Chùa Tây Lâm Phước

Chùa Tây Lâm Phước Trang thông tin chính thức duy nhất của
Thiền Viện Tây Lâm Phước (Chùa Tây Lâm Phước)

|| THÔNG BÁO LỄ TRUYỀN TAM QUY NGŨ GIỚI
23/08/2026

|| THÔNG BÁO LỄ TRUYỀN TAM QUY NGŨ GIỚI

"Phụ mẫu tại tiền như Phật tại thếCon xuất gia cũng hiểu lẽ vuông trònMuốn cung dưỡng không gì bằng phước huệKhông gì bằ...
22/08/2026

"Phụ mẫu tại tiền như Phật tại thế
Con xuất gia cũng hiểu lẽ vuông tròn
Muốn cung dưỡng không gì bằng phước huệ
Không gì bằng ân đức Từ Tôn".

Chớ bảo người xuất gia là không biết giữ đạo hiếu, chỉ là cách thể hiện sự hiếu kính ấy không giống người thế gian. Thay vào đó thể hiện bằng việc ngày đêm nỗ lực, tinh tấn tu hành, khắc phục những ham muốn và mềm yếu của bản thân, thẳng tiến trên con đường Giới-Định-Tuệ. Cách người xuất gia báo hiếu không chỉ dừng lại trên phương diện hình thức vật chất, mà còn lấy tự thân làm hình mẫu lý tưởng của đời sống giải thoát, cốt yếu làm sao gieo được hạt giống đức tin Tam bảo nơi cha mẹ, đồng thời giúp cho bậc sinh thành có một đời sống tỉnh thức và chánh tín, biết từ bỏ việc ác, làm các việc lành, mở lòng bố thí, tu tập theo Chánh pháp, có được niềm vui chân thật vững bền. Chính điều ấy mới thực là cách báo hiếu sâu sắc và tròn đầy nhất.
Hiểu đạo không chỉ là chuyện phụng dưỡng cơm cháo thuốc thang, mà còn mở ra đường sáng cho cha mẹ đi vào nẻo thiện. Đó là điều mà chư vị thiền sư hay những hành giả xuất sĩ đã và đang làm.

Lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng ghi nhận nhiều tấm gương hiếu đạo của chư vị thiền tổ như: Chuyện Thiền sư Tông Diễn một lòng độ mẹ sanh thiên, Thiền sư Liễu Quán nhiều năm chẻ củi kiếm tiền nuôi cha, Thiền sư Nhất Định dựng am tranh phụng dưỡng mẹ già v.v... Những câu chuyện ấy không chỉ làm lay động lòng người mà còn khẳng định rằng, đạo Phật chưa từng rời xa chữ hiếu. Đối với người xuất gia mà nói, nếu sống trọn vẹn với lý tưởng giải thoát đồng nghĩa là đang báo hiếu. Chính khi ấy, đạo hiếu và đạo giác hòa làm một. Thế nên, sự thành tựu đạo nghiệp của con chính là vinh quang của mẹ.

Thích Đạt Ma Vân Quang/Báo Giác Ngộ

|| VINH QUANG CỦA MẸ. Nhắc đến thiền sư, người ta thường nghĩ ngay đến những cơ phong huyền diệu, chỗ ngộ sâu xa hay đạo...
18/08/2026

|| VINH QUANG CỦA MẸ.

Nhắc đến thiền sư, người ta thường nghĩ ngay đến những cơ phong huyền diệu, chỗ ngộ sâu xa hay đạo phong cao vút. Nhưng bên cạnh đó, đời sống và những câu chuyện dung dị thường ngày của các ngài còn là một tấm gương sáng ngời đáng để cho hàng tứ chúng noi theo.

Chính từ đời sống ấy, đã lưu lại biết bao câu chuyện đời thường cảm động, khiến người sau càng thêm kính phục. Chuyện lá thư của mẹ Thiền sư Động Sơn-Lương Giới (đời Đường, Trung Hoa) đã khắc họa nên hình ảnh một người mẹ chân quê, hiền từ, thương con, hiểu đạo, luôn dõi theo con suốt chặng đường tu hành.

