Đông Cuông Vọng Phủ

Đông Cuông Vọng Phủ Đền thờ Thánh Mẫu Thượng Ngàn vọng về chính từ tại Đông Cuông, Yên Bái

🌸 KHOÁ LỄ GIẢI HẠN ĐẦU NĂM BÍNH NGỌ 2026 🌸Theo thông lệ hằng năm, xin trân trọng thông báo tới quý vị về việc đăng ký th...
21/02/2026

🌸 KHOÁ LỄ GIẢI HẠN ĐẦU NĂM BÍNH NGỌ 2026 🌸

Theo thông lệ hằng năm, xin trân trọng thông báo tới quý vị về việc đăng ký tham dự Lễ giải hạn đầu năm, nhằm:
✨ Giải trừ sao xấu
✨ Nghênh đón cát tinh
✨ Cúng giải Tam Tai – Thái Tuế – Tứ hành xung
✨ Cầu an, hóa giải hạn tứ cửu cho bản mệnh

🙏 Thời gian: Sáng ngày 13 tháng Giêng âm lịch – năm Bính Ngọ
📌 Trong năm Bính Ngọ 2026:
• Tuổi phạm Tam Tai: Hợi – Mão – Mùi
• Tuổi phạm Thái Tuế: Tý – Ngọ – Mão – Dậu – Sửu
• Các sao xấu cần lưu ý: Kế Đô – La Hầu – Thái Bạch
• Các tuổi hạn: 49 – 53

Kính mong quý vị hữu duyên đăng ký sớm để Ban tổ chức sắp xếp chu toàn.
Nguyện cầu một năm mới bình an – cát tường – vạn sự hanh thông 🙏

Sự tích thần Độc Lôi SơnVị thần chủ được thờ phụng ở đền Độc Lôi có tên hiệu là Độc Lôi Sơn Phạm Lãnh Binh Phiêu Kỵ Thượ...
28/09/2023

Sự tích thần Độc Lôi Sơn
Vị thần chủ được thờ phụng ở đền Độc Lôi có tên hiệu là Độc Lôi Sơn Phạm Lãnh Binh Phiêu Kỵ Thượng Tướng Quân Úy Uy Liệt Hầu. Trước đây đền được xây dựng trên núi Mượu cạnh bờ sông Nộn thuộc vùng Kẻ Sáo, làng Hữu Biệt, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Mỹ tự đầy đủ nhất của đức thánh hiện nay ghi nhận được là: “Độc Lôi Sơn Phạm Lãnh Binh Phiêu Kị Úy Thượng Tướng Quân Uy Liệt Hầu An Dũng, Duệ Trí, Linh Thánh, Phu Cảm, Hiển Ứng, Minh Đạt, Anh Nghị, Trinh Liệt, Trung Túc, Huệ Hòa, Hùng Kiện, Đoan Duy, Khuông Quốc, Hộ Dân, Hậu Đức, Chí Nhân, Cương Nghị, Chính Dũng, Hùng Lược, Quả Đoạn, Vĩ Tích, Phong Công, Dương Vũ, Phù Tộ, Tế Thế, An Dân, Bảo Cảnh, Thuật Quốc, Triệu Tường, Dụ Hậu, Tá Trị, Phụ Quốc, Trợ Uy, Phù Vận, Hùng Lược, Quan Cổ, Trợ Thắng, Anh Linh, Thông Đạt, Thùy Thống, Di Mưu, Diễn Khánh, Truyền Viễn, Thi Hậu, Hiển Đức, Phu Hưu, Anh Vũ, Trung Chính, Quả Nghị, Linh Diệu, Thông Huyền, Hoằng Tế, Hộ Quốc, Dương Uy, Tá Thắng, Hữu Thuận, Dực Chính, Tương Bình, Xiển Bình, Tập Thụy, Địch Triết, Tuyên Uy, Tuấn Vọng, Dũng Cảm, Cưỡng Nghị, Uy Vũ Đại vương.” Ngôi đền thờ được dân 2 xã là Hữu Biệt và Tràng Cát cùng nhau phụng sự.
Ngày tiệc đản sinh là mùng 1 tháng 1 hằng năm. Ngày tiệc hóa là ngày 15 tháng 3. Ngày tiệc khánh hạ là ngày mùng 7 tháng 7. Ngày lễ hội đền được tổ chức vào ngày 21 tháng Giêng. Ngày 15 tháng 8 là lễ hội mùa thu (xuân – thu nhị kỳ). Trước đây đền thờ được trạm khắc với kiến trúc tinh xảo. Pho tượng ngài được làm bằng gỗ trầm. Sau đây là phần phiên dịch thần tích của ngài từ văn bản ngày 24 tháng 11 năm 1937 do xã trưởng Trần Hữu Cơ viết bằng tiếng Pháp.
Thần Độc Lôi Sơn tên húy là Phạm Hiển. Ngài sinh vào ngày mùng 1 tháng Giêng năm 1028, mất ngày 15 tháng 3 năm 1054. Nguyên quán ngài tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Sinh ra trong một gia đình nghèo khó, mồ côi cha từ nhỏ. Cuộc sống bất hạnh ngài phải tự mình kiếm sống và đi học. Từ nhỏ ngài đã có thể chất khác thường ham thích việc luyện binh võ. Khi trưởng thành ngài tham gia quân đội của triều đình. Sau một thời gian phục vụ ngài được thăng lên chức “Lãnh binh” rồi lại thăng lên làm “Phiêu kỵ úy Đại tướng quân”. Dưới triều Lý, ngài cùng vua Lý Thánh Tông đánh giặc Chăm Pa. Bị thất bại và trọng thương mất nhiều máu, ngài cưỡi trên lưng ngựa rồi đi đến địa phận huyện Nam Đàn. Tới chân ngọn núi Mượu hùng vĩ, ngài dừng lại vì vết thương đã quá nặng. Đến gần thung lũng của ngọn núi, gần giáp với sông Nộn thì bỗng có một tiếng sấm lớn vang lên khiến cho cư dân vùng đó vô cùng kinh hãi. Lúc ấy cả người và ngựa liền biến mất chỉ để lại một gò đất lớn. Nhân dân địa phương thường hay đến sông đánh cá, kỳ lạ thay họ thấy gò đất kia ngày càng một to ra và truyền nhau rằng chủ nhân của gò đất ấy là một vị thần linh. Mỗi lần đi đánh cá họ lại tới gò đất khấn nguyện xin thần ủng hộ và luôn thu hoạch được rất nhiều tôm cá. Người dân thấy nơi đó thật sự linh ứng nên thường đến cầu cúng mong thần bảo trợ cho được bình an, may mắn và khỏe mạnh. Lúc bấy giờ rất cần thiết lập đền để thờ phụng nhưng cư dân hai làng phàn nàn và có sự tranh chấp nhau. Dân thưa chuyện lên quan trên, quan điều tra thì thấy rằng quả thật có nhiều điều linh ứng, gò đất lại nằm ở địa phận xã Hữu Biệt nên lệnh cho dân xây dựng ngôi đền thờ bằng gạch để thờ phụng vị thần đó.
Vào thời vua Vĩnh Khánh, quân triều đình trên đường đi đánh giặc Ai Lao, qua địa phận Hữu Biệt thấy nơi đây có ngôi đền thiêng danh lam cổ tích. Tướng quân thủ lĩnh mới cho binh sĩ dừng nghỉ rồi vào đền cầu đảo khấn nguyện xin thần giúp đỡ đánh thắng giặc. Đêm ấy nghỉ tại đền, tướng quân mơ thấy có 9 đội quân giúp đánh giặc, đội quân tiên phong cầm lá cờ thêu chữ “ Độc Lôi Đại Vương”. Quân ta nhanh chóng dành được thắng lợi, trên đường về tướng quân cho dừng lại ở núi Mượu tổ chức lễ khánh hạ chúc mừng chiến công và tạ ơn thần Độc Lôi. Trong lúc tổ chức tiệc mừng bỗng có một vị thần hiện lên xưng rằng: “Ta là Phạm Hiển, xuất thân từ làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An”. Vài tháng sau vua Vĩnh Khánh ban lệnh cho nhân dân 2 xã Hữu Biệt và Tràng Cát tu sửa, tôn tạo ngôi đền. Tới ngày mùng 7 tháng 7 lại ban cho sắc phong thần là “Hiển Đức Phù Hưu Anh Vũ Độc Lôi Đại Vương”. Từ sau triều vua Vĩnh Khánh về sau đến thời vua Khải Định luôn ban sắc phong tặng cho Độc Lôi thần.

