Cửu Thiên Huyền Nữ

Cửu Thiên Huyền Nữ Thờ mẫu Cửu Thiên Nương Nương. Học đạo tu thân

Cung nghinh thánh đản Đức Thiên Hậu Nương Nương 23/3
09/05/2026

Cung nghinh thánh đản Đức Thiên Hậu Nương Nương 23/3

Cung nghinh khánh đản giai kì Đức Hậu Thổ  Bình Tâm Nương NươngCung chúc Thánh Thọ Vô Cương Kì nguyện chúng sinh vạn loà...
03/05/2026

Cung nghinh khánh đản giai kì Đức Hậu Thổ Bình Tâm Nương Nương
Cung chúc Thánh Thọ Vô Cương
Kì nguyện chúng sinh vạn loài an lạc

Cung nghinh khánh đản giai kì Đức Huyền Đàn Triệu Công Minh Đại Vương
01/05/2026

Cung nghinh khánh đản giai kì Đức Huyền Đàn Triệu Công Minh Đại Vương

Cung nghinh thánh đản Cửu Thiên Vương Mẫu đồng tán thán công đức vô lượng Nam mô vô cực vô thượng Hỗn Nguyên Đại Thánh C...
01/04/2026

Cung nghinh thánh đản Cửu Thiên Vương Mẫu đồng tán thán công đức vô lượng
Nam mô vô cực vô thượng Hỗn Nguyên Đại Thánh Cửu Thiên Huyền Nữ đại từ tôn🙏🙏🙏🙏🙏
農曆二月十五,恭祝九天玄女無極元君聖誕
九天玄女,簡稱玄女,亦稱九天娘娘、玄牝氏、九天玄女娘娘、九天玄母天尊等。其形象見於歷史與文學之中,為上古女神之一,兼具生命、術數與戰爭之神格。其信仰源遠流長,可追溯至「天命玄鳥,降而生商」之神話,以及《山海經》中助黃帝戰勝蚩尤之傳說。

一、九天玄女的傳說
1. 授黃帝兵法
據《墉城集仙錄》記載,黃帝與蚩尤戰於涿鹿,屢戰不勝。玄女奉西王母之命,下授六甲六壬兵符、靈寶策書、遁甲之法等。黃帝得其助力,終大敗蚩尤,平定四方。部分傳說中,玄女亦助製戰鼓,兼具謀略與軍需之職。

2. 傳授長生之道
戰國以來方仙道興起,分為醫經、經方、房中、神仙四類。玄女所授多屬神仙與房中之術。漢代傳說中,玄女與素女傳授外丹與修煉之法,《玄女經》《素女經》廣為流傳,合稱「玄素之道」。
道經亦載,煉丹者須祭玄女。《黃帝九鼎神丹經訣》云:「黃帝受還丹至道於玄女。玄女者,天女也。黃帝合而服之,遂以登仙。」

3. 術數女神
相傳《陰符經》《靈寶五符真文》及奇門遁甲、太乙、六壬等術數,皆由玄女傳授。相關典籍如《靈寶六丁秘法》《太乙八門訣》等,均與玄女密切相關,顯示其在術數體系中的重要地位。

4. 戰爭女神
民間與文學中,玄女常下凡授書指點,助人取勝。《水滸傳》中宋江夢遇玄女,即為代表。於《三遂平妖傳》《女仙外傳》等書中,玄女亦屢現身指點迷局,助英雄平亂定世。

二、道教女神地位
九天玄女為道教重要女神之一,多見於典籍記載。
《雲笈七籤》云:「九天玄女者,黃帝之師,聖母元君弟子也。」
《古文龍虎經注疏》稱其為天地精靈,通達萬象,為眾真之長。
《紫府玄祖法懺》更尊其為開玄之祖,道法之宗。

據經文所述,九天玄女乃先天女仙,由大道衍化而生,屬南方離火之炁所化,為至真天仙之尊。

三、九天玄女聖號
「九天玄姆聖姆天尊」
「九天紫府玄祖大天尊」
「九天玄祖元君大天尊」
「太上無極九天紫府玄祖至尊」
「南宮紫府虛無淵默玄祖無上至尊」
「玄女娘娘興儒度世大慈尊」
「九天玄女仁慈救世賜福赦罪大慈尊」
「九天玄女元君大天尊」
「九天玄女聖母元君大天尊」