Thư viết: “Mẹ cùng con vốn có duyên đời trước, cho nên đời này mới kết thành tình mẹ con sâu nặng. Từ khi mới mang thai, ngày đêm mẹ luôn cầu thần khẩn Phật nguyện ước sanh được con trai. Đến lúc tháng ngày đã đủ, hạ sanh ra con thì mạng mẹ như chỉ mành treo chuông. Ước nguyện đã thành, mẹ quý con như trân bảo, chẳng hiềm phân tiểu hôi dơ, nào ngại bú mớm lao khổ. Đến khi vừa lớn thì cho con đến trường, hoặc như có lúc tạm thời con đi chưa về thì tựa cửa ngóng trông. Hôm nay, con gởi thư về, quyết chí xuất gia, ở nhà cha thì mất sớm, mẹ thì già nua, anh thì ốm đau, em thì còn nhỏ, ta biết nương tựa vào ai? Con có tâm bỏ mẹ, mẹ nào có ý xa con! Từ khi con bỏ nhà đến phương xa, thì lòng mẹ ngày đêm đau như cắt, than khóc buồn lo. Khổ thay! Khổ thay!

Nay con đã thề chẳng trở về, mẹ cũng thuận chí theo con. Mẹ chẳng cầu mong con như Vương Tường nằm trên băng tuyết hay Đinh Lan khắc tượng gỗ, mà chỉ mong con như Tôn giả Mục-kiền-liên độ mẹ thoát khỏi trầm luân, chứng thành Phật quả. Nếu chẳng được như thế, thì mãi mãi thầm trách, tha thiết mong con hiểu được”.

Thiền sư Động Sơn-Lương Giới, xuất gia đắc pháp nơi Thiền sư Tào Sơn-Bổn Tịch, về sau khai sáng ra dòng thiền Tào Động - một dòng thiền được truyền bá rộng rãi ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Ngài là gương mẫu, là thân giáo để tứ chúng noi theo tu tập; lời dạy và hạnh đức của ngài được ca tụng và truyền mãi cho đến ngày sau. Thông qua lá thư, chúng ta thấy quan niệm của mẹ ngài: Chẳng phải do ngẫu nhiên mà được kết thành tình thâm mẫu tử, ấy phải do nhân duyên nhiều đời đã cùng nhau vun trồng. Huống nữa ngài sinh ra và lớn lên trong sự mong ước và khẩn cầu của mẹ. Với bà, ngài quý giá hơn vàng ngọc, có khi phải trải qua lằn ranh sống chết mới có được. Đến khi con lớn, ra đi mẹ lại tựa cửa ngóng trông. Vì mẹ biết nếu giữ con bên mình thì con không thể trưởng thành. Nhưng cho con đi, lòng mẹ lại thấp thỏm không yên. Mẹ sợ con bước vào đời gặp điều bất trắc, sẽ không ai ở bên con để nâng đỡ vỗ về, sợ con đau ốm mà không ai hay, sợ con có ấm ức không biết tìm ai mà chia sẻ. Mẹ đã phải tự mình vượt qua những ưu tư ấy. Đối với mẹ, ước nguyện ban đầu, mẹ chỉ mong rằng con được trưởng thành, khôn lớn làm người có ích cho gia đình và xã hội. Đó là mong ước lớn nhất của mẹ ngài Lương Giới và cũng là mong ước chung của những bậc làm cha mẹ.

Trong kinh Tăng chi bộ (chương Năm pháp, phẩm Sumanā, kinh số 39) có đoạn: “Thấy năm điều này, này các Tỷ-kheo, mẹ cha muốn con trai sanh trong gia đình. Thế nào là năm? Ðược giúp đỡ, sẽ giúp đỡ chúng ta; hay sẽ làm công việc cho chúng ta; sẽ duy trì lâu dài truyền thống gia đình; sẽ tiếp tục di sản thừa hưởng; sẽ cúng dường hiến vật cho các hương linh bị mệnh chung”. Đức Phật nêu lên những mong ước của bậc cha mẹ về người con của mình, đó là: Đứa con là người sẽ tiếp nối mạng mạch của dòng tộc, phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu, giúp đỡ công việc gia đình, giữ gìn danh tiếng tổ tiên, quản lý và thừa kế tài sản, làm phước và hồi hướng công đức cho cha mẹ qua đời. Đó là những nguyện ước rất đỗi chân thực và sâu sắc của những bậc cha mẹ. Qua đó kinh văn cũng nói lên bổn phận của người con hiếu hạnh phải làm tròn được những việc ấy, khiến cha mẹ đẹp lòng. Tuy nhiên, Thiền sư Lương Giới lại không chọn đi theo con đường đó, một con đường được xem là quy chuẩn của xã hội. Vì ngài biết rằng có một cách báo hiếu còn cao thượng hơn thế.

