Hội Thánh Tin Lành Phước An

Hội Thánh Tin Lành Phước An Trang thông tin về Hội Thánh Tin Lành Phước An - tỉnh Đăk Lăk.

Một bài viết về Hội Thánh trên báo Thanh Niên Online.
22/07/2024

Một bài viết về Hội Thánh trên báo Thanh Niên Online.

Đạo Tin Lành đã có mặt ở Sài Gòn từ thế kỷ 19. Jean Baptiste Chaigneau, một trong những người Pháp theo giúp Nguyễn Ánh là một tín đồ Tin Lành.

Qua 04 ngày làm việc, vào lúc 16g ngày 04/07/2024, đã diễn ra chương trình Bế mạc Đại Hội đồng Giáo phẩm lần thứ 11. Trư...
04/07/2024

Qua 04 ngày làm việc, vào lúc 16g ngày 04/07/2024, đã diễn ra chương trình Bế mạc Đại Hội đồng Giáo phẩm lần thứ 11. Trước đó, Đại Hội đồng Giáo phẩm đã có các chương trình bồi linh, huấn luyện chuyên đề, nghe lược trình hoạt động trong nhiệm kỳ 2022-2024, bầu cử Hội đồng Giáo phẩm nhiệm kỳ 2024-2026.

Kết quả bầu cử Tân Hội đồng Giáo phẩm nhiệm kỳ 2024-2026 như sau:

Chủ tịch: Mục sư Mã Phúc Hiệp
Phó Chủ tịch: Mục sư Phạm Trọng Huy
Thư ký: Mục sư Kon Sa Ha Hăck
Ủy viên: Mục sư Võ Thành Phê, Mục sư Y Djrên

  HTTLVN.ORG – Qua 04 ngày làm việc, vào lúc 16g ngày 04/07/2024, đã diễn ra chương trình Bế mạc Đại Hội đồng Giáo phẩm lần thứ 11. Trước đó, Đại Hội đồng Giáo phẩm đã có các chương trình bồi linh, huấn luyện chuyên đề, nghe lượ...

Từ ngày 01-04/07/2024, Đại Hội đồng Giáo phẩm lần thứ 11 được tổ chức tại Viện Thánh Kinh Thần Học, Tổ 15, Kp. 5, đường ...
03/07/2024

Từ ngày 01-04/07/2024, Đại Hội đồng Giáo phẩm lần thứ 11 được tổ chức tại Viện Thánh Kinh Thần Học, Tổ 15, Kp. 5, đường Bình Trưng, phường Bình Trưng Đông, Tp. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh.

Chủ đề Đại Hội đồng lần này là “Nuôi mình- nuôi bầy”, câu gốc 1 Ti-mô-thê 4:1 “Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu”.

HTTLVN.ORG – Cảm tạ Chúa, cứ hai năm một lần Hội đồng Giáo phẩm được tổ chức để các giáo phẩm gặp gỡ, chia sẻ những phước hạnh, cùng những gian khó trong chức vụ của mình, cùng thêm lên lòng yêu mến Chúa, giữ đức tin để ....

THỎA VUI  Để có được cuộc sống thoả vui thật khó. Nhất là sau một ngày chúng ta phải bất đắc dĩ làm những công việc mình...
29/06/2024

THỎA VUI

Để có được cuộc sống thoả vui thật khó. Nhất là sau một ngày chúng ta phải bất đắc dĩ làm những công việc mình không ưa thích, lúc ấy thời gian trôi qua một cách nặng nề.

Và rồi nghĩ rằng có thể ngày mai, không chừng mình sẽ lại phải đối diện với một ngày y hệt như vậy nữa...

Làm sao trong ngày mới, chúng ta có thể thoát khỏi sự nhàm chán và có được sự thoả vui trong lòng?

Kinh thánh Thi thiên 90:14 hướng dẫn cho chúng ta một lời cầu nguyện:

MỖI BUỔI SÁNG XIN CHO CON ĐƯỢC THỎA LÒNG TRONG TÌNH YÊU THƯƠNG CỦA NGÀI; ĐỂ CON ĐƯỢC HÂN HOAN CA HÁT VÀ VUI MỪNG.

Bạn mến!

Khi cánh cửa tấm lòng của bạn mở ra mời Chúa Giê-xu ngự vào, bạn sẽ cảm thấy Chúa yêu thương bạn và Ngài muốn trò chuyện với bạn về những điều bình thường trong cuộc sống mỗi ngày, đồng thời Chúa cũng sẵn sàng lắng nghe những ưu tư bạn tỏ bày với Ngài, rồi hứa rằng sẽ giúp cho bạn được thỏa lòng trong tình yêu của Ngài.

Chúa là Đấng có quyền năng để giúp bạn vững vàng trước những nan đề, cánh tay của Ngài mạnh mẽ, nên sẵn sàng nâng đỡ khi bạn mệt mỏi và với những lời nói dịu dàng của Ngài sẽ khích lệ bạn tiếp tục bước tới trên đoạn đường gian nan.

Khi bạn thật lòng tin vào sự tể trị của Chúa, thì sau những phiền phức và nhàm chán hiện nay, chắn chắn bạn sẽ có được những ngày phước hạnh và tốt lành.

Hy vọng hôm nay, bạn sẽ không phải trải qua một ngày nhàm chán nữa, mà trải nghiệm được sự thỏa lòng trong tình yêu của Chúa như điều bạn đã ao ước.

Nguồn bài viết: Mục sư Kiều Bảo Toàn

MỘT SỐ ĐIỀU VỀ MI-RI-AM MỘT TRONG 7 NỮ TIÊN TRI LỚN CỦA DO THÁI GIÁO.1. Miriam là một trong 7 nữ tiên tri của Kinh thánh...
27/06/2024

MỘT SỐ ĐIỀU VỀ MI-RI-AM MỘT TRONG 7 NỮ TIÊN TRI LỚN CỦA DO THÁI GIÁO.

