục lụy, trả lại cho bản thân niềm hạnh phúc vốn có thuở ban sơ. Niềm hạnh phúc này không thể tìm thấy nơi các pháp hữu lậu mà chỉ có thể nhận được ngay nơi tự tâm chúng ta.

Trong kinh Pháp cú số 21 và 22, Đức Phật dạy:

“Không phóng dật, đường sống
Phóng dật là đường chết
Không phóng dật, không chết
Phóng dật như chết rồi”.

“Biết rõ sai biệt ấy
Người trí không phóng dật
Hoan hỷ, không phóng dật
An vui hạnh bậc Thánh”.

Là người học Phật, chúng ta biết rằng sinh tử là việc lớn của đời người, mục đích tu tập cũng không ngoài việc chấm dứt câu chuyện khổ đau này. Nói chuyện tử sinh, không phải để có ra các thứ lo lắng, bất an rồi từ đó rơi vào tâm lý bi quan, yếm thế; mà nhắc đến việc sống chết để kích phát sự tinh tấn tu tập, kể chuyện sinh tử để chỉ ra cái bất tử, bàn về sinh diệt để thấy được vô sinh. Vậy nên, mỗi chúng ta phải hiểu và hành trì cho thấu đáo để thấy ra những vấn đề mấu chốt thông qua những lời dạy của Đức Thế Tôn, cụ thể là thấy ra nguyên nhân khiến chúng ta đi trong sinh tử, phương pháp hành trì để vượt thoát sinh tử? Hiểu được nguyên nhân cũng như vấn đề cốt lõi, chúng ta sẽ dễ dàng lấy đó làm cơ sở y cứ trong công phu tu tập, xa hơn là thành tựu các phẩm hạnh trong sự nghiệp tự lợi và lợi tha.

Qua lời dạy của Đức Phật, chúng ta thấy rõ: chính tâm phóng dật, buông lung và dính mắc nơi các pháp hữu lậu là nguyên nhân chủ yếu đưa chúng ta vào trong vòng luân hồi. Để vượt thoát, không có con đường nào khác ngoài việc hành trì pháp “không phóng dật”. Cụ thể hơn, là thực tập “phòng hộ tâm”.

Trong bài kinh Phòng hộ tâm kinh số 1 có đoạn chép:

“Một thời Đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: ‘Hãy tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Khi đã tu hành một pháp, quảng bá một pháp rồi, liền được thần thông, các hành tịch tĩnh, được quả Sa-môn, đến Niết-bàn giới. Một pháp đó là gì? Đó là hành không phóng dật. Thế nào là hành không phóng dật? Là phòng hộ tâm. Thế nào là phòng hộ tâm? Ở đây, Tỳ-kheo thường thủ hộ tâm khỏi pháp hữu lậu”.

Thông qua đây, ta lại càng chắc rằng việc thực hành pháp không phóng dật là điều quan trọng khi tâm không phóng dật cũng đồng nghĩa với việc phòng hộ tâm khỏi các pháp hữu lậu hay nói một các cụ thể hơn là pháp hữu lậu mất lực chi phối đối với chúng ta, cụ thể ngay khi tâm không còn phóng dật tức là tâm không khởi niệm vọng tưởng, do không vọng tưởng nên không dính mắc hay chạy theo cảnh duyên; do đó, cảnh duyên không thể chi phối làm cho chúng ta bất an hay lo lắng mà trái lại cho chúng ta một nội lực kiên cố, trí lực vững vàng, diệu lực không thể nghĩ bàn giúp chúng ta vượt thoát, tự tại trên tất cả cảnh.

Tuy nhiên, tâm chúng sinh thường hay tán loạn, chạy theo gặm nhấm trên nền tảng pháp hữu lậu để tìm kiếm niềm vui. Việc phóng tâm ấy khiến ta dán chặt vào muôn cảnh, muôn duyên để rồi từ đó dấy khởi vô số vọng niệm, tạo điều kiện cho chính chủ nhân có thêm tư liệu và cảm xúc để viết tiếp câu chuyện mừng, thương, giận, ghét trong chính quyển nhật ký sinh tử của mình. Không phải ngẫu nhiên mà trong hội Pháp hoa, Đức Phật ví chúng sinh không khác gì gã cùng tử lang thang đây đó, quên mất mình là con trưởng giả, sở hữu cả một gia tài kết xù vô giá, mà chấp nhận một đời sống cơ cực, bần hèn. Ngẫm lại, thật không khỏi bùi ngùi: Vì cớ sao Phật lại nói “trúng” đến vậy! Dường như Đức Phật đang nói mình thì phải?

Đã bao giờ ta chịu dừng lại để quán xét xem mình là gì trong cuộc đời này? Hay ta chỉ là mải miết đeo đuổi những danh vọng phù hoa, chạy theo các chuẩn mực rườm rà mà xã hội hiện thời cho là “có gu”, là “bắt kịp thời đại”? Cứ thế, ta vô tình chấp nhận một thân phận nổi trôi, nhận lấy những cù cặn, bon chen của thế gian để tiếp tục phiêu lãng về miền viễn xứ mênh mang, vô định.

