01/07/2026
|| Ý NGHĨA SÁM HỐI
TUỆ SỸ THƯỢNG SƯ (1945-2023)
Thọ giới, rồi phạm giới, là điều khó tránh đối với người trì giới phàm phu. Điều quan trọng là biết mình vi phạm và biết sám hối như pháp, giới thể phục hồi thanh tịnh.
Sám hối là một trong mười hành nguyện Phổ Hiền, và một trong bảy chi cúng dường. Cho nên, đối với Bồ-tát trụ giới, sám hối là điều khoản hành trì thường nhật, bất kể có phạm hay không có phạm.
Thật ra, không có thể nói một cách tự hào rằng trong đời này ta chưa bao giờ làm điều gì sai trái. Có thể không sai đối với luân thường đạo lý, trái với những quy ước, tập tục mà xã hội loài người đặt ra. Song, trong quy luật cạnh tranh sinh tồn, ta đã tàn hại không biết bao nhiêu sinh vật nhỏ, do bởi tham, bởi sân, và tà kiến. Không chỉ một đời, mà trong nhiều đời như thế. Đấy là những món nợ nhất định phải trả.
Cái mà ta phải trả trong hiện tại, không đơn thuần chỉ là những điều khổ nhọc cho thân và tâm. Những chướng ngại mà hành giả cảm thấy không thể vượt qua được trong khi tu tập, dù đã nỗ lực hết sức; cho đến lúc, cảm nhận được chướng ngại do đâu. Đó là dấu ấn* của những gì ta đã làm trong quá khứ, trong nhiều đời; dấu ấn ấy đã được mã hoá* ngay trong dị thục* khi ta mới thọ sanh. Đó là kết quả của nghiệp quá khứ; những hành vi sai lầm quá khứ nay thành những chướng ngại. như người học đàn, học sai kỹ thuật ngay từ đầu, lâu ngày thành tập quán, khi hiểu ra thì đã muộn, không thể trình tấu một bản nhạc tương đối hoàn hảo. Quá trình sửa sai không dễ dàng.
Đối với một hành giả, nhận ra được chướng ngại do kết quả của những sai lầm trong quá khứ nhiều đời, điều này rất quan trọng. Cũng không dễ gì nhận ra được như vậy, với tâm tư còn tràn đầy hữu lậu*. Chỉ có thể nhận biết một cách chung chung rằng trong quá khứ nhất định ta đã gây không biết bao nhiêu sai lầm, vậy nay cần phải nỗ lực sửa đổi. Đó là ý niệm cơ bản của pháp sám hối.
Từ "sám hối", và khái niệm sám hối, nay đã trở thành phổ thông cho đến mức ý nghĩa chính của nó trở nên mơ hồ. Một người chợt nhận ra ta đã tàn hại chúng sinh, biết đó là tội ác, vậy nay chí thành sám hối để cho tội ác tiêu trừ, và trong tương lai sẽ tránh được ác báo. Thế nhưng, ai, hay đấng Tối cao nào có thẩm quyền tối thượng để tha tội, xóa cho ta tội ác ta đã gây? Hãy lấy thí dụ từ trường hợp vua A-xà-thế.
A-xà-thế vì tham vọng quyền lực nên đã không ngại giết cha để soán ngôi. Một thời gian sau, theo lời khuyên của cận thần Kỳ-bà, ông đến gặp Phật. Mục đích cũng chỉ để hỏi đạo lý, thỏa mãn tính hiếu kỳ triết lý của một ông vua trẻ đầy tham vọng.
Sau khi nghe Phật thuyết pháp, vua tỉnh ngộ, phát nguyện quy y, và cũng nhân bởi đó mà khẩn thiết sám hối tội ác quá khứ đã làm.
Vua bạch Phật: "Bạch Đại đức, con đã phạm tội, vì ngu si, vì ám độn, vì bất thiện. Phụ thân con, vị quân vương công chánh, có đạo nghĩa, con đã hại mạng phụ thân vì tham vọng quyền lưc. Bạch Đại đức, Thế Tôn chấp nhận sự thú nhận tội ác này của con, để phòng hộ tương lai."
Đức Phật đáp: "Đại vương, quả thật, ngài đã phạm tội ác, vì ngu si, vì ám độn, vì bất thiện. Ngài đã hại mạng phụ thân, vị quân vương công chánh, có đạo nghĩa. Nay vì ngài đã nhận thấy đó là tội ác đúng như pháp mà cải hối. Chúng tôi chấp nhận sự thú tội này vì Đại vương. Thật sự, trong pháp luật này, đây là sự tăng ích, tức là những ai đã thấy tội ác đã làm mà như pháp cải hối, phòng hộ tương lai không tái phạm."
A-xà-thế không cầu xin Phật tha tội, nhờ uy lực của Phật mà diệt hết tội lỗi. Trước hết, ông tự xác nhận điều ông đã làm là tội ác; đó là hành vi ngu si, ngu ám. Tiếp theo, vua thỉnh cầu Phật chấp nhận sự thú nhận này, và hứa hẹn trong tương lai sẽ phòng hộ không để tái phạm.
Phật không nói là Ngài tha tội, xóa tội cho vua. Ngài chấp nhận sự thú nhận. Người chết không do bởi hành vi thú nhận này mà sống trở lại. Nhưng người sám hối, do hành vi thú nhận này mà có thể được dựng đứng trở lại trong con đường thiện. Một khi đã nhận ra điều xấu ác mình đã làm, và thành khẩn nói điều đó với người mà mình tôn kính, sự phát ngôn ấy trở thành một nguồn năng lực ngăn chận điều xấu trong tương lai, nâng đỡ hành giả vững bước trên con đường hành thiện.
—————
Chú thích của người trích dẫn:
(*) dấu ấn: những gì để lại trong tâm sau khi một hành động được phát khởi bởi ý chí (thẩm quyết tư).
(*) mã hoá: chỉ cho dạng tồn tại của loại dấu ấn này ở trong tâm.
(*) dị thục [quả]: sự tái sinh của chúng sinh được xem như là quả đã chín (thục) sau quá trình biến đổi (dị) từ nhân-duyên trong quá khứ.
(*) hữu lậu: phiền não; hay những gì bị phiền não đeo bám và tăng trưởng.
Nguồn: https://www.facebook.com/cauxa.luan