1. Miriam là một trong 7 nữ tiên tri của Kinh thánh

Talmud ( Megillah 14a.) liệt kê bảy nữ tiên tri theo truyền thống Do Thái đó chính là : Sarah , Miriam, Deborah , Hannah , Abigail , Huldah và Esther , kinh thánh cũng cho thấy rằng mỗi người trong số những người phụ nữ đặc biệt này thực sự là nữ tiên tri.

2. Cô ấy là chị gái của Aaron và Moses

Để chứng minh rằng Miriam là một nữ tiên tri, Talmud trích dẫn Kinh thánh trong Xuất 15:20 “Nữ tiên-tri Mi-ri-am, là chị của A-rôn, tay cầm trống cơm, các đàn-bà đều đi ra theo người, cầm trống cơm và múa.”. Tại sao chỉ nhắc đến A-rôn mà không phải Môi-se? Talmud trả lời rằng câu này phản ánh sự thật rằng cô ấy đã bắt đầu nói tiên tri trước khi Moses được sinh ra, khi cô ấy chỉ là em gái của Aaron.

Lời tiên tri của cô ấy là gì? Cô báo trước rằng mẹ cô sẽ sinh ra một cậu bé sẽ dẫn dắt những nô lệ Israel đến tự do.

3. Tên cô ấy có nghĩa là “cay đắng”

Tác phẩm cổ Seder Olam cung cấp lịch sử theo trình tự thời gian của dân tộc Do Thái, kể rằng Miriam lấy tên của mình, có nghĩa là “cay đắng”, để phản ánh sự áp bức cay đắng mà người dân phải sống vào thời điểm đó.

4. Cô ấy được xác định là Puah

Sách Xuất Hành kể câu chuyện về Shifrah và Puah, những nữ hộ sinh dũng cảm người Do Thái đã đứng lên chống lại Pharaoh và từ chối giết những bé trai được sinh ra trong số những nô lệ người Do Thái. Một số nhà hiền triết nói rằng Puah là Miriam, khi đó là một cô gái trẻ, người đã giúp đỡ mẹ cô, Yocheved (Shifrah), chăm sóc những phụ nữ đang chuyển dạ. Cô ấy được gọi là Puah, vì những âm thanh êm dịu mà cô ấy sẽ thì thầm với các em bé (và mẹ của chúng ), hoặc vì cô ấy đang gọi (“po'ah”) bằng những lời tiên tri.

5. Cô ấy đã cứu mạng Moses

Trước sắc lệnh của Pharaoh rằng tất cả các bé trai đều phải ném xuống sông Nile, Yocheved không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đặt đứa con của mình vào một chiếc giỏ sậy và thả cậu bé lênh đênh trên mặt nước. Miriam đứng giữa đám lau sậy và quan sát Bithiah ( Batya ), một công chúa Ai Cập, tìm thấy Môi-se và cố gắng dỗ Môi-se. Nhanh trí và dũng cảm, Miriam đề nghị nhờ một y tá người Do Thái chăm sóc đứa bé, gọi không ai khác chính là mẹ ruột của cô, Yocheved.( Xuất 2)

6. Cô ấy dẫn đầu phụ nữ trong bài hát

Không được đề cập trong các sự kiện xung quanh Cuộc di cư, Miriam xuất hiện trở lại sau Sự chia cắt Biển Đỏ , khi cô dẫn đầu những người phụ nữ trong bài hát và điệu nhảy ăn mừng. Phụ nữ có nhạc cụ như thế nào? Ngay cả trong thời kỳ đen tối nhất ở Ai Cập, họ vẫn có đức tin rằng mình sẽ được cứu chuộc và chuẩn bị sẵn trống cơm để ca ngợi Chúa về những phép lạ mà họ biết rằng Ngài sẽ thực hiện. ( Xuất 15:20-21)

7. Miriam mắc bệnh phong

Dân số ký 12:1-5 kể về câu chuyện Miriam và Aaron nói xấu về người vợ Kush*te của Moses. Chúa đã triệu tập ba anh chị em đến Lều Hội kiến, nơi Ngài giải thích với Aaron và Miriam rằng Moses không giống bất kỳ nhà tiên tri nào khác và hành động của ông là chính đáng. Sau đó, họ thấy rằng Miriam bị mắc tzaraat (căn bệnh trong Kinh thánh, thường được dịch là "bệnh phong", ảnh hưởng đến những người buôn chuyện). Moses cầu nguyện cho Miriam được chữa lành, và toàn bộ dân tộc chờ đợi tại chỗ trong một tuần cho đến khi Miriam hoàn thành thời gian cách ly bên ngoài trại.

8. Cô ấy là vợ của Caleb

Theo truyền thống của giáo sĩ Do Thái, Miriam là vợ của Caleb, được xác định trong kinh thánh là Azubah và Ephrath. ( I Sử ký 2:19) Tại sao cô ấy lại có những cái tên khác? Azubah có nghĩa là “bị bỏ rơi”, bởi vì ban đầu mọi người đã bỏ rơi cô khi cô là tiếng nói hy vọng duy nhất ở Ai Cập. Đọc những cái tên khác được đề cập trong những đoạn văn xung quanh, các nhà hiền triết còn suy luận thêm rằng cô ấy ốm yếu và “trơ trọi như một tấm màn”, chỉ trở nên xinh đẹp và rạng rỡ sau khi Caleb nhận ra vẻ đẹp tâm hồn của cô ấy và cưới cô ấy bất chấp những khiếm khuyết bên ngoài.( Talmud, Sotah 11b–12a.)