Nhưng! May thay, chúng ta vẫn còn có Phật, còn có chư vị Tổ sư, thiện hữu tri thức trong đời. Các Ngài đã có mặt đúng lúc, kịp thời để an ủi những đứa trẻ thơ dại như chúng ta, đồng thời chỉ ra một con đường sáng để giải thoát, hay chí ít là gầy dựng một niềm tin để cho hạng sơ cơ chúng ta vững lòng tu tập. Như lời Thiền sư Pháp Loa dạy trong Thượng thừa Tam học khuyến chúng phổ thuyết:

“Trong 24 giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không dấy động. Tâm không dấy động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cảnh khởi phân biệt, thức không vì pháp trần mà dính mắc. Ra vào không giao thiệp nên gọi ngăn dừng. Tuy nói ngăn dừng mà chẳng phải ngăn dừng. Nên biết tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế.”

Ngài nhấn mạnh trước hết là phải “dứt hết các duyên bên ngoài”. Vậy, chúng ta thấy ra điều gì thông qua lời dạy này? Việc tu hành có phải chăng là dẹp bỏ hết mọi thứ mà ta cho là dính mắc? Như khi ta dính mắc vào tiền tài thì dẹp tiền tài, dính vào công việc thì bỏ luôn công việc, vậy khi ta dính mắc vào… hư không, thì phải làm sao để dẹp bỏ đây? Pháp tu này xem ra khó nhằn! Chấp vào cái có hình tướng thì họa may ta còn dẹp được, còn đằng này dính vào cái không hình không tướng thì sao dứt được? Do đó, nếu ta hiểu theo kiểu “hễ còn duyên là phải dẹp bỏ”, thì dù có hành trì suốt đời cũng khó mà đạt kết quả, lại dễ rơi vào cực đoan, tiêu cực và sai lệch với Chánh pháp. Và nếu thật sự phải “dẹp bỏ hết các duyên” mới gọi là tu, thì đó là điều bất khả vì duyên không thể dứt hết, cảnh không thể không có. Do vậy, việc “dứt hết các duyên” cần được hiểu là không dính mắc, không can thiệp vào các duyên; tuy nhiên, cũng không phải là sự gò ép hay kiềm chế trong tâm ý, “cố cho được” không dính mắc như thế là tâm đang kiềm đè, dễ gây ra trạng thái căng thẳng, không phải là diệu kế lâu dài.

Trái lại, buông xuống tất cả khái niệm, trả lại tâm rỗng lặng. Lúc này, tuy không loạn động mà vẫn hằng sáng biết rõ ràng. Cái biết này không phải có ra từ phân biệt dựa trên cảnh duyên sinh diệt, mà là liễu biệt đối với tất cả pháp, tức cái biết của trí tuệ, không phải theo tình thức nên không bị cảnh duyên kéo lôi. Thực tiễn, ngay khi tâm an tịnh, sáng biết khi đối trước cảnh như: Đưa cành hoa lên liền rõ biết là cành hoa, khi hạ xuống, vẫn rõ biết như vậy. Cái biết này không bị cành hoa chi phối, cũng không phụ thuộc vào cành hoa có hay không mà là vốn tự nơi mình rõ suốt. Khi đã sống thuần với cái tâm không dao động, dừng lại việc chạy theo cảnh, cũng đồng nghĩa với việc “hành không phóng dật” hay “hàng phục tâm” một cách có hiệu quả. Nói rõ hơn, khi nào chúng ta thực sự sống bằng tự tánh giác sáng không mê là đang hàng phục tâm; được như vậy thì cho dù cảnh có đến hay đi cũng không thể làm ta bận lòng, mà trái lại giữa trong đời sống tấp nập mà ta vẫn có được an lạc, hòa chung bao cảnh bộn bề mà ta vẫn như nhiên, bình thản. Siêu xuất hơn là như lời người xưa nói: “Ta-bà tức Tịnh độ”, “Phiền não tức Niết-bàn”. Cái hạnh phúc đích thực không phải do lánh đời mà có được, mà là ngay khi tâm tịnh tức Phật độ tịnh, như thế mới thật sự là rốt ráo an lạc như lời Đức Phật dạy:

“Người hằng tu thiền định,
Thường kiên trì tinh tấn.
Bậc trí hưởng Niết-bàn,
Ðạt an tịnh vô thượng.”

“Nỗ lực, giữ chánh niệm,
Tịnh hạnh, hành thận trọng
Tự điều, sống theo pháp,
Ai sống không phóng dật,
Tiếng lành ngày tăng trưởng.”