☯️ 《九天玄女寶誥》
志心皈命禮
南宮紫府,無無上道,開化玄極,至真不壞。
真空元始,靈源祖劫,虛無體道,妙用難窮。
實諸仙諸真諸聖之宗,神機莫測,乃掌道掌法掌教之主。
至靈至感,至聖之慈,德溥溥無量浩劫。
救世定亂,闡法能仁聖姆,九天玄姆聖姆天尊。

Nhiều người hỏi trong Đạo giáo liệu có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ không ???Chúng ta hãy cùng tìm hiểu quan điểm ...
31/03/2026

Nhiều người hỏi trong Đạo giáo liệu có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ không ???
Chúng ta hãy cùng tìm hiểu quan điểm về phụ nữ trong Đạo giáo nhé.

Đạo giáo tôn Lão Tử làm Đạo Tổ, kết hợp lý luận của Đạo gia với các yếu tố quỷ thần, vu thuật và phương thuật thần tiên, từ đó hình thành nên một hệ thống thần học tôn giáo đặc thù.

Nho gia và Đạo gia lần lượt phản ánh hai khuynh hướng văn hóa của chế độ phụ quyền và mẫu quyền. Nho gia đề cao cương cường, tôn dương cái “hùng”, trọng dương; còn Đạo gia quý ở nhu, giữ cái “thư”, lấy âm làm chủ.

Đạo giáo lấy nguyên tắc “âm dương cân bằng” và “quý nhu thủ thư” làm chỉ đạo, đặc biệt phản đối việc làm tổn hại đến phụ nữ.

Trong Thái Bình Kinh có nói:
“Từ khi thiên hạ mất đạo, phần nhiều coi nhẹ nữ nhân, thậm chí sát hại họ, khiến số nữ ít hơn nam, do đó làm cho âm khí bị tuyệt, không còn phù hợp với phép tắc của trời đất. Theo đạo trời, cô dương không thể tồn tại lâu dài, tất sẽ khô kiệt, khiến trời không mưa đúng thời. Nữ nhân ứng với đất, nhưng lại bị khinh rẻ, thiên hạ cùng nhau khinh rẻ ‘chân mẫu’, tức là cùng nhau làm tổn hại địa khí, khiến địa khí tuyệt diệt, không thể sinh trưởng. Đất nổi giận, không vui, tai họa ngày càng nhiều, khiến việc trị nước không thể an ổn.”

Trong Đạo giáo, nữ nhân ứng với đất, tượng trưng cho đại địa. Việc bức hại phụ nữ chính là bất kính với Địa Mẫu. Nếu địa khí bị đoạn tuyệt, Địa Mẫu phẫn nộ, thì tất sinh tai họa. Điều này cho thấy Đạo giáo cho rằng nếu không tôn trọng phụ nữ, không trao cho họ địa vị tương xứng, thì không thể “hợp với đạo trời đất”.

Đạo giáo từ tầm cao vũ trụ luận mà xác định địa vị của phụ nữ:
nữ giới là biểu tượng của “âm” trong xã hội nhân loại, đồng thời cũng là sự thể hiện của “Đạo”.

Trong Đạo Đức Kinh, các khái niệm như “mẫu”, “cốc thần”, “huyền tẫn”, nước, nhu nhược, từ ái, tiết kiệm… đều có liên hệ với nữ tính. Lão Tử cho rằng “mẫu” là gốc, nữ là bản, vũ trụ vạn vật do “Đạo” – đại mẫu thần – sinh ra. Trạng thái hỗn độn trước khi vũ trụ hình thành giống hệt trạng thái thai nhi trước khi chào đời.

Lão Tử dùng “cốc thần” và “huyền tẫn” để chứng minh tính bản nguyên và vĩnh hằng của Đạo. “Cốc thần”, “huyền tẫn” tượng trưng cho nữ tính hoặc cơ quan sinh sản nữ:
“Cốc thần bất tử, thị vị huyền tẫn. Huyền tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn. Miên miên nhược tồn, dụng chi bất cần.”

Ngài lấy thung lũng làm ví dụ cho “huyền tẫn” – cơ quan sinh dục nữ, và coi đó là “căn của trời đất”, sinh ra vạn vật, liên miên không dứt, dùng mãi không cạn. Qua đó khẳng định vai trò trọng yếu của nữ giới trong sự phát triển của nhân loại.