9. Miriam qua đời vào ngày 10 tháng Nissan.

Dân số ký 20:1 chép : “Tháng giêng, cả hội dân Y-sơ-ra-ên tới đồng vắng Xin; và dừng lại tại Ca-đe. Mi-ri-am qua đời và được chôn tại đó.” 14 Rashi kể với chúng ta rằng giống như anh em của bà, Aaron và Moses, Miriam đã chết bởi “nụ hôn” của Chúa. Theo truyền thống, điều này diễn ra vào ngày thứ 10 của tháng đầu tiên, thường được gọi là Nissan.

Biên tập bởi Mục vụ Do Thái

07 bước Lót dần lạc trôi khỏi Chúa!Nguồn: ODB Vietnam
22/06/2024

07 bước Lót dần lạc trôi khỏi Chúa!

Nguồn: ODB Vietnam

MÊ-TU-SÊ-LA, BÀY TỎ LÒNG THƯƠNG XÓT, NHÂN TỪ VÀ NHỊN NHỤC CỦA CHÚA TRƯỚC TRẬN ĐẠI HỒNG THỦYKinh thánh không chỉ đơn giản...
19/06/2024

MÊ-TU-SÊ-LA, BÀY TỎ LÒNG THƯƠNG XÓT, NHÂN TỪ VÀ NHỊN NHỤC CỦA CHÚA TRƯỚC TRẬN ĐẠI HỒNG THỦY

Kinh thánh không chỉ đơn giản là 66 cuốn sách do 40 tác giả viết trong hàng nghìn năm, Kinh thánh là hệ thống những thông điệp mà Chúa muốn ban cho con cái loài người. Kinh Thánh thống nhất trong từng chi tiết nhỏ nhất, từng từ từng từ….

Các Rabi Do Thái thường cho rằng: họ sẽ không hiểu Kinh thánh cho đến khi Đấng Mê-si đến. Nhưng Đấng Mê-si đã đến thì họ lại không hiểu những điều mà Kinh Thánh đã nói về Ngài. Chúa Jesus đến, Ngài không chỉ soi dẫn từng đoạn cho chúng ta, Ngài sẽ bày tỏ lẽ thật từ chính những lời đó.

Chúa Jesus đã nói trong Ma-thi-ơ 5:17-18 “Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn. Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn.”

Một trong những điều mà người mới đọc thấy trong Kinh Thánh đó là những cái tên tưởng chừng là vô vị và chúng ta có xu hướng đọc nhanh cho qua những cái tên đó. Người Do Thái tin rằng mỗi một CÁI TÊN đều có năng lượng thần thánh trong đó, TÊN NGƯỜI chính là con kênh mà qua đó năng lượng của linh hồn đạt đến cơ thể. Người Do Thái cũng nói rằng, các bậc cha mẹ sẽ nhận được một sự soi dẫn thiêng liêng khi họ đặt tên cho con của mình vì vậy CÁI TÊN cũng là một lời định hướng, lời tiên tri cho những người mang tên đó.

LỜI BÁO TRƯỚC VỀ CƠN ĐẠI ĐỒNG THỦY.

Nếu chúng ta xem trong Kinh Thánh thì người sống thọ nhất Kinh Thánh được ghi chép lại đó chính là Mê-tu-sê-la, ông sống đến 969 tuổi (Sáng thế ký 5:27 )

Trong cái tên Mê-tu-sê-la thì từ “mê-tu” xuất từ từ “muth” mà gốc của nó có nghĩa là "cái chết"; và “Sê-la” xuất phát từ từ “shalach” , có nghĩa là "mang theo", hoặc "gửi đi". Vì vậy cái tên Mê-tu-sê-la (Methuselah) thì có nghĩa là “cái chết của anh ấy sẽ mang lại…”.

Cha của Mê-tu-sê-la được cho là đã nhận được một lời tiên tri về trận Đại hồng thủy sắp tới, và dường như được cho biết rằng chừng nào con trai ông còn sống, thì sự phán xét về trận lụt sẽ được giữ lại; nhưng ngay sau khi anh ta chết, lũ lụt sẽ được đưa đến hoặc gửi đi.

Trên thực tế, cha của Mê-tu-sê-la là Hê-nóc, cũng chính là nhà tiên tri sớm nhất mà Kinh Thánh được ghi lại mà còn là người đầu tiên đồng đi với Chúa và không biết đến sự chết. Cha của Mê-tu-sê-la đã nói tiên tri về sự tái lâm của Chúa trong Giu-đe 14-15 “Ấy cũng vì họ mà Hê-nóc, là tổ bảy đời kể từ A-đam, đã nói tiên tri rằng: Nầy, Chúa ngự đến với muôn vàn thánh, đặng phán xét mọi người, đặng trách hết thảy những người không tin kính về mọi việc không tin kính họ đã phạm, cùng mọi lời sỉ hổ mà những kẻ có tội không tin kính đó đã nói nghịch cùng Ngài.” Vì vậy không ngạc nhiên khi ông đặt tên cho con mình như là lời tiên tri cho những gì sẽ xảy đến.

Trong Sáng thế ký cho biết Mê-tu-sê-la là 187 tuổi khi ông sinh Lê-méc, và sống thêm 782 tuổi. Lê-méc sinh Nô-ê khi ông 182 tuổi (Sáng thế ký 5: 25–28). Trận Đại Hồng Thủy xảy ra vào năm thứ 600 đời Nô-ê (Sáng thế ký 7: 6, 11). 600 + 182 = 782. Nếu lấy 782 cộng thêm 187 (tuổi khi ông sinh Lê-méc) thì ông được 969 tuổi (Sáng thế ký 5:27 ). Năm Mê-tu-sê-la chết, đúng như Kinh Thánh ghi chép, quả thật như vậy, trận Đại Hồng Thủy ập đến.