“Con vẫn biết đời vô cùng đau khổ
Chữ hiếu vai mang đâu chỉ một đời
Nên lặng lẽ theo dấu chân Từ phụ
Múc nước cam lồ trả ân nặng trùng khơi”.

(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

Thiền sư Lương Giới đã chọn con đường xuất gia, trở thành đệ tử Phật, và mẹ của ngài, dù không muốn rời xa nhưng vẫn chấp nhận cho con được thỏa chí nguyện, để lòng mẹ giằng xé rất nhiều. Quyết định này có khi khiến mẹ phải sống trong cảnh nhớ nhung và trống vắng. Song, nỗi niềm ấy không lớn bằng tình thương con của mẹ. Bà hiểu rằng yêu con không phải là giữ con lại bên mình, mà để con được sống trọn vẹn với ước mơ. Khi con được sống là chính con, mạnh mẽ giữa cuộc đời, đó chính là hạnh phúc lớn nhất của mẹ. Tình thương của mẹ bấy giờ là âm thầm nâng đỡ, dõi bước theo con. Tình mẫu tử ấy thiêng liêng vượt lên những lề lối cũ. Con của mẹ đã thoát tục xuất trần thì mẹ của con cũng phải mạnh mẽ cao thượng. Mẹ không trông chờ con phải thể hiện chữ hiếu thông qua việc “rót nước, bưng cơm”, chỉ mong sao con sớm thành tựu đạo nghiệp, sống trọn được với gia tài của Phật. Khi con thành công trong sự nghiệp tu hành thì cũng là lúc con đã trả hiếu xong cho mẹ. Mẹ sẽ thực hành pháp môn giải thoát, đi theo con đường sáng của Phật, để từ đó không còn khổ đau. Ước mong của mẹ nay được kết thành trái ngọt, ngài Lương Giới đã trở thành vị thiền sư đức hạnh, danh thơm vang khắp, làm mô phạm cho muôn người. Dưới cơ thiền giáo hóa của thiền sư, môn đồ đệ tử nhiều không kể xiết. Đạo hạnh của ngài đã thành cũng là lúc nguyện ước của mẹ đã toại.

“Phụ mẫu tại tiền như Phật tại thế
Con xuất gia cũng hiểu lẽ vuông tròn
Muốn cung dưỡng không gì bằng phước huệ
Không gì bằng ân đức Từ Tôn”.
(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

Chớ bảo người xuất gia là không biết giữ đạo hiếu, chỉ là cách thể hiện sự hiếu kính ấy không giống người thế gian. Thay vào đó thể hiện bằng việc ngày đêm nỗ lực, tinh tấn tu hành, khắc phục những ham muốn và mềm yếu của bản thân, thẳng tiến trên con đường Giới-Định-Tuệ. Cách người xuất gia báo hiếu không chỉ dừng lại trên phương diện hình thức vật chất, mà còn lấy tự thân làm hình mẫu lý tưởng của đời sống giải thoát, cốt yếu làm sao gieo được hạt giống đức tin Tam bảo nơi cha mẹ, đồng thời giúp cho bậc sinh thành có một đời sống tỉnh thức và chánh tín, biết từ bỏ việc ác, làm các việc lành, mở lòng bố thí, tu tập theo Chánh pháp, có được niềm vui chân thật vững bền. Chính điều ấy mới thực là cách báo hiếu sâu sắc và tròn đầy nhất. Hiếu đạo không chỉ là chuyện phụng dưỡng cơm cháo thuốc thang, mà còn mở ra đường sáng cho cha mẹ đi vào nẻo thiện. Đó là điều mà chư vị thiền sư hay những hành giả xuất sĩ đã và đang làm.

Lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng ghi nhận nhiều tấm gương hiếu đạo của chư vị thiền tổ như: Chuyện Thiền sư Tông Diễn một lòng độ mẹ sanh thiên, Thiền sư Liễu Quán nhiều năm chẻ củi kiếm tiền nuôi cha, Thiền sư Nhất Định dựng am tranh phụng dưỡng mẹ già v.v… Những câu chuyện ấy không chỉ làm lay động lòng người mà còn khẳng định rằng, đạo Phật chưa từng rời xa chữ hiếu. Đối với người xuất gia mà nói, nếu sống trọn vẹn với lý tưởng giải thoát đồng nghĩa là đang báo hiếu. Chính khi ấy, đạo hiếu và đạo giác hòa làm một. Thế nên, sự thành tựu đạo nghiệp của con chính là vinh quang của mẹ.

Thích Đạt Ma Vân Quang/Báo Giác Ngộ

15/08/2026

|| Thông Điệp An Lành Mùa Vu Lan Báo Hiếu.

Vu Lan Đã Về…."Điều đáng quý nhất là đối với cha mẹ hiện đời, quý vị biết thương nhớ và đem hết tâm chân thành cung kính...
13/08/2026

Vu Lan Đã Về….

"Điều đáng quý nhất là đối với cha mẹ hiện đời, quý vị biết thương nhớ và đem hết tâm chân thành cung kính báo đáp. Nếu cha mẹ đã quá cố cũng đem lòng thành làm những việc thiện lành hồi hướng cho họ được siêu thoát.

Đó là ý nghĩa thiết thực của mùa Báo hiếu".

|| Sư Cụ Trúc Lâm

|| Tiểu sử HT. Thích Chánh Thành - Tổ Vạn An (1872-1949)Đại lão Hòa thượng thuộc dòng Lâm Tế Chánh tông đời thứ 38 pháp ...
06/08/2026

|| Tiểu sử HT. Thích Chánh Thành - Tổ Vạn An (1872-1949)

Đại lão Hòa thượng thuộc dòng Lâm Tế Chánh tông đời thứ 38 pháp húy Đạt Thới hiệu Chánh Thành. Tục danh Phạm Văn Vịnh, sinh năm Quý Dậu (1872), niên hiệu Tự Đức năm thứ 26, tại làng Tân Nhuận Đông, tỉnh Sa Đéc, (nay là tỉnh Đồng Tháp), trong một gia đình Nho học kiêm lương y đương thời.

Xuất thân trong một gia đình trung lưu phúc hậu, được phụ thân hướng dẫn theo Phật học. Sẵn có thiên tư đĩnh ngộ, lại được sự chăm sóc chu đáo của nghiêm đường, thuở nhỏ đã tỏ ra phi thường và miệt mài đèn sách, ôn cố tri tân, thông minh xuất chúng, được mọi người khen ngợi và quý mến.

Năm Quý Mùi (1883) niên hiệu Tự Đức năm thứ 37, song thân lần lượt qua đời, trong lúc việc học hành tiến triển, bỗng nhiên Ngài lâm vào hoàn cảnh côi cút, tràn ngập đau thương và thấm thía câu:

“Đã sinh trong cõi vô thường,
Thì ai thoát khỏi con đường tử sinh,
Bầu trời lồng lộng cao xanh,
Xoay mưa trở nắng tan tành gió mây,
Mênh mông đất nước trời dài;
Còn đâu bể thẳm luân đầy chiều mai.”

Liễu ngộ lý vô thường, sinh diệt tử sinh. đất Bồ đề hoa tâm khai phát, vườn Bát nhã thêm hương sắc, Ngài liền nghĩ việc xuất gia đầu Phật, đến Tổ đình Hội Phước, Rạch Nha Mân, tỉnh Sa Đéc, đảnh lễ Tổ sư Liễu Ngọc hiệu Châu Hoàn thượng nhân để xin cạo tóc xuất gia.