Sự tích Đức Bà Xuân Nương đệ bát vị (Phú Thọ)Nước Việt ta vào thời kỳ nội thuộc Tây Hán, tương truyền ở châu Đại Man có ...
28/09/2023

Sự tích Đức Bà Xuân Nương đệ bát vị (Phú Thọ)
Nước Việt ta vào thời kỳ nội thuộc Tây Hán, tương truyền ở châu Đại Man có Chúa trưởng danh hiệu là Hùng Bát. Ngài lấy bà Đinh Thị Hiên Hoa Công chúa là em gái của Chúa trưởng của châu Tiến. Đôi bên sánh duyên hòa hợp loan phượng như sắt như cầm. Ngài mới ban phong cho Hiên Hoa làm ngôi Chính Cung Phu Nhân. Lấy nhau được 10 năm thì sinh hạ được 7 người con trai. Vào một ngày nọ Chính Cung cùng 3,4 người tỳ nữ đi đến Đông Cung du ngoạn, ngắm trăng thưởng trà, nghe tiếng tơ trúc thật là nhã thú. Đến ban đêm đã gần canh ba, Chính Cung tựa vào hiên lan mơ màng ngủ thì bỗng mơ thấy có một người con gái tuổi độ 13, quần áo đẹp đẽ, trang sức huy hoàng, đầu đội trâm vàng vô cùng nghiêm chỉnh. Chính Cung nhìn thấy mà lòng vô cùng yêu thích, ngài mới dang tay ôm đứa trẻ vào lòng rồi hỏi: “Nàng là ai? Từ đâu đến nơi này?”. Đứa trẻ thưa rằng: “Thiếp vốn là Đông Phương Thanh Đế. Trên Thiên Đình thấy Chính Cung quả thực là bậc phúc hậu nhân từ nên mới cho thiếp giáng xuống nơi đây để làm con của Chính Cung”. Vừa mới nghe dứt lời ấy thì Chính Cung bừng tỉnh, lệnh truyền thị nữ đưa về tẩm cung. Từ khi ấy trong lòng ngài cứ nhớ mãi về đứa trẻ trong mộng kia. Quả nhiên Chính Cung khi về liền mang thai. Tới giờ Thìn, ngày mùng 2 tháng Giêng năm Giáp Thân sinh hạ được một người con gái mặt tươi như ngọc, cốt cách đẹp như hoa mai, môi hồng, má thắm, mắt phượng mày ngài, lại có tràng hoa 3 vòng cuốn cổ. Sinh hạ được 100 ngày thì Chính Cung ngài mất (nhằm ngày mùng 5 tháng 5). Hùng Chúa phải cho mời bà vú đến nuôi dưỡng. Nhưng Nàng tính nết khác thường không chịu bú người lạ. Các anh trai của Nàng phải đi tìm lấy nước mía để thay sữa nuôi nàng. Được tròn 1 tuổi Nàng chẳng chịu ăn thức gì mà chỉ thích dùng mật ong, củ mài, nước mía. Lên 5 tuổi lại càng thêm yêu thích các vị mật hoa chẳng bao giờ ăn thịt cá hay vật tạp. Hùng Chúa mới đặt tên cho Nàng là Xuân Nương Công chúa. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng Nàng đã giỏi đàn ca, đánh cờ. Năm Nàng lên 13 tuổi, vào ngày 12 tháng 10 thì Hùng Chúa là cha Nàng mất. Anh trai trưởng lên kế vị còn các anh em còn lại chia nhau làm Thổ Quan cai quản các châu. Năm 18 tuổi Nàng có diện mạo tươi đẹp sáng như hồ băng, dung nhan tuyệt trần, tuy là đấng nữ trung nhưng lại tinh thông võ nghệ như bậc nam nhi, giỏi tài cung kiếm, đủ tứ đức công – dung – ngôn – hạnh. Thật là xứng danh Hùng nữ. Các Thổ hào, Tù trưởng đều quy phục, không ai là không yêu mến. Nàng nuôi dưỡng gia thần là 10 người thị nữ, cũng đều là bậc trí dũng, tài giỏi chẳng kém trai là bao.
Lại nói rằng thưở ấy Tô Định được nhà Hán điều tới nước ta làm Thái Thú. Hắn bản tính bạo ngược, hay ức hiếp dân lành, gây nên đại họa nước ta. Chúa trưởng Đại Man bấy giờ tên Hùng Thắng là huynh trưởng của Nàng, cùng với ông Thi Sách người huyện Chu Diên (Ông Thi Sách là chồng của bà Trưng Trắc) thấy giặc Tô Định gây họa mới cùng nhau đem quân chống lại. Giặc Tô Định thế mạnh nên đánh thắng hai người. Hai người phải bỏ chạy nhưng quân Tô vẫn đuổi theo bắt giết bằng được. Biết tin anh trưởng Hùng Thắng bị giết, Nàng vô cùng uất hận, mới chiêu dụ các tướng tài, tích binh mã để chờ ngày báo thù. Một thời gian sau Nàng bày mưu tính kế, cạo tóc giả làm ni cô thường đi khắp các phủ huyện tìm nơi cảnh chùa cửa thiền để đóng quân chiêu dụ lính tốt, nữ binh. Một ngày nọ Nàng cùng với 4,5 người thị nữ đến đất Hương Nộn, huyện Tam Nông. Thấy trên gò Xoan có ngôi chùa cảnh đẹp danh lam, lại thuộc vùng Thủy Quốc của Lạc Long Quân. Nàng cùng với