Cái tên của Mê-tu-sê-la, báo trước điều xảy đến, Chúa đã cho ông sống một thời gian thật dài để cho mọi người có cơ hội ăn năn. I Phi-e-rơ 3: 19-20 chép “Ấy bởi đồng một linh hồn đó, Ngài đi giảng cho các linh hồn bị tù, về thời kỳ Nô-ê, khi ĐỨC CHÚA TRỜI NHỊN NHỤC CHỜ ĐỢI, chiếc tàu đóng nên, trong đó có ít người được cứu bởi nước, là chỉ có tám người.”

Thật thú vị khi cuộc đời của Mê-tu-sê-la, trên thực tế là biểu tượng của lòng thương xót, nhân từ và nhịn nhục của Đức Chúa Trời trong việc ngăn chặn sự phán xét sắp tới của trận lụt. Vì vậy, thật phù hợp khi mà cuộc đời của ông là một người sống lâu nhất trong Kinh thánh (gần 1000 năm), để nói về sự rộng rãi của lòng thương xót của Đức Chúa Trời.

Biên tập bởi Mục vụ Do Thái.

ÔNG BÀ MỤC SƯ CADMAN VỚI ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAMĐạo Tin lành truyền vào Việt Nam 100 năm qua có in dấu ấn sâu đậm của cu...
06/06/2024

ÔNG BÀ MỤC SƯ CADMAN VỚI ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM

Đạo Tin lành truyền vào Việt Nam 100 năm qua có in dấu ấn sâu đậm của cuộc đời một cặp vợ chồng mục sư người nước ngoài, người có công lớn trong việc truyền bá, mở rộng tôn giáo mới này ở Việt Nam buổi sơ khai. Để giúp bạn đọc có thêm những thông tin tổng quát về lịch sử của đạo Tin lành ở Việt Nam, chúng tôn xin cung cấp thêm một số thông tin về cuộc đời vợ chồng mục sư Cadman.

Ông bà mục sư Cadman là một trong những nhà truyền giáo đầu tiên của Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp (The Christian and Missionary Alliance – CMA), người có công rất lớn trong việc dịch trọn bộ Kinh Thánh ra Tiếng Việt (bản dịch truyền thống được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay) cũng như nhiều sách báo, tạp chí khác của Tin lành. Người đã sống một cách tận hiến cuộc đời cho công việc truyền bá và phát triển đạo Tin lành ở Việt Nam. Đất nước Việt Nam được vợ chồng ông bà xem như quê hương thứ 2 của mình. Sau khi mất, thi thể của ông được an táng tại Đà Lạt, bà được an táng tại Sài Gòn, người con gái độc nhất của họ thì được chôn cất ở Hà Nội.

William Charles Cadman sinh ra ở Rotherhithe, một vùng ngoại ô Luân Ðôn, nước Anh vào ngày 4 tháng 4 năm 1883 trong một gia đình ngoại đạo, sống đời bình dị của một thanh niên trước sự thay đổi sâu rộng của cuộc cách mạng kỹ thuật vào đầu thế kỷ 20. Trưởng thành ông đã chọn nghề in ấn làm công việc chính để sinh nhai, năm 1904 ông tin Chúa, sau đó dâng mình hầu việc Ngài. Ông rời gia đình xuất dương du học ở trường Kinh Thánh Toronto, Canada, sau đó qua Mỹ theo học ở Viện đào tạo Truyền giáo Missionary Training Institude ở Nyack, New York.

Tháng 9 năm 1910, sau khi tốt nghiệp ông đi Trung Quốc để cộng tác với mục sư R. A. Jaffrey mang Tin Lành đến cho người Trung Quốc. Cũng vào thời điểm này, mục sư A. B. Simpson, người sáng lập Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên hiệp với chủ trương nỗ lực đem Tin lành đến các xứ chưa tìm thấy ánh sáng của sự cứu rỗi đã đặt mục tiêu ưu tiên hàng đầu cho Việt Nam, Tây Tạng (lúc đó chưa thuộc Trung Quốc) và Sudan. Ðến mùa xuân năm 1911, các mục sư R. A. Jaffrey, Paul M. Hosler và G. Lloyd Huglers đến hải cảng Tourane (Đà Nẵng), Việt Nam và lập được chi hội đầu tiên sau một thời gian dài nỗ lực của các nhà truyền giáo trước đó, mở đầu cho việc truyền bá đạo Tin lành ở các quốc gia vùng Ðông Nam Á. Năm 1914, mục sư Cadman lên đường đến Việt Nam thực hiện công việc truyền giáo, tại đây ông gặp cô Grace Hazenberg cũng là nhà truyền giáo. Sau đó hai người làm lễ thành hôn vào ngày 27 tháng 7 năm 1915, tại Yunnanfu, Trung Hoa. Bà mục sư Cadman, nhũ danh Grace Hazenberg, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1876 tại Fulton, một làng nhỏ thuộc tiểu bang Illinois, nằm trên bờ sông Missisipi, Hoa Kỳ. Lúc nhỏ, bà theo gia đình đi truyền giáo ở Nam Phi cho người Afrikaners, ngày xưa gọi là người Boers. Bà theo học ở Nam Phi và đậu bằng cử nhân, sau đó bà về Toronto, Canada để học tiếp và tốt nghiệp cao học. Vào năm 1913, bà là một trong 6 người đầu tiên được Ban Chấp hành Hội Truyền giáo CMA ở New York cử đến Ðà Nẵng, Việt Nam.

Khi thế chiến thứ nhất bùng nổ vào năm 1914, là giai đoạn hầu hết các mục sư Tin lành đều phải rời Việt Nam vì chính quyền Pháp không cho phép họ rao giảng đạo Tin lành, Grace là người duy nhất ở lại để tiếp tục duy trì và phát triển cơ sở ở Đà Nẵng. Khi chính quyền Pháp cho phép truyền giáo lại vào cuối năm 1916, ông bà mục sư Cadman trở lại Việt Nam và được chuyển ra Hà Nội. Vào năm 1917, ông bà mua tư thất để dùng làm nơi ở, xây dựng nhà thờ và một năm sau thì lập nhà in Tin lành. Hoạt động truyền giáo lúc đầu rất khó khăn, nhưng cũng thu được kết quả và chính nhờ công lao của ông bà mà Hội thánh Hà Nội đã trở thành một Hội thánh vững mạnh nhất trong cả vùng Ðông Nam Á vào lúc bấy giờ. Từ cơ sở này, nhiều Hội thánh, hội nhánh lần lượt được thành lập tại các địa phương ở miền Bắc.