“Cốc thần” vì sao “bất tử” và trở thành “huyền tẫn”? Là nhờ nước. Nước – cùng bản chất với Đạo – cũng mang đặc tính “liên miên không dứt, dùng không hao”.

Trương Đạo Lăng Thiên Sư trong Ngũ Đấu Kinh tôn Bắc Đẩu là “mẹ của muôn sao”. Bắc Đẩu thuộc âm, chủ thủy, là biểu tượng của nữ tính, được Đạo giáo tôn thờ rộng rãi.

Lão Tử chủ trương vận dụng mỹ đức âm nhu của nữ giới vào chính trị, chiến tranh và đời sống. Ngài khẳng định năng lực trực giác của nữ giới, ca ngợi phương thức nhận thức “không ra khỏi cửa mà biết thiên hạ” của cổ nữ, và tán dương “huyền đức” của “vạn vật chi mẫu” – “sinh mà không chiếm hữu, làm mà không cậy công, trưởng mà không thống trị”.

Ngài còn đưa ra quan điểm:
“Thư thường dĩ tĩnh thắng mẫu” (cái nhu thường thắng cái cương),
cho rằng ở một số phương diện, nữ còn vượt nam, có thể lấy tĩnh chế động, lấy nhu thắng cương.

“Nhược” mà Lão Tử nói không phải là yếu đuối, mà là mềm dẻo, bền bỉ, nội lực sâu dày, có khả năng thích ứng mạnh trước ngoại lực.

Ngài nói:
“Người sinh ra thì mềm yếu, chết đi thì cứng lại; vạn vật cỏ cây sinh thì mềm yếu, chết thì khô cứng. Vì vậy kẻ cứng mạnh thuộc về chết, kẻ mềm yếu thuộc về sống.”
“Cứng mạnh ở dưới, mềm yếu ở trên.”
“Cái mềm yếu nhất thiên hạ lại thắng được cái cứng mạnh nhất.”
“Giữ được mềm mới là mạnh.”

Đạo giáo chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng “quý nhu trọng âm” này, coi sự mềm yếu của nữ là đáng quý, yêu cầu con người giữ lấy đặc tính “thư”:
“Chí hư cực, thủ tĩnh đốc”, “chuyên khí chí nhu”.

Đạo giáo đề cao không tranh, và lấy nhu thắng cương. Những hành vi tranh đoạt kịch liệt như “dùng binh lực để tranh thiên hạ” đều bị phản đối. Lão Tử cho rằng:
“Binh giả bất tường chi khí, phi quân tử chi khí; bất đắc dĩ nhi dụng chi, đạm bạc vi thượng.”

Trong Đạo giáo nữ thần tối cao là Tây Vương Mẫu, vị ban cho nhân gian đạo trường sinh bất tử.

Toàn bộ Đạo Đức Kinh tràn đầy chủ đề “mẫu tính” và “tôn vinh nữ tính”. Những biểu tượng của “người mẹ vĩ đại” như bóng tối, đêm, khe nứt, vực sâu, thung lũng, tử cung… đều xuất hiện trong cách mô tả về Đạo.

Đạo là cái bình rỗng, là ống bễ, là bóng tối đang đến; Đạo có trước chư thần, là cánh cửa của trời đất, là người mẹ huyền diệu, là gà mẹ, ngựa mẹ, là đại mẫu. Đạo cũng là nước – nuôi dưỡng và làm ẩm nhuận vạn vật; Đạo là thung lũng có khả năng sinh trưởng.

Đạo giáo cho rằng những phẩm chất nữ tính như ôn hòa, chăm sóc, tự cấp tự túc, thuận theo tự nhiên cũng chính là thuộc tính của thần linh; còn con đường cứng mạnh, hiếu đấu của nam tính nếu cực đoan sẽ dẫn đến diệt vong.

Đạo giáo nhiều lần nhấn mạnh niềm hạnh phúc tối cao của trạng thái sống theo bản năng vô vi, nhấn mạnh sự hài hòa và căn bản của vạn vật trong “mẫu thể”. Những gì không mang bản ngã cá nhân mới có thể tồn tại lâu dài:
“Trời đất trường tồn, là vì không tự sinh cho mình, nên có thể trường sinh.”