Với bản chất thông minh, lại thêm quyết chí tu học, ngoài những thời công phu hàng ngày và chấp tác phụng sự Bổn sư, Ngài dành cả thì giờ còn lại cho việc nghiên cứu kinh điễn, tìm hiểu những điều cao siêu thâm thúy của Phật pháp.
Nhờ vậy việc tu học của Ngài rất tiến triển, giới luật càng tinh nghiêm, được các bậc tôn túc thương yêu và đại chúng quý mến. Chẳng bao lâu Ngài đã trở thành một vị Pháp sư tài đức vẹn toàn

Năm 23 tuổi, Ất Mùi (1895) Niên hiệu Thành Thái năm thứ 7, Ngài được Sư tổ Liễu Ngọc truyền trao Chánh pháp Nhãn tạng với bài kệ như sau:

Đạt đắc Bồ đề trí huệ khai
Thới nhiên tâm địa xuất trần ai
Chánh pháp tạng trung chơn thật nghĩa
Thành năng tham thấu tức Như Lai.
(Tư Chỉ tạm dịch)
Đắc quả Bồ đề trí huệ khai
Hoát nhiên tâm địa vượt trần ai
Trong lòng chánh pháp chơn thật nghĩa
Năng sớ vô nghì rõ Như Lai

Năm Bính Thân (1896) Niên hiệu Thành Thái năm thứ 8, Ngài được Hòa thượng Bổn sư bổ xứ về trụ trì chùa Vạn An, Rạch Cái Xếp (nay Xã An Nhơn, huyện Châu Thành, Đồng Tháp). Về sau tăng tín đồ thường gọi Ngài là Hòa thượng Vạn An.

Năm Nhâm Dần (1902) Niên hiệu Thành Thái năm thứ 14, sau khi Đại lão Hòa thượng Bổn sư Liễu Ngọc thị tịch, Ngài đến y chỉ với Sư tổ Minh Thông hiệu Hải Huệ ở Tổ đình Bửu Lâm (nay thuộc Xã Bình Hàng Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) và được ban pháp danh Như Vịnh hiệu Diệu Liên, nối pháp dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 39.

Năm Giáp Dần (1914) Niên hiệu Duy Tân năm thứ 8, hướng ứng phong trào yêu nước chống thực dân Pháp do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để hô hào ở Nam bộ, Ngài bị người Pháp bắt giam 9 tháng, sau vì không có chứng cớ, chúng phải trả tự do cho Ngài.

Năm Quý Dậu (1933) Ngài được cung thỉnh đương vi Đàn đầu Hòa thượng tại Đàn giới Chùa Kim Huê, Sa Đéc.

Năm Giáp Tuất (1934), Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 10, Đại Giới đàn khai mở tại Bổn tự Vạn An do Ngài đương vi Đàn đầu Hòa thượng. Kế đến phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam kỳ phát triển mạnh. Chư tôn đức Hòa thượng Khánh Hòa, Khánh Anh, Huệ Quang, Pháp Hải v.v... thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học ở Trà Vinh, mở Phật học đường để đào tạo tăng tài, Ngài được mời làm Pháp sư tham gia giảng dạy.
Năm Bính Tý (1936) niên hiệu Bảo Đại năm thứ 12, Đại Giới đàn tại chùa Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu do Hòa thượng Huệ Viên tố chức và cung thỉnh Ngài đương vi Chứng minh, Hòa thượng Bửu Chung chùa Phước Long đương vi Pháp sư, Hòa thượng Chánh Quả chùa Kim Huê đương vi Bố tát.

Năm Đinh Sửu (1937) niên hiệu Bảo Đại năm thứ 13, Phật học Đường Lưỡng Xuyên gặp khó khăn về tài chính phải đóng cửa. Ngài quay về bổn tự mở trường gia gáio tại Bổn tự Vạn An, tiếp tục truyền đạt giáo lý cho tăng sinh.

Năm Canh Thìn (1940) niên hiệu Bảo Đại năm thứ 16, Ngài lại mở Phật học Ni trường ở Tây đường bổn tự Vạn An để đào tạo ni chúng. Số tăng, ni sinh xuất thân từ trường gia giáo Vạn An rất nhiêu, trong số đó có những vị danh tiếng như chư vị Hòa thượng Kiểu Lợi, Huệ Hưng, Phước Cần... các vị Ni trưởng Chí Kiên, Như Hoa, Huyền Học, Như Chơn...