Ông bà sinh được một người con gái là Agnes tại Yunnanfu (Trung Quốc) vào năm 1916. Agnes bị bệnh khi ông bà về Canada nghỉ phép dài hạn lần đầu tiên và sau đó qua đời năm 1922, mộ chí được an táng tại Hà Nội. Thành quả đáng kể nhất của ông bà là việc cùng các cộng sự dịch toàn bộ quyển Kinh Thánh ra tiếng Việt từ năm 1916 đến 1925, trong đó bà đã đóng một vai trò trọng yếu. Ông Bà mục sư Cadman, cùng với mục sư J. D. Olsen, mục sư I. R. Stebbins và nhiều cộng sự người Việt như Phan Khôi, Trần Văn Dũng lo về lối hành văn đã tận tụy làm việc trong suốt 10 năm để hoàn thành quyển Kinh Thánh tiếng Việt trọn bộ đầu tiên và được phát hành vào năm 1926. Ai cũng biết chữ quốc ngữ do Linh mục Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes) biên soạn vào cuối thế kỷ 17 đã được chính quyền chính thức thừa nhận vào những năm đầu thế kỷ XX để thay thế chữ Nôm. Tuy chữ quốc ngữ còn mới mẻ, nhưng đã được nhiều người ưa thích và rất thông dụng trong quần chúng, vì lời văn dễ hiểu trong khi chữ Nôm chỉ được những người trí thức dùng. Về mặt ngôn ngữ quyển Kinh Thánh này đã được các học giả thời bấy giờ khen ngợi và vẫn còn được hầu hết tín hữu sử dụng cho đến ngày nay.

Ngoài việc dịch Kinh Thánh, ông bà còn hoạt động mạnh trong việc soạn, dịch Thánh ca, truyền đạo đơn và thực hiện nguyệt san Thánh Kinh báo. Ấn phẩm này đã giúp Hội thánh Tin lành Việt Nam tăng trưởng và gây dựng đời sống thuộc linh cho tín đồ trên toàn quốc. Ngoài ra bà còn cộng tác soạn những bản tin Tiếng gọi Đông Dương (The Call of French Indo-China) để liên lạc với các tín hữu bên Mỹ, trình bày những diễn tiến của công việc truyền giáo tại Việt Nam. Cơ sở in ấn Tin lành ở Hà Nội do ông bà thiết lập trong 30 năm hoạt động đã cho phát hành hàng triệu trang Kinh Thánh, sách chứng đạo, Thánh ca, bài học trường Chúa nhật, tài liệu lễ bái bằng tiếng Việt, tiếng Campuchia, tiếng Lào và tiếng dân tộc… Cơ sở này thật sự đã góp phần đắc lực vào việc rao truyền lời Chúa, mang sự cứu rỗi đến cho một số đông người ở Ðông Dương.

Trong cuộc thế chiến thứ hai, chính sách của Nhật Bản cũng không muốn sự có mặt của các mục sư phương Tây ở Đông Dương, một số bị người Nhật bắt và giam cầm. Mục sư Cadman đã tận dụng thời gian này để hoàn tất quyển Thánh Kinh Từ điển mà ông đã bắt đầu viết vào năm 1940, đây là tài liệu Từ điển duy nhất được viết bằng Việt ngữ từ trước đến nay. Mặc dù ông qua đời trước khi có dịp sửa chữa xong nhưng cuốn từ điển này hiện vẫn là quyển sách gối đầu giường của nhiều tín đồ, chức sắc Tin lành.

Năm 1945, nước Nhật đầu hàng, thế chiến thứ 2 kết thúc, tất cả các mục sư đều trở về nước, ngoại trừ ông bà Cadman, ông bà E. F. Irwin và mục sư D. I. Jeffrey. Nhưng đến tháng 11 năm 1945, chỉ còn gia đình mục sư Cadman ở lại Việt Nam. Ông nói: “Các anh em trong Chúa ở đây đang gặp hiểm nguy, chúng ta không thể bỏ họ đơn côi, chúng tôi quyết định ở lại với họ”. Ngày 26 tháng 4 năm 1946, bà Cadman qua đời, hưởng thọ 69 tuổi. Ông là mục sư nước ngoài duy nhất tại Việt Nam trong suốt 10 tháng cho đến khi Hội Truyền giáo tiếp tục gửi người trở lại. Trong điện tín về Mỹ báo tin buồn, ông viết: “Grace Cadman Trung tín cho đến chết”, thật vậy bà đã trung tín với Chúa, trung tín trong chức vụ của bà và trung tín với chồng để làm vinh hiển danh Ðức Chúa Trời.