Từ góc độ “âm dương cân bằng”, Đạo giáo chủ trương bình đẳng giới, cho rằng nam và nữ đều là bộ phận quan trọng của thế giới, nâng sự hòa hợp nam nữ lên tầm “đạo tự nhiên”.

Xét về sự tồn tại của xã hội loài người, nữ giới cũng quan trọng như nam giới.

Đạo giáo cho rằng:
“Nam nữ là gốc của âm dương.”
“Tính của trời đất là nửa âm nửa dương.”
“Nam không thể tự sinh, nữ không thể tự dưỡng.”

Quan hệ giữa nam và nữ là quan hệ tương hỗ, tôn trọng lẫn nhau, hòa hợp cùng tồn tại. Sự phát triển của xã hội nếu chỉ dựa vào nam giới là điều không thể.

Không chỉ trong giáo nghĩa đề cao âm nhu và bình đẳng, mà trong tu luyện, giáo lý và tổ chức của Đạo giáo, nữ giới cũng được coi trọng tương đương.

Chia sẻ bài viết công đức vô lượng.

Cung nghinh khánh đản nhị vị Đạo Tổ Thái Thượng Lão Quân cập Cửu Thiên Huyền Nữ Hoằng Nhân Thánh Mẫu Nương Nương 15/2 al...
26/03/2026

Cung nghinh khánh đản nhị vị Đạo Tổ Thái Thượng Lão Quân cập Cửu Thiên Huyền Nữ Hoằng Nhân Thánh Mẫu Nương Nương 15/2 al.

清 靜 經 Thanh Tĩnh KinhKinh này có tên gọi đầy đủ là Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh (太上老君說常清靜經), còn c...
15/01/2026

清 靜 經 Thanh Tĩnh Kinh

Kinh này có tên gọi đầy đủ là Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh (太上老君說常清靜經), còn có tên là Thái Thượng Hỗn Nguyên Thượng Đức Hoàng Đế Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh (太上混元上德皇帝說常清靜經), Thường Thanh Tĩnh Kinh (常清靜經), hay Thanh Tĩnh Kinh (清靜經).

+- Nội dung là giải thích sự diệu dụng của thanh tĩnh. Để đạt sự thanh tĩnh thì người tu phải (tam quán) gồm: nội quán (nhìn vào trong), ngoại quán (nhìn ra ngoài), và viễn quán (nhìn ra xa). Tam quán để thấy vạn vật đều là không; tức là trừng tâm (làm trong sạch tâm) để diệt trừ vọng tâm, diệt trừ phiền não.

Đây là bản kinh được giới Đạo sĩ rất xem trọng. Đối với Thanh Tĩnh Phái 清靜派 của Toàn Chân Đạo 全真道 quy định đây là bản kinh nhật tụng của đạo sĩ bản môn, nên bản kinh được lưu hành rất rộng và có nhiều bản chú thích của các nhà như: Đỗ Quang Đình 杜光庭, Thuỷ Tinh Tử 水精子, Hỗn Nhiên Tử 混然子, Hầu Thiện Uyên 侯善淵, L‎‎ý Đạo Thuần 李道純.

● Kinh Viết

1.老君曰:大道無形,生育天地;大道無情,運行日月;大道無名,長養萬物。吾不知其名,強名曰道。

Lão Quân viết: Đại Đạo vô hình, sinh dục thiên địa; Đại Đạo vô tình, vận hành nhật nguyệt. Đại Đạo vô danh, trưởng dưỡng vạn vật. Ngô bất tri kỳ danh, cưỡng danh[1] viết Đạo.

●【Chú】[1] cưỡng danh nghĩa là miễn cưỡng gọi tên là; gượng gọi tạm là.

2.夫道者,有清有濁,有動有靜。天清地濁,天動地靜;男清女濁,男動女靜。降本流末,而生萬物。清者濁之源,動者靜之基。人能常清靜,天地悉皆歸。

Phù Đạo giả, hữu thanh hữu trọc, [2] hữu động hữu tĩnh.[3]Thiên thanh địa trọc, thiên động địa tĩnh. Nam thanh nữ trọc, nam động nữ tĩnh. Giáng bản lưu mạt,[4] nhi sinh vạn vật. Thanh giả trọc chi nguyên, động giả tĩnh chi cơ. Nhân năng thường thanh tĩnh, thiên địa tất giai quy.

