28/09/2023
Sự tích Đức Bà Xuân Nương đệ bát vị (Phú Thọ)
Nước Việt ta vào thời kỳ nội thuộc Tây Hán, tương truyền ở châu Đại Man có Chúa trưởng danh hiệu là Hùng Bát. Ngài lấy bà Đinh Thị Hiên Hoa Công chúa là em gái của Chúa trưởng của châu Tiến. Đôi bên sánh duyên hòa hợp loan phượng như sắt như cầm. Ngài mới ban phong cho Hiên Hoa làm ngôi Chính Cung Phu Nhân. Lấy nhau được 10 năm thì sinh hạ được 7 người con trai. Vào một ngày nọ Chính Cung cùng 3,4 người tỳ nữ đi đến Đông Cung du ngoạn, ngắm trăng thưởng trà, nghe tiếng tơ trúc thật là nhã thú. Đến ban đêm đã gần canh ba, Chính Cung tựa vào hiên lan mơ màng ngủ thì bỗng mơ thấy có một người con gái tuổi độ 13, quần áo đẹp đẽ, trang sức huy hoàng, đầu đội trâm vàng vô cùng nghiêm chỉnh. Chính Cung nhìn thấy mà lòng vô cùng yêu thích, ngài mới dang tay ôm đứa trẻ vào lòng rồi hỏi: “Nàng là ai? Từ đâu đến nơi này?”. Đứa trẻ thưa rằng: “Thiếp vốn là Đông Phương Thanh Đế. Trên Thiên Đình thấy Chính Cung quả thực là bậc phúc hậu nhân từ nên mới cho thiếp giáng xuống nơi đây để làm con của Chính Cung”. Vừa mới nghe dứt lời ấy thì Chính Cung bừng tỉnh, lệnh truyền thị nữ đưa về tẩm cung. Từ khi ấy trong lòng ngài cứ nhớ mãi về đứa trẻ trong mộng kia. Quả nhiên Chính Cung khi về liền mang thai. Tới giờ Thìn, ngày mùng 2 tháng Giêng năm Giáp Thân sinh hạ được một người con gái mặt tươi như ngọc, cốt cách đẹp như hoa mai, môi hồng, má thắm, mắt phượng mày ngài, lại có tràng hoa 3 vòng cuốn cổ. Sinh hạ được 100 ngày thì Chính Cung ngài mất (nhằm ngày mùng 5 tháng 5). Hùng Chúa phải cho mời bà vú đến nuôi dưỡng. Nhưng Nàng tính nết khác thường không chịu bú người lạ. Các anh trai của Nàng phải đi tìm lấy nước mía để thay sữa nuôi nàng. Được tròn 1 tuổi Nàng chẳng chịu ăn thức gì mà chỉ thích dùng mật ong, củ mài, nước mía. Lên 5 tuổi lại càng thêm yêu thích các vị mật hoa chẳng bao giờ ăn thịt cá hay vật tạp. Hùng Chúa mới đặt tên cho Nàng là Xuân Nương Công chúa. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng Nàng đã giỏi đàn ca, đánh cờ. Năm Nàng lên 13 tuổi, vào ngày 12 tháng 10 thì Hùng Chúa là cha Nàng mất. Anh trai trưởng lên kế vị còn các anh em còn lại chia nhau làm Thổ Quan cai quản các châu. Năm 18 tuổi Nàng có diện mạo tươi đẹp sáng như hồ băng, dung nhan tuyệt trần, tuy là đấng nữ trung nhưng lại tinh thông võ nghệ như bậc nam nhi, giỏi tài cung kiếm, đủ tứ đức công – dung – ngôn – hạnh. Thật là xứng danh Hùng nữ. Các Thổ hào, Tù trưởng đều quy phục, không ai là không yêu mến. Nàng nuôi dưỡng gia thần là 10 người thị nữ, cũng đều là bậc trí dũng, tài giỏi chẳng kém trai là bao.
