29/06/2017
(Tiếng Hy Lạp: Πέτρος, Pétros "Đá", Kephas hoặc thỉnh thoảng là Cephas) là tông đồ trưởng trong số mười hai Tông đồ của Chúa Giêsu. Thánh Phêrô được Chúa trao cho quyền cai quản Hội Thánh. Ông là con trai của Giona và là anh em ruột của Anrê - một vị thánh khác trong 12 Tông đồ của Chúa Giêsu.
Thánh Phêrô
"Người giữ Chìa khóa Thiên đàng."
Pope-peter pprubens.jpg
Thánh Phêrô như một vị giáo hoàng, vẽ bởi Rubens
Thánh Tông đồ, Thánh Tử đạo, Giáo hoàng, Nhà truyền giáo
Sinh khoảng năm 1 SCN
Bethsaida, Galilea
Mất 64 (63 tuổi)
Rôma, treo ngược trên Thập giá.
Tôn kính Giáo hội Công giáo Rôma, Chính thống giáo Đông phương
Đền chính Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô
Lễ kính 29 tháng 6 (trùng lễ kính Thánh Phaolô)
(Giáo hội Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương, Anh giáo)
Lập Tông tòa Thánh Phêrô 22 tháng 2 (Giáo hội Công giáo Rôma)
Biểu trưng Người giữ Chìa khóa Thiên đàng
Nguồn sử liệu chính giúp chúng ta tìm hiểu về cuộc đời của ông là sách Tân Ước mà chủ yếu là bốn sách Phúc Âm và sách Tông đồ Công vụ. Tân ước nhắc đến Phêrô khoảng 154 lần, dưới danh xưng Hy Lạp Petros, thường gắn liền với tên Do Thái Simêon (đọc theo kiểu Hy Lạp là "Simon"). Tên khai sinh của ông là Simon, và tên của cha là Gioan.Danh xưng tiếng Hy lạp "Petros" gốc từ "petra" có nghĩa là "đá", do Chúa Giêsu đặt cho ông; trong tiếng Aram là Kêpha (xuất hiện trong các thư của Thánh Phaolô).
Truyền thống Công giáo cho rằng ông là Giám mục của Rôma và là vị giáo hoàng đầu tiên của Giáo hội Công giáo Rôma. Niên giám Tòa Thánh năm 1838 dưới triều đại của Giáo hoàng Grêgôriô XVI cho rằng ông trở thành Giám mục Rôma vào năm 42 và ở ngôi trong vòng 25 năm.Niên giám Tòa Thánh năm 2003 xác định rằng thời gian bắt đầu triều đại của ông không rõ và kéo dài tới năm 64.Phêrô cũng là người sáng lập nên Giáo đoàn tại Antioch và là người lãnh đạo của cộng đồng tín hữu tại đây trong vòng 7 năm liền.
# # # # # # # # # # # # # # # # #
……Thánh PHAOLO……
thành Tarsus (còn gọi là Saolô theo chữ Saul, Paulus, Thánh Phaolô Tông đồ, Thánh Phaolồ hoặc Sứ đồ Phaolô, Thánh Bảo-lộc hay Sao-lộc theo lối cũ(tiếng Hebrew: שאול התרסי Šaʾul HaTarsi, nghĩa là "Saul thành Tarsus", tiếng Hy Lạp cổ đại: Σαούλ Saul và Σαῦλος Saulos và Παῦλος Paulos[2]), là "Sứ đồ của dân ngoại." [3] Cùng các sứ đồ Phêrô, Gioan, và Giacôbê, ông được xem một trong những cột trụ của Hội Thánh Kitô giáo tiên khởi, và là một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển Kitô giáo thời kỳ sơ khai.[4] (sinh 3–14 TCN; mất 62–69 CN).