●【Chú】[2] thanh: trong trẻo; trọc: đục. [3] tĩnh 靜 = yên tĩnh (trái nghĩa của động) thường bị lầm với chữ «tịnh» 淨 (sạch sẽ). [4]giáng bản: làm cho gốc hạ xuống; lưu mạt: làm cho ngọn lưu thông. Ninh Chí Tân giải thích: «Trời đất thăng giáng, nam nữ giao hợp.» Có thể hiểu đây là sự tương tác giữa động và tĩnh, giữa thanh và trọc.

3.夫人神好清,而心擾之;人心好靜,而慾牽之。常能遣其慾,而心自靜;澄其心,而神自清。自然六慾不生,三毒消滅。所以不能者,為心未澄,慾未遣也。能遣之者,內觀其心,心無其心;外觀其形,形無其形;遠觀其物,物無其物。三者既無,唯見於空。

Phù nhân thần hiếu thanh, nhi tâm nhiễu chi; nhân tâm hiếu tĩnh, nhi dục khiên chi. Thường năng khiển kỳ dục, nhi tâm tự tĩnh; trừng [5] kỳ tâm, nhi thần tự thanh. Tự nhiên lục dục [6] bất sinh, tam độc [7] tiêu diệt. Sở dĩ bất năng giả, vị tâm vị trừng, dục vị khiển dã. Năng khiển chi giả, nội quán kỳ tâm, tâm vô kỳ tâm; ngoại quán kỳ hình, hình vô kỳ hình; viễn quán kỳ vật, vật vô kỳ vật. Tam giả ký vô, duy kiến ư không.

●【Chú】[5] trừng: làm cho trong sạch. [6] lục dục: 6 dục niệm (ham muốn) phát sinh từ lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). [7] tam độc: tham, sân (nóng giận), si (ngu si).

4.觀空亦空,空無所空。所空既無,無無亦無。無無既無,湛然常寂。寂無所寂,慾豈能生。慾既不生,即是真靜。真常應物,真常得性。常應常靜,常清靜矣!

Quán không diệc không, không vô sở không. Sở không ký vô, vô vô diệc vô. Vô vô ký vô, trạm nhiên thường tịch. Tịch vô sở tịch, dục khởi năng sinh. Dục ký bất sinh, tức thị chân tĩnh. Chân thường ứng vật, chân thường đắc tính. Thường ứng thường tĩnh, thường thanh tĩnh hĩ!

5.如此清靜,漸入真道。既入真道,名為得道。雖名得道,實無所得。為化眾生,名為得道。能悟之者,可傳聖道。

Như thử thanh tĩnh, tiệm nhập chân đạo. Ký nhập chân đạo, danh vi đắc đạo. Tuy danh đắc đạo, thực vô sở đắc. Vị hoá chúng sinh, danh vi đắc đạo. Năng ngộ chi giả, khả truyền thánh đạo.

6.老君曰:上士無爭,下士好爭。上德不德,下德執德。執著之者,不明道德。 眾生所以不得真道者,為有妄心。既有妄心,即驚其神。既驚其神,即著萬物。既著萬物,即生貪求。既生貪求,即是煩惱。煩惱妄想,憂苦身心,便遭濁辱,流浪生死,常沉苦海,永失真道。真常之道,悟者自得。得悟道者,常清靜矣!

Lão Quân viết: Thượng sĩ [8] vô tranh, hạ sĩ [9] hiếu tranh. Thượng đức bất đức, hạ đức chấp đức. Chấp trước chi giả, bất minh đạo đức. Chúng sinh sở dĩ bất đắc chân đạo giả, vị hữu vọng tâm. Ký hữu vọng tâm, tức kinh kỳ thần. Ký kinh kỳ thần, tức trước vạn vật. Ký trước vạn vật, tức sinh tham cầu. Ký sinh tham cầu, tức thị phiền não. Phiền não vọng tưởng, ưu khổ thân tâm, tiện tao trọc nhục, lưu lãng sinh tử, thường trầm khổ hải, vĩnh thất chân đạo. Chân thường chi đạo, ngộ giả tự đắc. Đắc ngộ đạo giả, thường thanh tĩnh hĩ!

●【Chú】[8] thượng sĩ = bậc đạo cao đức trọng; như «thượng đức». [9] hạ sĩ = kẻ thấp kém đạo đức; như «hạ đức».