Năm Tân Ty. (1941) niên hiệu Bảo đại năm thứ 17, Ngài được cung thỉnh đương vi Đàn đầu Hòa thượng tại Đàn giới chùa Kim Huê, Sa Đéc.
Năm Nhâm Ngọ (1942) niên hiệu Bảo đại năm thứ 18, Đại Giới đàn tổ chức tại Bổn tự Vạn An do Ngài đương vi Đàn đầu Hòa thượng truyền giới. Đàn giới này có chư giới tử đắc giới như các vị Hòa thượng Huệ Hưng, Hòa thượng Phước Cần...

Năm Ất Dậu (1945) cuối triều Vua Bảo Đại, Đàn giới khai mở tại Chùa Thới Long, Cao Lãnh, Ngài được cung thỉnh đương vi Đàn đầu Hòa thượng.

Những năm thực dân Pháp xâm lược Nam kỳ, Gia Định lại là trung tâm dấy lên phong trào Phật giáo cứu quốc. Ngôi chùa giai đoạn này tuy chưa trở thành một nơi hoạt động cách mạng, nơi hội họp, nuôi chứa cán bộ... như những giai đoạn sau này, nhưng cũng là nơi liên lạc giữa các tăng sĩ yêu nước từ Gia Định có quan hệ với các nơi khác vùng đồng bằng sông Cửu Long... Quần chúng phật tử hết lòng tham gia việc nước, hăng hái gia nhập các tổ chức cứu quốc: Thanh niên Tiền phong, Thiếu niên Tiền phong, Phụ lão cứu quốc, Tăng già cứu quốc, Phật giáo cứu quốc... Nhiều chư tăng trong thành phố Sài gòn đã tham gia Mặt trận Việt Minh, nhiều chùa như chùa Long An, Giác Lâm, Giác Viên, Sùng Đức, Long Vân, Giác Hoàng hướng ứng ... Chùa Linh Thứu (Tiền Giang) là trạm liên lạc giữa Xứ ủy và Tỉnh ủy Mỹ Tho. Sư cụ Thái Không, trụ trì chùa Phật học Lưỡng Xuyên (Trà Vinh) đã âm thầm hoạt động và hô hào tăng sinh trường hãy:

“Cởi áo cà sa khoác chiến bào,
Giã từ cổ tự vượt binh đao.
Chuông thiền tạm gác chờ khi khác,
Nợ nước thương dân há đợi nào!
Khói lửa non sông thôi thúc bước,
Từ bi cứu thế sáng anh hào.
Mai sau xã tắc bền muôn thuở,
Kinh kệ ngân vang khắp cõi cao.”

Cũng trong năm này Liên đoàn Phật giáo Cứu quốc Nam bộ được thành lập (do Thích Minh Nguyệt hiệu Tam Không làm Chủ tịch, Thích Huệ Phương hiệu Bạch Vân làm phó chủ tịch và có tờ báo mang tên Tinh Tấn là tiếng nói của cơ quan ngôn luận Liên đoàn Phật giáo Cứu quốc Nam bộ), phát triển các chi hội khắp các địa phương, trong đó có huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), mặc dầu tuổi cao sức yếu (lúc đó Ngài đã 73 tuổi, Ngài vẫn hăng hái lãnh nhiệm vụ cố vấn, động viên tinh thân yêu nước cho hàng ngũ Tăng tín đồ ở huyện nhà).
Năm Đinh Hợi (1947), chiến tranh lan khắp nơi.
Quân viễn chinh Pháp mở các cuộc càn quét vùng nông thôn. Khu vực chùa Vạn An mất an ninh, Ngài phải cùng các đệ tử lánh cư về Tổ đình Hội Phước, Nha Mân.

Nhân duyên Ta bà quả mãn, hạnh nguyện lợi tha hóa duyên ký tất:

Chân không biển giác ngập tràn,
Có không, không, có Niết bàn thảnh thơi,
Dọc ngang góc biển chân trời;
Vô sinh trổi khúc an vui chân thường.

Ngài thị hiện chút bệnh duyên và an nhiên thu thần Tịch diệt vào lúc 3 giờ khuya ngày 25 tháng 6 Năm Kỷ Sửu (20-07-1949).

Trụ thế 77 Xuân.
An cư 54 Hạ lạp.
Trụ trì 47 Đông.