Lại nói rằng thưở ấy Tô Định được nhà Hán điều tới nước ta làm Thái Thú. Hắn bản tính bạo ngược, hay ức hiếp dân lành, gây nên đại họa nước ta. Chúa trưởng Đại Man bấy giờ tên Hùng Thắng là huynh trưởng của Nàng, cùng với ông Thi Sách người huyện Chu Diên (Ông Thi Sách là chồng của bà Trưng Trắc) thấy giặc Tô Định gây họa mới cùng nhau đem quân chống lại. Giặc Tô Định thế mạnh nên đánh thắng hai người. Hai người phải bỏ chạy nhưng quân Tô vẫn đuổi theo bắt giết bằng được. Biết tin anh trưởng Hùng Thắng bị giết, Nàng vô cùng uất hận, mới chiêu dụ các tướng tài, tích binh mã để chờ ngày báo thù. Một thời gian sau Nàng bày mưu tính kế, cạo tóc giả làm ni cô thường đi khắp các phủ huyện tìm nơi cảnh chùa cửa thiền để đóng quân chiêu dụ lính tốt, nữ binh. Một ngày nọ Nàng cùng với 4,5 người thị nữ đến đất Hương Nộn, huyện Tam Nông. Thấy trên gò Xoan có ngôi chùa cảnh đẹp danh lam, lại thuộc vùng Thủy Quốc của Lạc Long Quân. Nàng cùng với bọn người lưu lại ở chùa vài ngày. Nhân dân thấy có ni cô đến chùa, lại thấy Nàng dung mạo trang nghiêm, tinh thông kinh kệ, đạo pháp. Các lão ông, thái bà cùng dân địa phương lấy lòng ái mộ mới ngỏ lời cầu thỉnh Nàng ở lại cảnh chùa làm Thủ tự. Nàng nhận lời đồng ý rồi làm lễ tế nhập tự. Thường ngày Nàng vẫn đi dạo cảnh trong huyện để ngầm tìm các anh hùng hào kiệt, tìm các nữ binh về giúp sức báo thù giặc Tô nỗi hận giết anh. Bên cạnh đó Nàng luôn cứu giúp những người nghèo, phát tâm lương thiện làm nhiều việc phúc, nuôi giúp nhân dân. Kề cận được 1 năm thì trong khắp huyện ai nấy cũng đều ái kính quy phục Nàng. Công lao của Nàng ví như núi như biển, tất cả đều gọi chung một tiếng là Mẹ. Nàng chiêu dụ được các nam tài, nữ giỏi hơn 100 người (Xã Hương Nộn: 31 người, Xã Hương Nha: 33 người, Xã Nam Cường: 21 người, Xã Tự Cường: 18 người) sáng chiều đều ở chùa làm đạo tràng tăng thống tụng kinh niệm Phật, đêm đến lại cùng nhau luyện binh học võ trong vòng nửa năm.
Con gái của Lạc tướng vua Hùng là bà Trưng Trắc có thù giặc Tô Định giết chồng là ông Thi Sách, ngài mới nuôi dưỡng quân binh, chiêu tập các nữ tướng, nữ binh. Ngài nghe nói ở châu Đại Man có nàng Xuân Nương - em gái của Chúa trưởng Hùng Thắng là bậc nữ tướng giỏi lại có ý chí báo thù. Ngài mới cho em gái là bà Trưng Nhị mang thư đến cho Xuân Nương khuyên luyện nàng cùng đồng tâm giúp nước, đồng chí phục thù. Bà Trưng Nhị đến chùa Hương Nộn đưa thư cho nàng Xuân Nương, Xuân Nương vui mừng nhận lấy nguyện sẽ tập hợp binh sĩ chờ ngày đem quân cùng tụ hội. Nàng chiêu tập gia thần hơn trăm người cùng các Thổ quan, Mường quan chia làm 10 bộ mỗi bộ 36 người, lại cử mỗi bộ một người đứng đầu, hợp binh được 380 người.
Bộ thứ nhất gồm các Thiền tướng xưng là Mô Trai Thần Quan, quản binh lính dâng tiến đồ chay.
Bộ thứ 2 tên Xích My Thần Quan, quản đội bắn tên.
Bộ thứ 3 tên Đài Quan Sát Thần Quan, quản lý trâu bò.
Bộ thứ 4 tên Bài Chước Thần Quan, quản lý rượu.
Bộ thứ 5 tên Nhân Tốt Thần Quan dâng tiến thực phẩm.
Bộ thứ 6 tên Đông Cung Thần Quan giữ cánh quân bên trái.
Bộ thứ 7 tên Tây Cung Thần Quan giữ cánh quân bên phải.
Bộ thứ 8 tên Nam Cung Thần Quan giữ cánh quân phía trước.
Bộ thứ 9 tên Bắc Cung Thần Quan giữ cánh quân phía sau.
Bộ thứ 10 tên Trung Cung Thần Quan quản lý đội quân ở giữa đồng thời kiêm tri các bộ quân.