《Toàn Văn》

Lão Quân viết: Đại Đạo vô hình, sinh dục thiên địa; Đại Đạo vô tình, vận hành nhật nguyệt. Đại Đạo vô danh, trưởng dưỡng vạn vật. Ngô bất tri kỳ danh, cưỡng danh viết Đạo.

Phù Đạo giả, hữu thanh hữu trọc, hữu động hữu tĩnh.Thiên thanh địa trọc, thiên động địa tĩnh. Nam thanh nữ trọc, nam động nữ tĩnh. Giáng bản lưu mạt, nhi sinh vạn vật. Thanh giả trọc chi nguyên, động giả tĩnh chi cơ. Nhân năng thường thanh tĩnh, thiên địa tất giai quy.

Phù nhân thần hiếu thanh, nhi tâm nhiễu chi; nhân tâm hiếu tĩnh, nhi dục khiên chi. Thường năng khiển kỳ dục, nhi tâm tự tĩnh; trừng kỳ tâm, nhi thần tự thanh. Tự nhiên lục dục bất sinh, tam độc tiêu diệt. Sở dĩ bất năng giả, vị tâm vị trừng, dục vị khiển dã. Năng khiển chi giả, nội quán kỳ tâm, tâm vô kỳ tâm; ngoại quán kỳ hình, hình vô kỳ hình; viễn quán kỳ vật, vật vô kỳ vật. Tam giả ký vô, duy kiến ư không.

Quán không diệc không, không vô sở không. Sở không ký vô, vô vô diệc vô. Vô vô ký vô, trạm nhiên thường tịch. Tịch vô sở tịch, dục khởi năng sinh. Dục ký bất sinh, tức thị chân tĩnh. Chân thường ứng vật, chân thường đắc tính. Thường ứng thường tĩnh, thường thanh tĩnh hĩ!

Như thử thanh tĩnh, tiệm nhập chân đạo. Ký nhập chân đạo, danh vi đắc đạo. Tuy danh đắc đạo, thực vô sở đắc. Vị hoá chúng sinh, danh vi đắc đạo. Năng ngộ chi giả, khả truyền thánh đạo.

Lão Quân viết: Thượng sĩ vô tranh, hạ sĩ hiếu tranh. Thượng đức bất đức, hạ đức chấp đức. Chấp trước chi giả, bất minh đạo đức. Chúng sinh sở dĩ bất đắc chân đạo giả, vị hữu vọng tâm. Ký hữu vọng tâm, tức kinh kỳ thần. Ký kinh kỳ thần, tức trước vạn vật. Ký trước vạn vật, tức sinh tham cầu. Ký sinh tham cầu, tức thị phiền não. Phiền não vọng tưởng, ưu khổ thân tâm, tiện tao trọc nhục, lưu lãng sinh tử, thường trầm khổ hải, vĩnh thất chân đạo. Chân thường chi đạo, ngộ giả tự đắc. Đắc ngộ đạo giả, thường thanh tĩnh hĩ!

THANH HOA ĐẠI ĐẾ THÁNH THỌNgày 11/11, Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn thánh đản. Tích tại Thuỷ Thanh Thiên, Bích Lạc Không Ca,...
30/12/2025

THANH HOA ĐẠI ĐẾ THÁNH THỌ

Ngày 11/11, Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn thánh đản. Tích tại Thuỷ Thanh Thiên, Bích Lạc Không Ca, Đại Phù Lê Thổ, Cửu Tiêu Cửu Thần Thượng Đế cùng vô cực đại thánh thảy nhập vào trong Thử Mễ Cung mà được nghe Nguyên Thuỷ Thiên Tôn tuyên thuyết Thuỷ Thanh Đại Linh Chương. Từ đó, Cửu Tiêu Đại Đế phát đại thệ nguyện, phụ tá Hư Hoàng, cứu bạt chúng sinh. Trong số ấy, có vị Đại Từ Nhân Giả - Thái Ất Tầm Thanh Cứu Khổ Thiên Tôn, hiệu Thanh Hoa Đại Đế, từng phát thệ rằng: “Phàm chúng sinh trong cõi thế gian đang chịu khổ, cùng những u hồn nơi địa ngục bị lưu trệ linh phách, nếu kính vâng giáo pháp của Ta mà Ta vẫn không thể cứu độ, Ta nguyện hóa thành bụi trần để chuộc tội vì đã trái lời thệ. Kẻ nào ác căn quá nặng, vốn không đáng được tha thứ, nếu biết sám hối, nhận lỗi và quy thuận, dẫu không thể cứu độ thoát khỏi luân hồi, thì cũng phải làm cho nỗi đau khổ của họ được tiêu trừ. Các thần lại trên trời nếu trái lời thệ của Ta, sẽ vĩnh viễn sa đọa trong muôn kiếp”.