bọn người lưu lại ở chùa vài ngày. Nhân dân thấy có ni cô đến chùa, lại thấy Nàng dung mạo trang nghiêm, tinh thông kinh kệ, đạo pháp. Các lão ông, thái bà cùng dân địa phương lấy lòng ái mộ mới ngỏ lời cầu thỉnh Nàng ở lại cảnh chùa làm Thủ tự. Nàng nhận lời đồng ý rồi làm lễ tế nhập tự. Thường ngày Nàng vẫn đi dạo cảnh trong huyện để ngầm tìm các anh hùng hào kiệt, tìm các nữ binh về giúp sức báo thù giặc Tô nỗi hận giết anh. Bên cạnh đó Nàng luôn cứu giúp những người nghèo, phát tâm lương thiện làm nhiều việc phúc, nuôi giúp nhân dân. Kề cận được 1 năm thì trong khắp huyện ai nấy cũng đều ái kính quy phục Nàng. Công lao của Nàng ví như núi như biển, tất cả đều gọi chung một tiếng là Mẹ. Nàng chiêu dụ được các nam tài, nữ giỏi hơn 100 người (Xã Hương Nộn: 31 người, Xã Hương Nha: 33 người, Xã Nam Cường: 21 người, Xã Tự Cường: 18 người) sáng chiều đều ở chùa làm đạo tràng tăng thống tụng kinh niệm Phật, đêm đến lại cùng nhau luyện binh học võ trong vòng nửa năm.
Con gái của Lạc tướng vua Hùng là bà Trưng Trắc có thù giặc Tô Định giết chồng là ông Thi Sách, ngài mới nuôi dưỡng quân binh, chiêu tập các nữ tướng, nữ binh. Ngài nghe nói ở châu Đại Man có nàng Xuân Nương - em gái của Chúa trưởng Hùng Thắng là bậc nữ tướng giỏi lại có ý chí báo thù. Ngài mới cho em gái là bà Trưng Nhị mang thư đến cho Xuân Nương khuyên luyện nàng cùng đồng tâm giúp nước, đồng chí phục thù. Bà Trưng Nhị đến chùa Hương Nộn đưa thư cho nàng Xuân Nương, Xuân Nương vui mừng nhận lấy nguyện sẽ tập hợp binh sĩ chờ ngày đem quân cùng tụ hội. Nàng chiêu tập gia thần hơn trăm người cùng các Thổ quan, Mường quan chia làm 10 bộ mỗi bộ 36 người, lại cử mỗi bộ một người đứng đầu, hợp binh được 380 người.
Bộ thứ nhất gồm các Thiền tướng xưng là Mô Trai Thần Quan, quản binh lính dâng tiến đồ chay.
Bộ thứ 2 tên Xích My Thần Quan, quản đội bắn tên.
Bộ thứ 3 tên Đài Quan Sát Thần Quan, quản lý trâu bò.
Bộ thứ 4 tên Bài Chước Thần Quan, quản lý rượu.
Bộ thứ 5 tên Nhân Tốt Thần Quan dâng tiến thực phẩm.
Bộ thứ 6 tên Đông Cung Thần Quan giữ cánh quân bên trái.
Bộ thứ 7 tên Tây Cung Thần Quan giữ cánh quân bên phải.
Bộ thứ 8 tên Nam Cung Thần Quan giữ cánh quân phía trước.
Bộ thứ 9 tên Bắc Cung Thần Quan giữ cánh quân phía sau.
Bộ thứ 10 tên Trung Cung Thần Quan quản lý đội quân ở giữa đồng thời kiêm tri các bộ quân.
Xuân Nương cử tướng cho quân luyện tập binh mã. Đến ngày mùng 9 tháng 2 ra lệnh ngả trâu bò để khao quân ở xứ Đông Đổ, Lão châu (tục gọi là bến đông bãi già). Tục lệ ăn uống của Man Quan nước ta quả thực có nhiều điều kì lạ. Thổi chín cơm rồi bằng đũa. Ăn thịt trâu bò thì dùng nồi da nấu thịt, dóc thịt ra khỏi phần da rồi cắt thành miếng, căng da về hai phía sao cho phần da lông ở dưới rồi nhóm lửa nấu. Rượu thì dùng rượu ngọt (cam tửu), chén uống lại dùng đốt tre. Quân sĩ, quan mường, tướng lĩnh cứ vậy ăn uống rồi cùng nhau tụ hội thi tài bách nghệ. Xuân Nương thấy rằng đất xứ này địa linh nhân kiệt mới cho quân lưu lại, nhân dân trong xã đều đến chúc mừng bái lạy. Xuân Nương cho thi tài xong được nhân dân phù giá về lại Hương Nha. Nàng truyền lệnh cho nhân dân, tướng sĩ thiết lập hai điểm doanh trại. Thượng cung là nơi cho Nàng cùng quân lính ở. Hạ cung làm nơi ở cho Thập bộ Thần quan châu Mường. Đồng thời lập 4 đồn nhỏ xung quanh, lại cho đào mạch nước dẫn đến giếng ở hậu cung (sau này dân gọi là giếng Thầy). Nàng ở lại doanh trại vài tháng, các bậc anh tài nghe tin tìm đến tụ hội được hơn ngàn người. Ngày mùng 3 tháng 5 tất cả cùng nhau về Hát Môn bái yết Trưng Vương. Trưng Vương thấy vậy hết sức vui mừng ban cho Nàng làm Chưởng Lĩnh Tả Quân Nữ Tốt Thị Nội quản đạo quân phía Đông, tức danh hiệu là A Nương Công Chúa Đệ Bát Vị Tham Mưu Tán Sự. Lại truyền hịch kêu gọi cho các phủ huyện, châu, trang, động các anh hùng hào kiệt, phụ đạo quan lang, nữ tài. (Xã Hương Canh, huyện Từ Liêm 1 người. Xã Thản Sơn và Yên Xá huyện Lập Thạch 2 người. Yên Lạc, Thanh Vân 1 người. Bạch Hạc, Mộ Chu 2 người. Đàn Luận 1 người. Nhật Chiêu 1 người. Xã Đông Sàng huyện Phúc Lộc 1 người. Liên Chiểu 1 người. Phù Sa 1 người. Xã Văn Trưng huyện Bạch Hạc 1 người. Đại Tự 1 người. Cẩm Đái 1 người. Phủ An 1 người. Xã Bình Lỗ huyện Yên Lạc 1 người. Mạnh Lân 1 người. Thọ Lão 1 người. An Lão 1 người. Xã Kim Bí huyện Tiên Nông 1 người. Tân Hóa 1 người. Xã Canh Vân Huyện Yên Lãng 3 người. Xã Thất Khê huyện Yên Sơn 1 người. Hữu Quang 1 người. Xã Tuy Lộc huyện Thạch Thất 2 người. Tốt Động huyện Mỹ Lương 2 người. Xã Vân Nhưng, huyện Lập Thạch 3 người. Ân Hộ 3 người. Vụ Cầu 1 người). Tất cả được hơn 6 vạn binh sĩ, riêng nữ tướng nữ binh có đến hơn 2000 người cùng nhau hội tụ tại Hát Môn lập đàn trai giới tế cáo trời đất, cầu đảo bách thần. Tế cáo xong binh sĩ cùng nhau thẳng tiến thành của Tô Định đại chiến. Cờ bay rợp trời, chiêng trống vang động, giặc Tô đại bại, tướng Tô Định phải nhân lúc trời tối bỏ trốn về Bắc quốc. Trưng Vương thu phục được 65 thành trì, nước Nam ta hoàn toàn thống nhất. Bà Trưng Nhị được phong làm Bình Khôi Công Chúa, các tướng lĩnh cũng lần lượt được chiếu công ban thưởng. Trưng Vương phong
thưởng riêng cho Xuân Nương làm “Nội Các Đông Phương Tả Cung Thị Nội”, ban thưởng 100 nén vàng bạc, 500 tấm vải gấm, ban cho các xã Hương Nha, Hương Nộn, Nam Cường, Tự Cường, Tiền Áo làm con dân. Lúc còn sống thì làm thực ấp hưởng lợi tức, lúc mất thì các xã phải thờ phụng hương hỏa.
Cảnh đất nước đã yên bình, Nàng mới xin Trưng Vương được cùng với các gia thần về lại châu ấp. Vua đồng ý, Nàng bái tạ rồi ra về. Ngày mùng 5 tháng Giêng về đến xã Nam Cường, ngày mùng 6 về đến xã Tự Cường, mùng 7 về đến xã Tiền Áo, mùng 9 mới về đến xã Hương Nha. Điquamỗixãởlại1ngày,nhândânbảnxãkéođếnchúc mừng nàng lại cho làm yến tiệc, ban thưởng bổng lộc khiến cho ai nấy cũng hết sức vui mừng. Ngày mùng 10 Nàng tắm rửa ở miệng giếng nơi hậu cung rồi cùng quân sĩ đến xứ Đông Đổ, Lão Châu truyền lệnh cho chư quân tổ chức thi tài bách nghệ. Sau lễ hội thi tài nàng lui về cung sở nghỉ ngơi, nhân dân xứ ấy đều kéo đến hành lễ chúc mừng. Nàng khen ngợi nơi đất này địa linh nhân kiệt, phong tục tốt đẹp, nhân dân thiện lành nên ban thưởng cho 50 lạng vàng để tu sửa cung điện. Ngày 15 tháng Giêng Nàng quay trở lại xã Hương Nộn, lệnh cho người sửa soạn lễ chay thanh tịnh để vào lễ tạ Tam bảo, lại ban thưởng cho tăng ni tứ chúng. Ở lại xã Hương Nộn vài ngày Nàng trở về châu Đại Man để thắp hương cho cha mẹ, thăm các anh trai, tu sửa từ đường. Lại ban thưởng cho các Lão động trưởng. Xong xuôi tất cả công việc Nàng mới quay về triều đình để phù giá.
Lúc bấy giờ có em trai của ông Thi Sách làm phó tướng của Trưng Vương, chàng là người tài giỏi anh dũng hơn người. Trưng Vương phong làm “Triết Lĩnh Thủy Đạo Tướng Quân”. Chàng trước đã có vợ rồi nhưng không may lại mất sớm, gặp thấy Xuân Nương thì hết lòng yêu quý, thầm mến. Chàng mới nói riêng với Trưng Vương xin ngài được tác hợp cho hai người. Một ngày nọ sau buổi triều, Trưng Vương cho gọi Xuân Nương ở lại cùng dùng tiệc chung. Trưng Vương mới mở lời rằng: “Âm thì tất phải có dương đó là đạo lý của trời, huống chi đạo làm người lại không như vậy. Em trai của tiên quân Trẫm là người tài năng xuất chúng so với công chúa thì thật xứng đôi. Trẫm sẽ tác hợp cho hai người”. Xuân Nương không nói gì chỉ cười, Trưng Vương thầm biết rằng Nàng đã bằng lòng. Vua chọn ngày lành tháng tốt tổ chức cho hai người kết duyên, cũng lấy đó làm vui mừng vì đã nguôi hận được cho phu quân là Thi Sách.