Năm 1947, mục sư Cadman trở về Mỹ nghỉ phép, ông đã tận dụng dịp này để vận động mua được một máy in mới từ Anh. Ngày 26 tháng 4 năm 1948, ông tái hôn với Bà Anna G. Kegerize. Lẽ ra ông có thể nghĩ ngơi sau hơn 30 năm phục vụ ở hải ngoại, nhưng chỉ 2 tháng sau ông bà đã trở lại Việt Nam, đây là nhiệm kỳ thứ sáu của ông. Vừa đến Việt Nam, ông bà lên Ðà Lạt để tu sửa, tân trang nhà in và chuẩn bị di chuyển nhà in từ Hà Nội về đây. Cũng trong thời gian này, ông đã xem lại quyển Thánh Kinh Từ điển, một công trình nghiên cứu và biên soạn của ông trong 8 năm qua. Trong khung cảnh khó khăn của đất nước đang cố gắng phục hồi sau thế chiến thứ hai, ông nói: “Tôi cảm nhận sự thúc giục trong việc truyền bá sự cứu rỗi cho những linh hồn hư mất… Vì vậy chúng tôi cố gắng mở lại cơ sở ấn loát Tin lành…

Chúa Jêsus sẽ trở lại, Ngài sẽ trở lại nay mai. Khi đó chúng ta sẽ mặt đối mặt với Ngài và sẽ nhận được phần thưởng vì đã trung tín hầu việc Ngài… Chúng ta ngợi khen Chúa, Ngài là quê hương vĩnh cửu của chúng ta. Khi ẩn trú nơi Ngài, chúng ta có được sự bình yên”. Vào những ngày cuối cùng tại thế, ông tâm sự rằng: “Tôi không xem điều gì là quan trọng kể cả mạng sống và thân thể này để tôi có thể tận hưởng niềm vui trong khi thi hành chức vụ mà tôi đã nhận từ Ðức Chúa Jêsus để làm chứng về ân điển của Ðức Chúa Trời”.

Ngày 30 tháng 11 năm 1948 ông bị một cơn đau tim rất nặng, sau đó ông đột ngột qua đời vào lúc 7 giờ 30 sáng, ngày 7 tháng 12 năm 1948, hưởng thọ 65 tuổi. Tang lễ của ông được cử hành ngày hôm sau tại giảng đường của trường kinh thánh Ðà Lạt. mục sư Jeffrey chủ lễ, mở đầu với một bài điếu văn về cố mục sư Cadman bằng tiếng Anh, kế đó mục sư Ourgaud có một bài rất cảm động bằng tiếng Pháp và mục sư Duy Cách Lâm thay mặt cho Hội thánh Tin lành Việt Nam lên đọc một điếu văn bằng tiếng Việt ghi ơn người quá cố đã tận tụy hy sinh cho công cuộc truyền giáo tại Việt Nam từ buổi ban đầu. Buổi lễ an táng cử hành đơn sơ, đầy luyến tiếc dưới bầu trời giá buốt của một nghĩa trang ở Ðà Lạt. Khi về với Chúa, ông đã để lại người vợ mới cưới được 8 tháng, hai người anh và một em gái sinh sống ở Anh.

Chẳng những ông bà mục sư Cadman đã dâng trọn cuộc đời để truyền giảng Tin lành tại Việt Nam, sau khi mất, ông còn dâng cả di sản của mình cho Hội thánh để xây cất Cô nhi viện Tin lành Hòn Chồng, Nha Trang, trên khu đất rộng 18 mẫu. Với sự giúp đỡ của Hội Bảo trợ Nhi đồng Quốc tế, cơ sở này được khánh thành vào ngày 4 tháng 9 năm 1953. Ông Bà mục sư Cadman là một trong những nhà truyền giáo tiên phong tại Việt Nam, ông bà có một người con gái độc nhất qua đời lúc 6 tuổi được an táng ở Hà Nội. Bà về với Chúa và được yên nghỉ ở nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi, Sài Gòn, còn ông thì được an táng ở Ðà Lạt. Sau nhiều năm thất lạc, gần đây tín đồ Hội thánh Tin lành Ðà Lạt và Mục sư Lê Thành Chung, quản nhiệm Hội thánh Báp Tít Colorado Springs, đã tìm được ngôi mộ của ông. Khi dọn đất và cây cỏ ở trên, người ta vẫn còn đọc thấy dòng chữ khắc trên bia mộ: “Người trung tín cho đến chết”.

Chú thích hình ảnh:
Hình 1: Nhà in Tin Lành Hà Nội - nhà in Tin Lành đầu tiên của Việt Nam.
Hình 2: Ông bà Mục sư Cadman.
Hình 3: Dòng chữ khắc trên bia mộ của Mục sư Cadman tại Đà Lạt: “Người trung tín cho đến chết”.

Theo các tài liệu lịch sử trong Hội Thánh, từ giữa thập niên 1920, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã có những nổ lực để tru...
06/06/2024

Theo các tài liệu lịch sử trong Hội Thánh, từ giữa thập niên 1920, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã có những nổ lực để truyền giáo cho các dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên mãi đến năm 1932 (có tài liệu ghi nhận 1934), Giáo sĩ Gordon Smith mới đến truyền giảng cho người Ê-đê tại Đăk Lăk. Ê-đê là một sắc dân thiểu số với dân số hơn 400.000 người (theo thống kê năm 2019), sống phần lớn tại tỉnh Đăk Lăk và Gia Lai. Ê-đê là cộng đồng có trình độ văn hóa cao, có sử thi và có chữ viết nhưng rất tiếc cổ ngữ của người Ê Đê đã bị thất truyền.

Năm 1937, ông bà Truyền đạo Phạm Xuân Tín đến lo việc truyền giáo cho người Ê-đê tại Ban Mê Thuột và cũng giảng Tin Lành cho người Việt. Về sau còn có cố mục sư Nguyễn Hậu Nhương (1941), cố mục sư Lê Khắc Cung (1952) và các mục sư người Ê-đê tiếp nối công tác truyền giáo cho người sắc tộc tại đây trong thời gian dài.

Cùng với hoạt động truyền giáo, các nhà truyền giáo Tin Lành đã nghiên cứu đặt chữ viết mới cho người Ê-đê và biên soạn từ điển. Sau đó Thánh Kinh Tân Ước được phiên dịch ra tiếng Ê-đê.