(Pháp cú số 23,24)

•| Thích Đạt Ma Vân Quang /Báo Giác Ngộ

14/04/2026

NHỮNG HÌNH ẢNH THÂN THƯƠNG CỦA SƯ ÔNG THÍCH TRÍ TỊNH

|| CHUYỆN ĐẠO, CHUYỆN ĐỜI. | Chiếc Cùm Bằng Ngọc |Thuở xưa, có một nàng công chúa bị quân địch bắt về giam giữ tại một h...
11/04/2026

|| CHUYỆN ĐẠO, CHUYỆN ĐỜI.

| Chiếc Cùm Bằng Ngọc |

Thuở xưa, có một nàng công chúa bị quân địch bắt về giam giữ tại một hang núi nọ. Quân giặc trói nàng bằng một chiếc cùm bằng sắt, nạn nhân liền phản đối ấm ĩ, lúc nào cũng tìm cách thoát thân. Cuối cùng bọn giặc nhốt nàng vào một chiếc lầu sơn son thếp vàng thật đẹp, đổi chiếc cùm bằng sắt bằng chiếc cùm vàng nạm ngọc... Nạn nhân liền đổi giận làm vui, nghĩ rằng từ nay mình được sở hữu cả một gia tài khổng lồ nên đành cam chịu cảnh tù tội, không bao giờ nghĩ cách thoát thân nữa.

Em thân mến!
Những chiếc cùm dù có làm bằng phẩm lượng khác nhau đi nữa, chúng cũng có cùng mục đích là trói buộc, tước đoạt sự tự do của chúng ta. Cởi bỏ
một chiếc cùm bằng sắt, bằng gỗ... tuy là khó thật nhưng so với chiếc cùm bằng vàng bạc, kim cương... thì mới là thiên nan vạn nan. Những người bị trói bằng chiếc cùm quý có thể tự tử chết nếu được giải thoát. Em có thấy điều ấy không?

Có lẽ vì thế mà kinh Kim Cang có câu:
“Pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp”, nghĩa là “Cùm vàng cũng phải cởi nữa là cùm bằng kẽm g*i chăng?”

•| Trích Hư Hư Lục - Ni Sư Như Thuỷ.

Chánh kiến, chánh tư duy là chất liệu làm cho đức tin của chúng ta nơi Tam bảo ngày thêm kiên cố.    “Này bạn, xin bạn c...
07/04/2026

Chánh kiến, chánh tư duy là chất liệu làm cho đức tin của chúng ta nơi Tam bảo ngày thêm kiên cố.
“Này bạn, xin bạn chớ buồn vì những dư luận xảy ra dạo gần đây. Đạo Phật mình vẫn đẹp! Người tu sĩ mình vẫn đẹp lắm, nhất là giữa nhịp sống hối hả hôm nay! Khi xưa, Phật cũng từng bị vu oan hạ nhục đấy thôi.
Đạo Phật trải qua 2.600 năm lịch sử, thời đại nào mà chằng có những biến động thử thách?

Suy cho cùng dù nói gì đi nữa chúng ta cũng không thể phủ nhận giá trị thiết thực của đạo Phật đối với con người và xã hội nhất là trong thời đại giá trị đạo đức của con người đang dần đi xuống.

Nếu bạn là người trí thức, có sự nhìn nhận bạn sẽ càng trân trọng người tu sĩ biết bao. Trong xã hội phát triển về mọi mặt như ngày nay, nhu cầu hưởng thụ của con người càng cao thì bạn hãy nhìn lại mà xem...

Khi các bạn chưng diện cho mình những bộ cánh đắt tiền thì người tu sĩ vẫn bộ đồ lam giản dị khi các bạn có sơn hào hải vị, hội họp thường xuyên thì người tu sĩ vẫn rau dưa đạm bạc, sống chay lạc qua ngày khi các bạn có những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, picnic, karaoke, vũ trường... thì người tu sĩ vẫn lặng lẽ, đều đặn kệ kinh sớm chiều; khi các bạn có những ngày ngủ tới mặt trời lên đến đỉnh thì người tu sĩ vẫn đúng 3-4h dậy công phu. Trong khi bạn yêu sống chết duy nhất 1 người thì người tu sĩ lại đem tình yêu của mình ban trải đến mọi loài xung quanh..”

Người tu sĩ phải trải qua những khổ luyện tương tự như thế đấy bạn ạ. Chứ không phải đơn giản là những kẻ hôm trước người ta kêu bằng "thằng", hôm nay cạo tóc một cái người ta liền gọi bằng "thầy" rồi lạy lục, và dâng cúng. Bạn ơi, cơn lốc xoáy nào rồi cũng đi qua, tất cả mọi thứ rồi cũng lùi vào dĩ vãng. Tôi chỉ biết rằng tôi và bạn đang rất hạnh phúc vì đang cùng nhau đi trên con đường hạnh phúc - một hạnh phúc không gì đánh đối được giữa cuộc đời vô thường sanh diệt.

Hãy hứa với tôi, chúng ta mãi mãi là pháp lữ, mãi mãi mạnh mẽ bước những bước chân thật vững chãi trên con đường mình đã chọn. Dù sao đi nữa tôi vẫn thấy mình thật hạnh phúc vì được làm tu sĩ, bạn ạ.

Address

Ấp Thạnh Phước 2 Xã Trung Thạnh Huyện Cờ Đỏ
Can Tho

Opening Hours

Monday 07:00 - 20:00
Tuesday 07:00 - 20:00
Wednesday 07:00 - 20:00
Thursday 07:00 - 20:00
Friday 07:00 - 20:00
Saturday 07:00 - 20:00
Sunday 07:00 - 20:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Tây Lâm Phước posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Chùa Tây Lâm Phước:

Share