Đất nước yên bình được 2 năm thì vua Hán lại sai Phục Ba Tướng Quân Mã Viện và Phù Lạc Lưu Long làm phó tướng tiến binh đánh Trưng Vương. Vua lệnh cho Triết Lĩnh Tướng Quân và Xuân Nương công chúa xuất binh chống cự. Vợ chồng vâng lệnh dẫn quân đánh giặc Hán. Vào trận đánh, Tướng quân lao lên trận tiền. Giặc bao vây tướng quân khắp các hướng, đánh 10 hiệp rồi vẫn không thể giải vây. Giặc đánh dồn dập, chẳng may tướng quân bị lạc đao vào ngựa, giặc Hán thừa cơ đánh lén chém một nhát vào bụng giết chết tướng quân. Công chúa từ sau thấy phu quân bị giặc Hán giết liền vô cùng phẫn uất.
Nàng đội mũ giáp, leo lên ngựa, mỗi tay cầm một thanh kiếm cùng với Thập Bộ Thần Quan lao vào đánh giặc. Đánh nhau cả nửa ngày không phân thắng bại, phía quân ta khí thế vẫn ngút trời, bọn giặc Hán đuối thế đành phải bỏ chạy. Bỗng nhiên từ đâu có cơn gió thổi mạnh làm bay mất yếm của Xuân Nương, lộ ra hai bầu ngực. Lũ giặc nhìn thấy mới biết chỉ huy quân ta là nữ tướng. Chúng mới bảo nhau khỏa thân mà hô lên rằng: “Ôm lấy! Ôm lấy! Xúm lại đánh!”. Nàng nghe thấy giặc hô hoán thế trong lòng cảm thấy xấu hổ rồi vô tình làm rơi một thanh kiếm xuống đất. Nàng liền nhảy xuống ngựa nhặt kiếm. Bọn Hán tặc lao đến bủa vây, Nàng chém được vô số tên. Đang định leo lại lên ngựa thì bị giặc đâm một nhát vào mạn sườn bên trái. Lúc đó Nàng đang mang thai được khoảng 4,5 tháng. Lực cạn thế cùng, Nàng phải bỏ chạy về đất Nam Cường, huyện Tam Nông. Giặc đuổi theo ngay sát sau. Nàng bị thương nặng vô cùng đau đớn, gia nhân đành dìu Nàng vào trong cung sở nằm nghỉ. Nhân dân hay tin nàng bị thương nặng mới kéo đến hành lễ, được một lúc thì giặc Hán đã vây xung quanh cung sở. Gia thần lại phải đưa Nàng tiếp tục chạy trốn, máu Nàng chảy vương khắp đất (sau này cứ nơi nào đi qua máu chảy dân đều lập miếu để thờ phụng). Nàng trong lòng phẫn nộ nén đau cưỡi ngựa thẳng một mạch tiến về phía Tiền Áo, Hương Nha rồi cho binh sĩ lưu lại. Đến đêm Nàng truyền dân xã bày biện lễ chay để Nàng tế cáo trời đất cùng Tam Bảo. Lễ xong Nàng ra giếng nơi hậu cung tắm rửa thì bỗng đâu trời đất tối tăm mù mịt, mây năm sắc cuộn vần vũ. Một lúc sau gió lặng mây tan thì binh sĩ thấy Xuân Nương đã mất, lúc đó nhằm ngày 15 tháng 2. Ngày 20 tháng hai, Thập Bộ Thần Quan đóng quân ở Hương Nha Hạ nghe được tin chủ tử mất thì tất cả cũng đều tự vẫn theo. Dân Hương Nha làm lễ chôn cất Thập Bộ ở tẩm điện rồi cùng phối thờ với Xuân Nương công chúa ở miếu đình. Trưng Vương hay tin cả hai vợ chồng vì nước hy sinh nên đã tự thân đến làm lễ tế cáo. Ngài liền ban mỹ tự cho nhân phụng thờ.
Đến thời Lê có giặc Minh sang xâm chiếm nước ta, quan Thái úy Lê Triện (Lý Triện) vâng lệnh vua đánh giặc, kéo quân qua xã Hương Nha thấy có cảnh đền miếu huy hoàng. Ngài cho lưu quân rồi vào miếu thắp hương cầu đảo, bỗng đâu một dải lụa trắng như mây từ đâu bay thẳng vào thượng cung, quả thực là linh dị. Đêm ấy ngài mơ thấy một nữ tướng cưỡi ngựa đến nói: “Thiếp xin âm phù giúp nước”. Tỉnh dậy ngài liền lễ bái tạ rồi tiến quân đánh giặc thì quả thật nhanh chóng thắng trận. Lúc hồi triều báo công, ngài bèn tâu lên Vua Lê ban tặng sắc phong cho thần và muôn thủa huyết thực.
Các ngày lễ Đức Bà trong năm:
- Ngày mùng 2 tháng Giêng: sinh nhật Đức Bà lễ cỗ chay (mía, củ mài, mật ong, chè kho, chè lam, hoa quả, bánh chưng, bánh dày), thịt trâu, rượu nồng, cơm xéo.
- Ngày mùng 10 tháng Giêng: khánh hạ thi tài bách nghệ lễ dùng thịt lợn, xôi, rượu nồng, bánh chưng, bánh mật, bánh rán, hoa quả.
- Ngày mùng 9 tháng 2: lễ khao binh của Đức Bà.
- Ngày 15 tháng 2: ngày giỗ của Đức Bà.
- Ngày 20 tháng 2: ngày giỗ Thập bộ Mô trai Thần
quan.