Xuân Nương cử tướng cho quân luyện tập binh mã. Đến ngày mùng 9 tháng 2 ra lệnh ngả trâu bò để khao quân ở xứ Đông Đổ, Lão châu (tục gọi là bến đông bãi già). Tục lệ ăn uống của Man Quan nước ta quả thực có nhiều điều kì lạ. Thổi chín cơm rồi bằng đũa. Ăn thịt trâu bò thì dùng nồi da nấu thịt, dóc thịt ra khỏi phần da rồi cắt thành miếng, căng da về hai phía sao cho phần da lông ở dưới rồi nhóm lửa nấu. Rượu thì dùng rượu ngọt (cam tửu), chén uống lại dùng đốt tre. Quân sĩ, quan mường, tướng lĩnh cứ vậy ăn uống rồi cùng nhau tụ hội thi tài bách nghệ. Xuân Nương thấy rằng đất xứ này địa linh nhân kiệt mới cho quân lưu lại, nhân dân trong xã đều đến chúc mừng bái lạy. Xuân Nương cho thi tài xong được nhân dân phù giá về lại Hương Nha. Nàng truyền lệnh cho nhân dân, tướng sĩ thiết lập hai điểm doanh trại. Thượng cung là nơi cho Nàng cùng quân lính ở. Hạ cung làm nơi ở cho Thập bộ Thần quan châu Mường. Đồng thời lập 4 đồn nhỏ xung quanh, lại cho đào mạch nước dẫn đến giếng ở hậu cung (sau này dân gọi là giếng Thầy). Nàng ở lại doanh trại vài tháng, các bậc anh tài nghe tin tìm đến tụ hội được hơn ngàn người. Ngày mùng 3 tháng 5 tất cả cùng nhau về Hát Môn bái yết Trưng Vương. Trưng Vương thấy vậy hết sức vui mừng ban cho Nàng làm Chưởng Lĩnh Tả Quân Nữ Tốt Thị Nội quản đạo quân phía Đông, tức danh hiệu là A Nương Công Chúa Đệ Bát Vị Tham Mưu Tán Sự. Lại truyền hịch kêu gọi cho các phủ huyện, châu, trang, động các anh hùng hào kiệt, phụ đạo quan lang, nữ tài. (Xã Hương Canh, huyện Từ Liêm 1 người. Xã Thản Sơn và Yên Xá huyện Lập Thạch 2 người. Yên Lạc, Thanh Vân 1 người. Bạch Hạc, Mộ Chu 2 người. Đàn Luận 1 người. Nhật Chiêu 1 người. Xã Đông Sàng huyện Phúc Lộc 1 người. Liên Chiểu 1 người. Phù Sa 1 người. Xã Văn Trưng huyện Bạch Hạc 1 người. Đại Tự 1 người. Cẩm Đái 1 người. Phủ An 1 người. Xã Bình Lỗ huyện Yên Lạc 1 người. Mạnh Lân 1 người. Thọ Lão 1 người. An Lão 1 người. Xã Kim Bí huyện Tiên Nông 1 người. Tân Hóa 1 người. Xã Canh Vân Huyện Yên Lãng 3 người. Xã Thất Khê huyện Yên Sơn 1 người. Hữu Quang 1 người. Xã Tuy Lộc huyện Thạch Thất 2 người. Tốt Động huyện Mỹ Lương 2 người. Xã Vân Nhưng, huyện Lập Thạch 3 người. Ân Hộ 3 người. Vụ Cầu 1 người). Tất cả được hơn 6 vạn binh sĩ, riêng nữ tướng nữ binh có đến hơn 2000 người cùng nhau hội tụ tại Hát Môn lập đàn trai giới tế cáo trời đất, cầu đảo bách thần. Tế cáo xong binh sĩ cùng nhau thẳng tiến thành của Tô Định đại chiến. Cờ bay rợp trời, chiêng trống vang động, giặc Tô đại bại, tướng Tô Định phải nhân lúc trời tối bỏ trốn về Bắc quốc. Trưng Vương thu phục được 65 thành trì, nước Nam ta hoàn toàn thống nhất. Bà Trưng Nhị được phong làm Bình Khôi Công Chúa, các tướng lĩnh cũng lần lượt được chiếu công ban thưởng. Trưng Vương phong
thưởng riêng cho Xuân Nương làm “Nội Các Đông Phương Tả Cung Thị Nội”, ban thưởng 100 nén vàng bạc, 500 tấm vải gấm, ban cho các xã Hương Nha, Hương Nộn, Nam Cường, Tự Cường, Tiền Áo làm con dân. Lúc còn sống thì làm thực ấp hưởng lợi tức, lúc mất thì các xã phải thờ phụng hương hỏa.