Vương Khế Chân trong "Thượng Thanh Linh Bảo Đại Pháp", quyển 10 viết: "Thái Nhất Cứu Khổ Thiên Tôn vốn là Thủy Thanh Nhất Khí, là phân hình của Nguyên Thủy, là thầy của Cửu Thánh, Cửu Chân, Cửu Tiên, chưởng quản cội nguồn sinh khí phổ độ, chính là Đông Cực Thanh Cung Trường Lạc Thế Giới Thanh Huyền Thượng Đế Thái Ất Nguyên Hoàng Cứu Khổ Thiên Tôn vậy! Ngài cai quản mười phương, ức kiếp ứng hóa. Thiên Tôn không phải là chân nhân đạt phẩm vị qua tu chứng, mà là hoàng duệ của Nguyên Thủy Thượng Đế, là phân hình của Huyền Khí thần hóa, trị vì ở Thanh Huyền Tả Phủ". Có thể thấy "Thái Nhất Cứu Khổ Thiên Tôn" (tức "Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn") là do Nguyên Thủy Thanh Khí hóa sinh mà thành, vì vậy cũng được gọi là "Thanh Huyền Thượng Đế", còn "Đông Cực Thanh Cung Trường Lạc Thế Giới" là nơi ngự trị của Ngài.

Trong các tác phẩm xuất hiện sớm hơn như "Thái Thượng Hoàng Lục Trai Nghi" của Đỗ Quang Đình và "Thượng Thanh Linh Bảo Đại Pháp" của Kim Duẫn Trung (được xưng là tuân thủ nghiêm ngặt cổ pháp) đều không thấy xưng hiệu "Thanh Huyền Thượng Đế", nên có thể luận rằng hiệu "Thanh Huyền Thượng Đế" xuất hiện muộn hơn "Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn", và "Thanh Huyền Thượng Đế" có thể liên quan đến một loại khoa nghi Hoàng Lục mới xuất hiện khi đó là "Thanh Huyền Trai". Tuy nhiên, phải biết danh hiệu “Tầm Thanh Cứu Khổ Thiên Tôn” vốn đã xuất hiện trước đó, nhất là giai đoạn Lục Triều, thậm chí trước đó, kể đến như “Cửu U Pháp Sám” của Cát Huyền thời Tam Quốc.

Thời Tống-Nguyên xuất hiện nhiều loại Trai pháp mới, một trong những đặc điểm chính của Thanh Huyền Trai là thay đổi phép "tồn tư" (quán tưởng) Nguyên Thủy Thiên Tôn thành "tồn tư" "Thái Nhất Cứu Khổ Thiên Tôn". Lâm Linh Chân trong "Linh Bảo Lĩnh Giáo Tế Độ Kim Thư" nói: "Các mục tồn tư của Thanh Huyền Trai đều giống với Hoàng Lục và Minh Chân, chỉ riêng phần triệu hồn, luyện hồn là không dùng Tam Đồ Ngũ Ngục Quyết, và chỗ nào tồn tư Nguyên Thủy thì đổi thành tồn tư Thái Nhất, khi thỉnh xin xá tội không tồn tư Bát Tướng mà chỉ tồn tư hai vị Phán Phủ, cùng với việc quan tướng có khác biệt mà thôi”.