Truyện kể rằng vào năm Bảo Đại thứ 14 vào lễ hội đền Sòng Sơn 23/2 (dương lịch là năm 1939) vào giờ Thìn ngày ấy có một ...
04/09/2021

Truyện kể rằng vào năm Bảo Đại thứ 14 vào lễ hội đền Sòng Sơn 23/2 (dương lịch là năm 1939) vào giờ Thìn ngày ấy có một bà già từ Bắc Hà mang vào cúng đền 2 cây ngọc lan. Bà ấy thuê người đào đất trồng 2 cây hoa ấy ở trước tấm bình phong ngoài cửa đền. Đào hơi sâu một chút thì bắt gặp một quyển sách bằng đồng bên trong có khắc chữ. Sách ấy có tên "Thiên Bản Vân Cát Lê gia ngọc phả". Nhà đền mới đem sách trình lên quan địa phương thì có lệnh quan phải lưu giữ sách ấy làm bảo vật của đền Sòng. Sách này vừa là gia phả Thánh Mẫu Liễu Hạnh vừa là di chúc của cha ngài là ông Lê Thái Công về việc giao lại toàn bộ đất đai, tài sản gia đình để mua hậu thần sau khi Thánh Mẫu chầu thiên. Ngọc phả kê khai chi tiết và vị trí từng phần ruộng đất của gia đình Mẫu. Nay xin phép được dịch để quý vị đệ tử con Mẫu được biết nhân tiết mùa thu sắp đến tiệc đản sinh Thánh Mẫu lần giáng sinh thứ 2.
THIÊN BẢN VÂN CÁT LÊ GIA NGỌC PHẢ
Từng nghe rằng: Cây có gốc là tổ của cành là, nước có nguồn là tổ của dòng mạch, vật còn như vậy huống chi là con người hơn hẳn vật kia mà lại chẳng có tổ tiên hay sao? Nhờ ơn tiên tổ ta mở mang cho muôn đời sau. Tiên tổ đã có công khai sáng, dựng nền thì con cháu phải nhớ ơn ấy mà phụng thờ. Vậy mới làm kinh cho trời, nghĩa cho đất và tấm gương cho con người ta noi theo. Dù là thế hệ nào thì cũng phải nhớ công ơn tiên tổ. Trong chiếu thư của nhà Chu có nói “Dịch thế tải đức” đời nào cũng phải nhớ đến công đức, trong Kinh Thi lại nói “Tiên tổ thị hoàng” phải phụng thờ tiên tổ trang hoàng. Lại thấy nhà phải có gia phả cũng như đất nước có sách sử ghi chép lại hệ phái để lại cho đời sau vô cùng. Theo lẽ thường thì nhà có con cái nên việc phụng thờ truyền cho con cháu lo liệu. Xét theo lẽ biến nhà không con cái thì việc thờ phụng phải nhờ vả đến dân làng. Tuy thường – biến có khác nhau nhưng nói về việc thờ phụng nhớ ơn tiên tổ thì cũng đều một ý như nhau cả. Lão phu tên là Lê Tư Thắng không có con, cho nên hôm nay hội họp tất cả các vị chức sắc, người già, người trẻ làng Vân Cát đồng lòng hợp ý. Một lòng muốn báo đáp dân làng nên làm sách quý này của nhà họ Lê để chép lại các thế hệ và nhà ruộng sở hữu để giao gửi cho dân làng nhận, để muôn đời về sau dân làng Vân Cát biết được nguồn gốc của họ Lê về trước, đều là con cháu người làng, cũng là để nhờ sự hương hỏa thờ cúng từ dân làng vậy. Kính chép rằng đời thứ nhất của nhà họ Lê là ông Lê Tư Vĩnh, ông có dòng dõi với vua Lê Thái Tổ, ông là con thứ năm của vua Lê Nhân Tông, là cháu đời thứ sáu của Lạng Sơn Vương húy là Tư Cung. Khi ấy vận nhà Lê suy, nhà Mạc mới cướp được ngôi, con cháu tông thất nhà vua đều phải chạy trốn mỗi người một nơi. Cố đô Thăng Long không còn là đất của vua Lê nữa. Ông Lê Tư Vĩnh nghĩ rằng mình là người có dòng dõi hoàng tộc, trong lòng không yên mới đem theo gia đình lánh xuống mạn trấn Sơn Nam hạ, làng Vân Cát, xã An Thái, huyện Thiên Bản. Nơi đất này thuộc về vương triều Trần, dân cư ở đây nhiều người cũ của nhà Trần, cảnh núi sông lại tươi đẹp, chọn đất ở nơi đây thật hợp lý. Ông lấy làm ưng lòng mảnh đất ở phía Bắc của làng, đất này phía trước thoáng mát phía sau lại rộng rãi, bốn bề đều có nước, phía trước lại có hình thế hai con cá, vì thế mới quyết định mua tậu ruộng đất cất nhà ở nơi đó. Ông có làm một bài thơ rằng:
Kẻ tiểu nhân được mưa mà cấy lúa thời mừng
Đấng anh kiệt nấu canh nghe tiếng sấm thời sợ
Đã xét đất ấy ruộng hay trồng lúa
Bắt chước ông lão trên núi trồng cây mai