Cảnh đất nước đã yên bình, Nàng mới xin Trưng Vương được cùng với các gia thần về lại châu ấp. Vua đồng ý, Nàng bái tạ rồi ra về. Ngày mùng 5 tháng Giêng về đến xã Nam Cường, ngày mùng 6 về đến xã Tự Cường, mùng 7 về đến xã Tiền Áo, mùng 9 mới về đến xã Hương Nha. Điquamỗixãởlại1ngày,nhândânbảnxãkéođếnchúc mừng nàng lại cho làm yến tiệc, ban thưởng bổng lộc khiến cho ai nấy cũng hết sức vui mừng. Ngày mùng 10 Nàng tắm rửa ở miệng giếng nơi hậu cung rồi cùng quân sĩ đến xứ Đông Đổ, Lão Châu truyền lệnh cho chư quân tổ chức thi tài bách nghệ. Sau lễ hội thi tài nàng lui về cung sở nghỉ ngơi, nhân dân xứ ấy đều kéo đến hành lễ chúc mừng. Nàng khen ngợi nơi đất này địa linh nhân kiệt, phong tục tốt đẹp, nhân dân thiện lành nên ban thưởng cho 50 lạng vàng để tu sửa cung điện. Ngày 15 tháng Giêng Nàng quay trở lại xã Hương Nộn, lệnh cho người sửa soạn lễ chay thanh tịnh để vào lễ tạ Tam bảo, lại ban thưởng cho tăng ni tứ chúng. Ở lại xã Hương Nộn vài ngày Nàng trở về châu Đại Man để thắp hương cho cha mẹ, thăm các anh trai, tu sửa từ đường. Lại ban thưởng cho các Lão động trưởng. Xong xuôi tất cả công việc Nàng mới quay về triều đình để phù giá.
Lúc bấy giờ có em trai của ông Thi Sách làm phó tướng của Trưng Vương, chàng là người tài giỏi anh dũng hơn người. Trưng Vương phong làm “Triết Lĩnh Thủy Đạo Tướng Quân”. Chàng trước đã có vợ rồi nhưng không may lại mất sớm, gặp thấy Xuân Nương thì hết lòng yêu quý, thầm mến. Chàng mới nói riêng với Trưng Vương xin ngài được tác hợp cho hai người. Một ngày nọ sau buổi triều, Trưng Vương cho gọi Xuân Nương ở lại cùng dùng tiệc chung. Trưng Vương mới mở lời rằng: “Âm thì tất phải có dương đó là đạo lý của trời, huống chi đạo làm người lại không như vậy. Em trai của tiên quân Trẫm là người tài năng xuất chúng so với công chúa thì thật xứng đôi. Trẫm sẽ tác hợp cho hai người”. Xuân Nương không nói gì chỉ cười, Trưng Vương thầm biết rằng Nàng đã bằng lòng. Vua chọn ngày lành tháng tốt tổ chức cho hai người kết duyên, cũng lấy đó làm vui mừng vì đã nguôi hận được cho phu quân là Thi Sách.
Đất nước yên bình được 2 năm thì vua Hán lại sai Phục Ba Tướng Quân Mã Viện và Phù Lạc Lưu Long làm phó tướng tiến binh đánh Trưng Vương. Vua lệnh cho Triết Lĩnh Tướng Quân và Xuân Nương công chúa xuất binh chống cự. Vợ chồng vâng lệnh dẫn quân đánh giặc Hán. Vào trận đánh, Tướng quân lao lên trận tiền. Giặc bao vây tướng quân khắp các hướng, đánh 10 hiệp rồi vẫn không thể giải vây. Giặc đánh dồn dập, chẳng may tướng quân bị lạc đao vào ngựa, giặc Hán thừa cơ đánh lén chém một nhát vào bụng giết chết tướng quân. Công chúa từ sau thấy phu quân bị giặc Hán giết liền vô cùng phẫn uất.