Theo tài liệu của Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại (BFBS) vào năm 1938, Ê-đê là ngôn ngữ thứ 1001 trên thế giới đã được phiên dịch Kinh Thánh. Một ấn bản đầu tiên của Phúc Âm Mác được in bằng tiếng Ê-đê được lưu giữ tại Thư Viện Thánh Kinh Hội tại Anh Quốc. Năm 2001, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Việt Nam với sự hổ trợ của Thánh Kinh Hội đã phát hành 20.000 Kinh Thánh Song Ngữ Ê-đê – Việt Nam tại Hà Nội.

Trước năm 1975, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã thành lập Trường Kinh Thánh tại Ban Mê Thuột. Bên cạnh việc giáo dục thần học, Hội Thánh cũng thành lập bệnh viện giúp cộng đồng địa phương trong lĩnh vực y tế.

Tạ ơn Chúa, ngày hôm nay cộng đồng Tin Lành người Ê-đê tại Đăk Lăk có khoảng 180,000 tín đồ - chiếm phần lớn tín đồ trong tỉnh.

THẬN TRỌNG Ngồi làm việc tại chiếc bàn thân quen nằm sát cửa sổ, nên thỉnh thoảng có thể nhìn đàn chim sẻ hạ cánh xuống ...
04/06/2024

THẬN TRỌNG

Ngồi làm việc tại chiếc bàn thân quen nằm sát cửa sổ, nên thỉnh thoảng có thể nhìn đàn chim sẻ hạ cánh xuống xa xa phía trước, để chúng nó ăn các hạt cơm rơi, hay những mẫu bánh mì nho nhỏ.

Có những chú chim nhìn thấy miếng bánh nhỏ bên dưới rất hấp dẫn, chim sẻ thèm muốn lắm, nhưng nó vẫn đậu trên cao quan sát xung quanh để đề phòng.

Rồi khi sà xuống đất, nó nhảy nhảy vài bước, liền dừng lại, đảo mắt rà soát và ngóng tai lên như để nghe hay xem có sự gì gây ra nguy hiểm cho nó chăng !

Sự cảnh giác của con chim, nhắc đến câu Kinh Thánh ở Châm ngôn 14: 15 đã khuyên rằng:

“NGƯỜI KHÔN NGOAN THẬN TRỌNG TỪNG BƯỚC MỘT CỦA MÌNH.”

Bạn mến !

Hằng ngày làm việc để kiếm sống, bạn có để cho công việc thu hút mình quá mạnh, rồi nó như một công cụ chế ngự lòng bạn không?

Bạn có nghĩ rằng nếu mình quá lao vào công việc, điều đó có thể gây nguy hiểm cho tâm hồn mình không?

Khi chúng ta dành thì giờ đi làm, thì chẳng có gì là sai cả, vì chúng ta phải có món gì trên bàn để gắp ăn và cả gia đình rất cần thực phẩm.

Nhưng chỉ cần thiếu quan sát và không đề phòng, có thể việc đi làm để kiếm ăn, trở thành một thần tượng cuốn hút và gây tai hại cho phần tâm linh của chúng ta chăng?

Bởi vì tâm điểm cuộc đời của chúng ta là nên dành cho Chúa, chứ không phải dành cho việc làm, nên hãy cảnh giác kẻo lòng đam mê và hăng say đuổi theo công việc, sẽ chiếm hết thời gian, khiến ta chẳng còn quan tâm gì đến con người bề trong của mình nữa.

Bạn ơi !

Nếu sống với thái độ thiếu thận trọng, trước sau gì cũng sẽ gánh chịu hậu quả. Vì Kinh thánh Châm ngôn 19:2 đã nhắc rằng: "Kẻ nào vội vàng bước đi sẽ bị vấp ngã”.

Hôm nay, ước mong mỗi người chúng ta sẽ dành thì giờ gần gũi Chúa và sẽ đắn đo, suy tính kỹ lưỡng từng bước một, nhất là trước những nguy cơ đang đe dọa đến sự sống thuộc linh của mình.

Mục sư Kiều Bảo Toàn

TẬP TRUNGTrong cuộc sống, có rất nhiều điều khiến chúng ta phân tâm và bỏ qua một số điều quan trọng nhất chúng ta nên ư...
02/06/2024

TẬP TRUNG

Trong cuộc sống, có rất nhiều điều khiến chúng ta phân tâm và bỏ qua một số điều quan trọng nhất chúng ta nên ưu tiên lưu ý.

Đã có nhiều lần chúng ta vừa bắt tay vào làm việc cần thiết, thì lại có chuyện xảy ra khiến chúng ta mất tập trung. Cho nên chúng bị phân tâm và không thể làm xong công việc cần thiết ấy đúng hạn.

Khi Giô-sép còn là thiếu niên, các anh trai trong gia đình đã đối xử tệ bạc với Giô-sép. Họ ganh ghét, có người còn muốn giết Giô-sép (Sáng 37:4, 18-22).

Cuối cùng các anh trai quyết định bán Giô-sép cho bọn buôn người. Hậu quả là Giô-sép phải đối mặt với biết bao nguy nan và thử thách. Trong thời gian cam chịu những sự khổ nạn, có lẽ Giô-sép đã từng thắc mắc, liệu Đức Chúa Trời có yêu thương mình không? Và phải chăng Ngài đã bỏ rơi mình ?

Nhưng dường như Giô-sép đã không tập trung vào những ý nghĩ ấy. Thay vào đó Giô-sép bình tỉnh giữ tâm trí mình hướng về Chúa.

Đến khi Chúa cất nhắc Giô-sép lên, và có cơ hội trả đũa các anh, Giô-sép lại tỏ lòng yêu thương và tha thứ cho các anh của mình (Sáng 45:4, 5).

Giô-sép hành động như thế là vì ông đã biết tập trung hướng suy nghĩ của mình về Chúa. Thay vì chú ý vào nan đề của mình, Giô-sép lại tập trung vào ý định và tình yêu của Chúa dành cho mình .