Phaolô xứ Tarsus
StPaul ElGreco.jpg
Sứ đồ Phaolô, tranh của El Greco
Sứ đồ của dân ngoại
Sinh chưa thống nhất
ở Tarsus theo như Acts 22:3
Mất khoảng 64-65 SCN[1]
Roma[1]
Tôn kính Toàn Kitô giáo
Đền chính Vương cung Thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành
Lễ kính 25 tháng 1 (Phaolô cải đạo)
10 tháng 2 (Lễ đắm tàu của Phaolô tại Malta)
29 tháng 6 (trùng lễ kính thánh Phêrô)
18 tháng 11 (Lễ cung hiến vương cung thánh đường Thánh Phêrô và Phaolô)
2008 (Năm Thánh Phaolô)
Biểu trưng Kiếm
Không giống Mười hai Sứ đồ, không có chỉ dấu nào cho thấy Phaolô từng gặp Giêsu trước khi ông bị đóng đinh trên thập tự giá.[5] Theo ký thuật của Tân Ước, Phaolô là người Do Thái chịu ảnh hưởng văn minh Hy Lạp, và là công dân của Đế quốc La Mã, đến từ thành Tarsus (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Phaolô là người kiên trì săn đuổi những Kitô hữu ban đầu (hầu hết là người Do Thái) để bách hại họ, cho đến khi chính ông trải qua kinh nghiệm lạ lùng trên đường đến thành Damascus. Trong một khải tượng, ông gặp Chúa Giêsu và mắt ông bị mù trong một thời gian ngắn. Trải nghiệm này đã đem ông đến với đức tin Kitô giáo, chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Messiah và là Con Thiên Chúa.[6] Phaolô khẳng định rằng ông nhận lãnh Phúc âm không phải từ con người, nhưng từ chính "sự mặc khải của Chúa Giêsu."[7]
Sau khi chịu lễ Thanh Tẩy, Phaolô đến ngụ cư ở xứ Arabia (có lẽ là Nabataea) cho đến khi ông gia nhập cộng đồng Kitô hữu còn non trẻ ở Jerusalem, và ở lại với Phêrô (hoặc Phi-e-rơ) trong mười lăm ngày.[8] Qua những thư tín gởi các cộng đồng Kitô giáo, Phaolô trình bày mạch lạc quan điểm của ông về mối quan hệ giữa tín hữu Kitô giáo người Do Thái với tín hữu Kitô giáo không phải người Do Thái, và giữa Luật pháp Moses (Mô-sê hoặc Môi-se) với giáo huấn của Chúa Giêsu.
Phaolô được sùng kính như một vị Thánh bởi các nhóm khác nhau như Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương, Anh giáo, và một số người thuộc Giáo hội Luther. Ông được xem là thánh quan thầy của Malta và Thành Luân Đôn, một vài thành phố khác được đặt tên để vinh danh ông như São Paulo, Brasil và Saint Paul, Minnesota, Hoa Kỳ. Đạo Mormon xem ông là nhà tiên tri.
Các thư tín của Phaolô hình thành phần nền tảng của Tân Ước (được xem là nguồn quan trọng cho nền thần học của Hội Thánh ban đầu) cùng những nỗ lực của ông nhằm truyền bá Kitô giáo trong vòng các dân tộc, là mục tiêu của nhiều khuynh hướng luận giải khác nhau. Kitô giáo truyền thống xem các thư tín của Phaolô là một phần của kinh điển Tân Ước và xác định rõ ràng rằng tư tưởng của Phaolô là hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Giêsu và các sứ đồ khác.
Những người ủng hộ thần học giao ước tin rằng Hội Thánh đã thay thế dân tộc Do Thái trong vị trí Tuyển dân của Thiên Chúa, khơi mở những tranh luận hiện vẫn tiếp diễn xem xác định rõ ràng này có phải bắt nguồn từ ý tưởng của Phaolô khi ông giải thích Jeremiah 31: 31[9] và Ezekiel 36: 27[10], sau đó xác định rõ ràng này được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng Kitô giáo.
Ảnh hưởng của Phaolô trong tư tưởng Kitô giáo được xem là quan trọng hơn bất cứ tác giả Tân Ước nào, xuyên suốt hệ tư tưởng Kitô giáo cho đến ngày nay: từ Augustine thành Hippo đến những bất đồng giữa Gottschalk và Hincmar thành Reims; giữa tư tưởng Thomas Aquinas và học thuyết của Molina; giữa Martin Luther, John Calvin và Arminius; giữa học thuyết của Jansen và các nhà thần học Dòng Tên, đến các tác phẩm của nhà thần học Karl Barth, đặc biệt là luận giải của Barth về một trong những thư tín của Phaolô,Thư gởi tín hữu ở Rôma, đã tạo ra những dấu ấn về chính trị và thần học trên giáo hội Đức thế kỷ 21.