Ông ra sức làm lụng, đúng thật là con nhà cành vàng lá ngọc gặp buổi hoạn nạn phải thành một nhà nông. Ông học đòi Cơ Tử bỏ nhà Thương mà đi ẩn, làm theo Đào Công bỏ nhà cửa mà đi làm ăn. Chăm chỉ làm ăn được tầm mười năm đã trở thành một người giàu có ở trong làng. Cùng đồng hành với ông là bà vợ họ Trần, tính nết hiền hậu, trong lo lắng việc nhà, ngoài lại thuận hòa với làng xóm, hai ông bà đều đồng lòng chung sức, dân làng ai nấy đều kính mến. Năm ông ba mươi tư tuổi thì sinh được một người con trai ấy là đời thứ hai, người ấy tên là Lê Tư Thắng chính là lão phu đây. Lão phu hưởng thừa tự cha mẹ để lại, chăm chỉ làm ăn thêm ruộng thêm đất, tuy rằng giàu có hơn ở trong làng nhưng nửa đời người mà chưa có con cái. Ta cùng vợ một lòng làm việc nhân đức, đối với dân làng thường hay cứu tế, chu cấp cho những kẻ bần hàn, dân làng nhiều người ơn nhờ mới xưng tụng gọi là Thái ông, Thái bà. Cho nên biết rằng ở hiền gặp lành là lẽ thường của tạo hóa, chăm làm điều phúc về sau trời sẽ ban cho con cháu nối dõi. Năm lão phu 41 tuổi sinh được một người con trai. Đến năm Đinh Tị niên hiệu Thiên Hựu, lão phu đã 45 tuổi, vào một đêm mồng một tháng giêng thì thấy chiêm bao. Có một người đạo nhân mặc đồ tu hành, mình hạc tóc trắng, đi đến lão phu và bảo rằng: Nhà ngươi làm việc nhân đức đã lâu trời xanh soi xét nên đã ban cho nhà ngươi một tiên nữ đầu thai. Tỉnh dậy trong lòng mừng thầm vì giấc mơ điềm lành, quả nhiên đến ngày Nhâm Thìn đúng rằm tháng 8 sinh ra được một người con gái. Đêm ấy cũng mơ thấy điều lạ, một đạo nhân ném cái búa ngọc xuống đất, rồi sứ giả dẫn một tiên nữ xuống trần đầu thai. Bởi vậy mới đặt tên con gái là Giáng Tiên. Nàng ấy nhan sắc tuyệt đẹp, công dung ngôn hạnh, học hành chăm chỉ. Khi ấy người con trai gặp nạn mà mất, ta sợ rằng việc nuôi dưỡng Giáng tiên sẽ khó khăn nên mới đem cho nhà họ Trần làm con nuôi. Đến năm 18 tuổi lão mới chọn để gả cho một người con quan, người ấy tên là Trần Đào Lang. Chàng ta mặt mũi phi phương, thơ văn thông suốt, hai người qua thật xứng đôi vừa lứa, tuy là vợ chồng nhưng cũng như bạn tiên vậy. Đến năm Đinh Sửu, niên hiệu Gia Thái, khi nàng vừa tròn 21 tuổi. Vào ngày mồng 3 tháng 3 tứ ngày Bính Thìn nàng tự nói rằng: kỳ hạn xuống trần gia đã hết, giờ phải phụng mệnh về trời không được ở lại trần gian để phụng dưỡng cha mẹ. Nàng không mắc bệnh gì cứ thế mà mất. Than ôi! Nàng như một phiến ngọc, như một cành quế, như con lân của loài thú, như con phượng của loài chim, tưởng rằng sống lâu thế mà nay đã chết. Lão phu rất lấy làm thương tiếc, khi ấy cái ý nguyện không con trai thì dùng con gái cũng chẳng được như ý nữa. Lão phu nghĩ rằng: tuổi đã ngoài 60 không có con cái, biết lấy ai lo việc hương hỏa sau này. Nên lão mới mời các vị chức sắc, già trẻ dân làng đến để đem nhà cửa ruộng vườn giao cho làng nhờ sau này làng lo việc hương hỏa, trước là thờ cha mẹ lão phu sau là thờ vợ chồng lão cũng như là nàng Giáng Tiên nữa. Vậy lão làm ra bản ngọc phả này ghi lại vào sách đồng để được bền lâu. Xin được làm một bài minh để tỏ lòng. Bài minh rằng: “báo công chuộng đức, yêu kẻ thân, kính người trên, năm nào năm ấy thờ phụng, đời đời con cháu lâu dài cùng với đất trời, núi sông muôn vạn năm không mất”.
Ngày 15 tháng 8 niên hiệu Vĩnh Tộ. Lê Tư Thắng cùng chức sắc, già trẻ làng Van Cát lập phổ này và kí. Quan huấn đạo huyện Thiên Bản là Nguyễn Quốc Trinh nghe theo và viết phả này.
Phụng lục các đời nhà họ Lê:
Đời thứ nhất là Lê Tôn Công (tên húy là Tư Vĩnh, tên chữ là Trực Định). Mất ngày 20 tháng Chạp. Mộ chôn tại xứ Đồng Trạm, ở giữa ruộng bằng phẳng của thôn, nằm ở Tân Dậu hướng về phía Đinh Mão.
Phu nhân là Trần Quý Thị, tên húy là Thục, hiệu là Từ Thuận, mất ngày 16 tháng 7. Mộ chôn tại xứ Chiềng Chiềng trên gò đất tọa Đinh hướng Quý.
Đời thứ hai là Lê Thái Công tức Tư Thắng. Phu nhân là Trần Thái Bà tức Thị Tự.
Đời thứ ba là Liễu Hạnh Tiên Cô mất ngày mồng 3 tháng 3.
Phụng lục đất ở, đất ruộng của hậu thần:
Đất ở để làm nhà thờ, một khu đất 2 mẫu 8 sào, phía nam, phía đông, phía bắc đều có khe suối nhỏ, phía tây có hồ bán nguyệt rộng mười thước.
Đất ruộng gồm có: Một thửa ao ở phía nam nhà thờ rộng 3 sào 1 thước, tại xứ Bắc Long 2 sào đông cận ruộng văn trường, tây cận ruộng văn tri.
Một thửa 11 sào 5 thước, đông giáp đường lớn, tây giáp bản chủ.
Một thửa 3 sào ở Y xứ, đông giáp bản chủ, tây giáp Văn Nguyên.
Một thửa 2 sào 10 thước ở xứ Từ Chỉ, đông cận đền thờ, tây cận đường lớn.
Một thửa rộng 5 sào tại xứ Sau Nội, đông giáp bãi tha ma, tây cận lão thổ.
Tổng cộng đất 3 mẫu 7 sào 11 thước. Tiền đồng 300 quan.
Dân làng kính mến tuân theo, sự phụng thờ rực rỡ lưu truyền lâu dài.