Bạn mến !

Đối với nhiều người ngày nay, tiền bạc là vấn đề quan trọng nhất. Nên họ đã tập trung vào việc tích lũy của cải hay những tài sản mình cần phải có.

Còn người khác thì tập trung vào sức khỏe, sắc đẹp hay sự thành đạt, xem đó là vấn đề trọng yếu nên họ đã hết sức chú ý vào đó mà bỏ qua tình yêu của Chúa dành cho mình.

Bạn ơi !

Phải chăng bạn đang chú ý tới nhu cầu của đời sống thường ngày, đến mức quên quên cả sự hiện diện của Chúa ?

Hy vọng từ đây bạn sẽ lập lại một thứ tự ưu tiên mới, trước hết sẽ nhìn biết về sự hiện diện của Chúa và tìm biết ý muốn của Ngài dành cho cuộc đời sống mình, đừng để cho những điều vụn vặt của cuộc sống làm cho mình phân tâm.

Bởi vì không điều gì xứng đáng để bạn chú tâm vào hơn là việc bạn khám phá ra sự hiện hữu của Chúa và tình yêu kỳ diệu của Ngài đã và đang dành cho bạn.

Mục sư Kiều Bảo Toàn

Ớ SA-TAN, HÃY LUI RA ĐẰNG SAU TA!Kinh Thánh: Ma-thi-ơ 16:21-23 “Nhưng Ngài xây mặt lại mà phán cùng Phi-e-rơ rằng: Ớ Sa-...
23/05/2024

Ớ SA-TAN, HÃY LUI RA ĐẰNG SAU TA!
Kinh Thánh: Ma-thi-ơ 16:21-23

“Nhưng Ngài xây mặt lại mà phán cùng Phi-e-rơ rằng: Ớ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta” (câu 23).

Câu hỏi suy ngẫm: Chúa Giê-xu báo trước cho các môn đồ biết điều gì về Ngài? Phản ứng của Sứ đồ Phi-e-rơ ra sao? Vì sao Chúa phán với ông như vậy? Bạn cần làm gì để không hiểu sai ý muốn Chúa?

Sau khi Chúa Giê-xu nói trước về tương lai của Hội Thánh, Ngài tiếp tục bày tỏ cho các sứ đồ biết Ngài phải chịu khổ, chịu chết, và sẽ sống lại. Đây là lần đầu tiên Chúa báo trước về sự chết của Ngài. Khi nghe Chúa phán như vậy, Sứ đồ Phi-e-rơ đã kéo riêng Ngài ra và trách, “Hỡi Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy! Sự đó sẽ không xảy đến cho Chúa đâu!” (câu 22).

Trong suy nghĩ của người Y-sơ-ra-ên nói chung, họ tin Đấng Mê-si-a sẽ đến để làm vua và Ngài sẽ dùng quyền năng của Ngài để chiến thắng mọi kẻ thù. Vì thế Sứ đồ Phi-e-rơ nghĩ rằng đó không phải là ý muốn của Đức Chúa Cha, và Ngài sẽ không để cho Chúa Giê-xu phải chịu chết cách nhục nhã như vậy. Nhưng thật ngạc nhiên khi Chúa Giê-xu phán cùng Sứ đồ Phi-e-rơ rằng, “Ớ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta” (câu 23). Những gì Sứ đồ Phi-e-rơ nghĩ cũng giống như những gì ma quỷ đã cám dỗ Chúa Giê-xu trong đồng vắng, đó là Ngài có thể trở nên vĩ đại mà không cần phải chết chuộc tội cho con người (Ma-thi-ơ 4:6). Đó là cám dỗ của sự ích kỷ vì Sa-tan cám dỗ Chúa chỉ nghĩ cho mình mà không cần quan tâm đến ý muốn và chương trình của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu trách Sứ đồ Phi-e-rơ vì ông đang hiểu sai về chương trình cứu chuộc, và chính ông đang bị ma quỷ cám dỗ cản trở chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời.

Ngày nay, nếu chúng ta không trung tín dành nhiều thời gian đọc, học Lời Chúa và tương giao với Ngài, chúng ta cũng sẽ dễ hiểu lầm hoặc hiểu sai ý muốn của Chúa. Điều này hết sức nguy hiểm vì chúng ta dễ dàng rơi vào sự cám dỗ của ma quỷ khi nghĩ rằng Đức Chúa Trời không công bình, không quan tâm, không yêu thương, không giải cứu mình v.v…, khiến chúng ta dần trở nên vô tín và không còn nhờ cậy Chúa, thờ phượng Ngài nữa. Hoặc có thể chúng ta sẽ trở nên người cản trở hoặc gây rối loạn công việc Chúa trong ban ngành hay Hội Thánh khi nghĩ rằng Chúa không muốn tôi làm điều này, Chúa chỉ muốn tôi làm điều kia v.v… Tệ hơn nữa, chúng ta sẽ gây vấp phạm cho nhiều người khác khi có những nhận định sai lạc về chương trình và ý muốn của Chúa trên cuộc đời của họ. Xin Chúa cho chúng ta luôn gắn bó với Chúa và Lời Ngài để không sa vào mưu chước cám dỗ của Sa-tan.

Bạn có học hiểu chương trình và ý muốn của Đức Chúa Trời trên đời sống của bạn không?

Kính lạy Chúa Giê-xu, xin giúp con luôn gắn bó với Lời Ngài để con hiểu biết Ngài rõ hơn hầu cho ma quỷ không thể cám dỗ con làm gương xấu hoặc làm vấp phạm người khác trong đức tin.

Address

30 Trần Hưng Đạo, Thị Trấn Phước An
Ban Krong Pack

Telephone

+84943626468

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội Thánh Tin Lành Phước An posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Hội Thánh Tin Lành Phước An:

Share