Nàng đội mũ giáp, leo lên ngựa, mỗi tay cầm một thanh kiếm cùng với Thập Bộ Thần Quan lao vào đánh giặc. Đánh nhau cả nửa ngày không phân thắng bại, phía quân ta khí thế vẫn ngút trời, bọn giặc Hán đuối thế đành phải bỏ chạy. Bỗng nhiên từ đâu có cơn gió thổi mạnh làm bay mất yếm của Xuân Nương, lộ ra hai bầu ngực. Lũ giặc nhìn thấy mới biết chỉ huy quân ta là nữ tướng. Chúng mới bảo nhau khỏa thân mà hô lên rằng: “Ôm lấy! Ôm lấy! Xúm lại đánh!”. Nàng nghe thấy giặc hô hoán thế trong lòng cảm thấy xấu hổ rồi vô tình làm rơi một thanh kiếm xuống đất. Nàng liền nhảy xuống ngựa nhặt kiếm. Bọn Hán tặc lao đến bủa vây, Nàng chém được vô số tên. Đang định leo lại lên ngựa thì bị giặc đâm một nhát vào mạn sườn bên trái. Lúc đó Nàng đang mang thai được khoảng 4,5 tháng. Lực cạn thế cùng, Nàng phải bỏ chạy về đất Nam Cường, huyện Tam Nông. Giặc đuổi theo ngay sát sau. Nàng bị thương nặng vô cùng đau đớn, gia nhân đành dìu Nàng vào trong cung sở nằm nghỉ. Nhân dân hay tin nàng bị thương nặng mới kéo đến hành lễ, được một lúc thì giặc Hán đã vây xung quanh cung sở. Gia thần lại phải đưa Nàng tiếp tục chạy trốn, máu Nàng chảy vương khắp đất (sau này cứ nơi nào đi qua máu chảy dân đều lập miếu để thờ phụng). Nàng trong lòng phẫn nộ nén đau cưỡi ngựa thẳng một mạch tiến về phía Tiền Áo, Hương Nha rồi cho binh sĩ lưu lại. Đến đêm Nàng truyền dân xã bày biện lễ chay để Nàng tế cáo trời đất cùng Tam Bảo. Lễ xong Nàng ra giếng nơi hậu cung tắm rửa thì bỗng đâu trời đất tối tăm mù mịt, mây năm sắc cuộn vần vũ. Một lúc sau gió lặng mây tan thì binh sĩ thấy Xuân Nương đã mất, lúc đó nhằm ngày 15 tháng 2. Ngày 20 tháng hai, Thập Bộ Thần Quan đóng quân ở Hương Nha Hạ nghe được tin chủ tử mất thì tất cả cũng đều tự vẫn theo. Dân Hương Nha làm lễ chôn cất Thập Bộ ở tẩm điện rồi cùng phối thờ với Xuân Nương công chúa ở miếu đình. Trưng Vương hay tin cả hai vợ chồng vì nước hy sinh nên đã tự thân đến làm lễ tế cáo. Ngài liền ban mỹ tự cho nhân phụng thờ.
Đến thời Lê có giặc Minh sang xâm chiếm nước ta, quan Thái úy Lê Triện (Lý Triện) vâng lệnh vua đánh giặc, kéo quân qua xã Hương Nha thấy có cảnh đền miếu huy hoàng. Ngài cho lưu quân rồi vào miếu thắp hương cầu đảo, bỗng đâu một dải lụa trắng như mây từ đâu bay thẳng vào thượng cung, quả thực là linh dị. Đêm ấy ngài mơ thấy một nữ tướng cưỡi ngựa đến nói: “Thiếp xin âm phù giúp nước”. Tỉnh dậy ngài liền lễ bái tạ rồi tiến quân đánh giặc thì quả thật nhanh chóng thắng trận. Lúc hồi triều báo công, ngài bèn tâu lên Vua Lê ban tặng sắc phong cho thần và muôn thủa huyết thực.
Các ngày lễ Đức Bà trong năm:
- Ngày mùng 2 tháng Giêng: sinh nhật Đức Bà lễ cỗ chay (mía, củ mài, mật ong, chè kho, chè lam, hoa quả, bánh chưng, bánh dày), thịt trâu, rượu nồng, cơm xéo.
- Ngày mùng 10 tháng Giêng: khánh hạ thi tài bách nghệ lễ dùng thịt lợn, xôi, rượu nồng, bánh chưng, bánh mật, bánh rán, hoa quả.
- Ngày mùng 9 tháng 2: lễ khao binh của Đức Bà.
- Ngày 15 tháng 2: ngày giỗ của Đức Bà.
- Ngày 20 tháng 2: ngày giỗ Thập bộ Mô trai Thần
quan.