Đương thời những pháp lữ đông hành và thường chia sẻ Phật sự như các vị tiền bối : Hòa thượng
Bửu Phước, chùa Phước Ân, Rạch Cai Bường, Xã Vĩnh Thạnh, Huyện Lấp Vò, nay tỉnh Đồng Tháp, Hòa thượng Bửu Chung, chùa Phước Long, Rạch Ông Yên, xã Tân Nhuận Đông, huyện châu, nay tỉnh Đồng Tháp, Hòa thượng Thới Ba, chùa Phước Long, Cái Tàu Hạ, Huyện Châu Thành, nay tỉnh Đông Tháp, Hòa thượng Chánh Tín, chùa An Phước, Rạch Răn, Sa Đéc ... Và mỗi khi có công việc Phật sự cần bàn thì hẹn cùng nhau đi ghe thuyền về chùa Phước Ân ít nhất cũng vài hôm để soạn thảo kế hoạch giáo dục đào tạo Tăng tài. Tổ đình Vạn An trở thành một trong những nơi giáo dục đào tạo Tăng tài nổi tiếng của Phật giáo Đồng bằng sông Cửu long vào đầu thế kỷ 20, góp phần khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam và được truyền tụng câu :"Sa Đéc là đất Phật"

Trong cuộc đời hoằng pháp lợi sanh của Ngài, ngoài việc tham gia giảng dạy ở các Phật học đường, Ngài còn có công lớn trong việc diễn Nôm một số kinh lưu hành ở miền Nam thời bấy giờ. Các tác phẩm của Ngài hiện còn lưu giữ tại Tố đình Vạn An (Sa Đéc) gồm có:

Kinh:
- Di Đà Sớ Sao.
- Pháp Hoa
- Pháp Bảo Đàn.
- Phật Tổ Tam Kinh
- Quy Nguyên Trực Chỉ.
- Long Thơ Tịnh Độ.
Luật:
- Đại học Hoằng giới
- Tư Phần Như Thích
- Bồ Tát Giới Kinh
- Tỳ Kheo Giới Kinh.
- Sa Di Sớ.
- Tỳ Ni Hương Nhũ.
Sám:
- Quy Mạng
- Khế Thủ v.v...

•|Thích Vân Phong kính biên tập

01/08/2026

II ÂN THẦY KHƠI LẠI THIỀN TÔNG: NHẮC VỀ HÀNH TRẠNG VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA SƯ CỤ TRÚC LÂM.

“Chẳng phải bên này, chẳng bên kia,Vô tâm trà đạo, liễu thắm hoa.Triệu Châu bảo uống, không chỗ nhận,Thơm ngát xưa nay m...
20/07/2026

“Chẳng phải bên này, chẳng bên kia,
Vô tâm trà đạo, liễu thắm hoa.
Triệu Châu bảo uống, không chỗ nhận,
Thơm ngát xưa nay một vị trà.”

•| Trúc Lâm Pháp Lữ:
Hoà Thượng Thường Chiếu và Hoà Thượng Giác Thiên.

|| TRÚC LÂM PHÁP LỮ:THƯ ĐIẾU CỦA HÒA THƯỢNG CHÁNH GIÁC GỬI ĐẾN HÒA THƯỢNG GIÁC THIÊN.Kính bạch Thầy, Hôm nay ngày đưa ti...
13/07/2026

|| TRÚC LÂM PHÁP LỮ:
THƯ ĐIẾU CỦA HÒA THƯỢNG CHÁNH GIÁC GỬI ĐẾN HÒA THƯỢNG GIÁC THIÊN.

Kính bạch Thầy, Hôm nay ngày đưa tiễn Thầy.
Nhưng Thầy chưa từng đến, thì lại tiễn đi đâu.
Chẳng biết phải nói gì. Lòng thành kính dâng lên Thầy một bài kệ:

"Xin hãy trồng cho một cây này,
Một cây không bóng vượt trời mây
Mọc rễ vô sanh, sâu không đáy,
Kết thành bất tử, quả không hai."

Xin kính lễ Thầy ba lạy.

Address

Ấp Thạnh Phước 2 Xã Trung Hưng
Can Tho

Opening Hours

Monday 07:00 - 20:00
Tuesday 07:00 - 20:00
Wednesday 07:00 - 20:00
Thursday 07:00 - 20:00
Friday 07:00 - 20:00
Saturday 07:00 - 20:00
Sunday 07:00 - 20:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Tây Lâm Phước posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share