Quyển 284 của “Linh Bảo Lĩnh Giáo Tế Độ Kim Thư” giới thiệu quá trình tồn tư: Đầu tiên tồn tư Thái Nhất hiện ở phương Đông, phóng trăm hào quang, chiếu rọi trời đất, tựa như trời trăng. Thiên Tôn đội mũ Bích Ngọc, khoác áo thuý vũ, tay phải cầm cành Không Thanh Vũ, tay trái nâng bảo bình lưu ly Bích Hà. Kim dung ngọc tướng, mắt tuệ từ bi, ngồi trên tòa sen vàng do cửu sắc cửu đầu sư tử nâng lấy, dưới tòa lại có hai đóa sen nhỏ nâng chân. Trong miệng mỗi con sư tử đều phun ra lửa, bao quanh thân Ngài. Thiên Tôn giữa ngọn lửa lại có chín màu sắc khác, tựa như mống trời, sau gáy có vòng hào quang. Bên trái hầu hạ có Đại Huệ Chân Nhân, bên phải có Cứu Khổ Chân Nhân, cùng 81 vị Thái Nhất, Thiên Đinh Lực Sĩ, Thanh Huyền Công Tào, Đồng Tử Ngọc Nữ, Thần Vương Kim Cang thị vệ. Từ đỉnh đầu Thiên Tôn phát ra bạch hào tuệ quang, ánh sáng phóng xa như ngàn vạn đao thương, uy nghiêm ngự tại cung Diệu Nghiêm ở cõi Thanh Hoa Trường Lạc, cưỡi bảo quang giáng lâm Huyền Đàn”.

Những sự quán tưởng về hình ảnh Thái Ất Thiên Tôn tiếp tục được kế thừa, duy trì trong nhiều khoa nghi và hình thành nên những bài tán thán Thiên Tôn đến ngày nay. Đơn cử, “Cứu Khổ Tán” được ngâm xướng trong “Thái Cực Linh Bảo Tế Luyện Khoa Nghi” có đoạn: “Kê thủ quy y, Cứu Khổ từ dung, Đông Hoa Diệu Nghiêm cung. Vận quảng từ tâm trọng, phát hồng thệ nguyện độ thoát phàm mông. Từ Tôn bảo quan, cửu phẩm liên hoa ngọc linh lung. Tầm thanh cứu khổ tam đồ bát nạn, nữu giới gia tỏa hóa tác vi trần. Dương chi thủ nội thời thời sái, nhất tích cam lộ tại hồn sảng hầu trung. Duy nguyện kim tiêu lai phó hội, độ u hồn thượng vãng vãng thượng thiên cung. Duy nguyện kim tiêu lai phó hội, độ u hồn thượng vãng vãng thượng thiên cung”.

Thanh Hoa bảo cáo: Chí tâm quy mệnh lễ. Thanh Hoa trường lạc giới. Đông Cực Diệu Nghiêm cung. Thất bảo phương khiên lâm. Cửu sắc liên hoa tọa. Vạn chân hoàn củng nội. Bách ức thụy quang trung. Ngọc Thanh Linh Bảo Tôn. Ứng hóa Huyền Nguyên Thuỷ. Hạo kiếp thùy từ tế. Đại thiên cam lộ môn. Diệu đạo chân thân. Tử kim thụy tướng. Tùy cơ phó cảm. Thệ nguyện vô biên. Đại thánh đại từ. Đại bi đại nguyện. Thập phương hóa hiệu. Phổ độ chúng sinh. Ức ức kiếp trung. Độ nhân vô lượng. Tầm thanh phó cảm. Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn. Thanh Huyền Cửu Dương Thượng Đế.

Cứu khổ bảo cáo: Chí tâm quy mệnh lễ. Thanh Hoa Thánh cảnh. Đông Cực thượng cung. Thập phương hóa hiệu độ quần sinh. Bách ức quang trung chiêm diệu tướng. Cửu sắc liên hoa. Tác từ hàng chi bỉ ngạn. Nhất chi dương liễu. Khai cam lộ chi pháp môn. Cửu thiên cửu vạn ức. Đồng danh đồng hiệu thánh. Tràng phan bảo cái. Tiếp dẫn đạo sư. Đại từ đại bi. Tầm thanh phó cảm, Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn.

Tiết trùng cửu cung nghinh chư thánh hóa thăng thiên phong thần
29/10/2025

Tiết trùng cửu cung nghinh chư thánh hóa thăng thiên phong thần

Mùng 9/9 cung nghinh ngày hóa nhật thăng thiên thượng giới của Đức Thiên Hậu Nương Nương Vô Cực Nguyên Quân Cung chúc th...
27/10/2025

Mùng 9/9 cung nghinh ngày hóa nhật thăng thiên thượng giới của Đức Thiên Hậu Nương Nương Vô Cực Nguyên Quân
Cung chúc thánh thọ vô cương nguyện kì nhân gian chúng sinh an lạc

Address

Viet Nam
Bac Ninh

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cửu Thiên Huyền Nữ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share