BẢN VĂN CÔ BA THOẢIĐệ tử rung trống quỳ tâuThưa Cô Thoải phủ trước sau trình bàyKhâm sai Cô Thoải thiêng thay!Hành vân h...
21/07/2021

BẢN VĂN CÔ BA THOẢI

Đệ tử rung trống quỳ tâu
Thưa Cô Thoải phủ trước sau trình bày
Khâm sai Cô Thoải thiêng thay!
Hành vân hành vũ làm rày gió mưa
Cưỡi mây nương gió một giờ
Tiểu tôi tâu dụng Cô đà ngự đây
Thoải cung Công chúa thiêng thay
Mẫu sai hầu hạ hôm mai ra vào
Làm cho phảng phất chiêm bao
Biến nam biến nữ lẽ nào ai hay
Làm cho lòng dạ vơi đầy
Cơm ăn chẳng được nước rày cầm hơi
Thuốc uống lại đổ mồ hôi
Làm cho bệnh ấy ra loài bất thông
Làm cho trần thế hãi hùng
Khâm sai Cô đã ám trong bao giờ
Làm bệnh hình như lửa lò
Lưng thì đau nhức trói gò chân tay
Phải đi thỉnh bóng mời thầy
Bói ra xem xét bệnh rày làm sao
Hay là Cô Tổ ốp vào
Dưới đền Thoải phủ lầu cao Thủy tần
Tín chủ sắm lấy hình nhân
Tam đầu cửu vĩ kim ngân bạc vàng
Dâng lên tố nữ hai hàng
Đem xuống tiến nạp Động đình Vua cha
Truyền đòi Cô mới phán qua
Dương gian có sợ xem đà làm sao
Cô hầu đặt gối tâu vào
Tấu vua Thánh đế thấp cao trình bày
Phép Cô Thoải phủ thiêng thay
Cắt xử người rày giữ bệnh trần gian
Hầu bà chưa được lễ riêng
Khéo mời khéo luyện khéo khuyên mới là
Trông ơn đội đức Vua Cha
Dân gian bất đẳng để hòa mặc tôi
Đủ lễ Cô mới tha người
Cô về Thoải phủ lên chơi Thạch bàn
Thấy thầy phù thủy dương gian
Tay cầm búa sắt roi son khảo trừ
Lễ ấy là lễ rất hư
Khuyên mời chẳng được khảo trừ được ai
Khấn sai Cô chẳng giả nhời
Người lại vì người Tiên trở đường hoa
Chớ nghe thầy bói thầy khoa
Nơi khấn chẳng khấn, khấn hòa nơi đâu
Ngày nay tín chủ khẩn cầu
Tấu Cô trông lại ơn sâu cho cùng
Cô Thoải có phép thần thông
Ban lộc cho đồng, cứu hộ nhân gian
Bệnh thời nay đã được an
Phù hộ tín chủ thiên niên thọ trường

Trích “Văn chầu chư vị - 1929”

Mẫu Thoải khi bị chồng nghi ngờ bắt đi đày chốn thâm sơn có nhờ Liễu Nghị Tú tài mang thư từ Hàn Sơn về gửi cho vua cha ...
15/07/2021

Mẫu Thoải khi bị chồng nghi ngờ bắt đi đày chốn thâm sơn có nhờ Liễu Nghị Tú tài mang thư từ Hàn Sơn về gửi cho vua cha nơi Động đình. Liễu Nghị mang tới biển Đông gặp cây ngô đồng mới lấy kim thoa gõ vào cây ấy, từ dưới nước 1 đôi bạch xà tiến lên, đón Liễu Nghị xuống bệ rồng dâng thư. Vua cha sai chàng trưởng tử Xích Lân lên đón chúa về, Kính Xuyên phải chịu tội còn Thảo Mai bị đày lại phong cho Liễu Nghị làm Quốc tế thuỷ quan. Nội dung thư như sau:

“Thủ thư gửi lại, tuệ nhỡn soi cho
Phận nữ nhi là gái viết vô
Ân thánh đế xét lòng tiện nữ
Sinh làm đế tử, bởi tại thiên cơ
Kể từ khi trứng nước ngây thơ
Ân cúc dục xem bằng non nước
Nhớ đến nỗi nguồn cơn sau trước
Đức cù lao cám cảnh thung huyên
Trách giăng già khéo cợt nhân duyên
Dứt chỉ thắm mà giam má đỏ
Đạo thường phu phụ, ước trăm năm chăn ấm áo êm
Nghĩa đoạn sắt cầm, bỗng phút chốc hoa tàn nguyệt bạc
Trách Thảo Mai ra lòng bội bạc
Gieo oan tình một bức đồ thư
Giận Kính Xuyên đem dạ cả nghe
Đầy dương thế mười đông sương tuyết
Non xanh nước biếc, núi cỏ ngàn cây,
Bạn hươu nai điểu thú sum vầy,
Lấy gió mát giăng thanh làm bạn,
Ruột loan vấn vít, dạ yến bồi hồi
Đêm năm canh một bóng một người,
Xót lầu nguyệt mặt vui má phấn
Ngày sáu khắc nửa sầu nửa giận
Thẹn vì duyên lửa bỏ tay hồng
Sự duyên này bởi tại hóa công
Run rủi gặp một chàng nho sĩ
Tên Liễu Nghị, chức gọi Tú tài
Cửa vũ môn tam cấp bất hài
Xin tạm kết tơ Tần chỉ Tấn
Tưởng duyên kiếp trăm năm là phận
Không ngờ chàng tính nước lòng mây
Chốn am thanh thề với cỏ cây
Dạ ao ước lên chầu Thượng Đế
Nơi rừng thẳm nhuốm sa giọt lệ
Lòng khăng khăng về tới thủy quan
Ngửa trông ơn chỉ xích thiên nhan
Xin mãn ba sinh hương hỏa
Mạc sử trần ai thương nguyệt hạ
Tự vô băng thán đáo hung trung”

Address

Cam Pha

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đông Cuông Vọng Phủ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share