Đền Gia Thả xã Hoàng Vân

Đền Gia Thả xã Hoàng Vân (Quyết định số 2091/QĐ-UBND ngày 30 /12/2024 của Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang).

ĐỀN GIA THẢ
( phụng thờ : ĐỨC ÔNG TRẦN TRIỀU )
Năm 2024, Đền Gia Thả được Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang ra Quyết định xếp hạng Di tích Lịch sử văn hóa cấp tỉnh .

Lễ cất nóc hay còn gọi là lễ Thượng Lương, trong tiếng Hán, “Thượng” là Trên, “Lương” có nghĩa là Xà nhà. Là ngày gác th...
31/05/2026

Lễ cất nóc hay còn gọi là lễ Thượng Lương, trong tiếng Hán, “Thượng” là Trên, “Lương” có nghĩa là Xà nhà. Là ngày gác thanh giữa của nóc nhà với mái nhà dốc có kèo.

Trong các lễ vật khi cất nóc thì có cành vạn tuế úp dọc lên đòn nóc, hai phía của lá xòe ra hai bên như mái nhà. Sử dụng lá vạn tuế mục đích là cầu cho ngôi nhà trường tồn vĩnh cửu. Mảnh vải bên dưới là tấm bùa Khương Thái Công tại thử (bách vô cấm kỵ)

Ngày nay, lễ cất nóc chính là ngày đổ trần lợp mái; hoặc đổ bê tông sàn mái.

Tranh: Kỹ thuật người An Nam - Henri Oger
___
Nghi Lễ Việt Nam - một chuyên đề thuộc dự án Cổ Phong ✅, do Công ty TNHH Vilapa phát triển.

XEM LỤC CẢNH CAO LY ĐẦU HÌNH TUỔI VỢ CHỒNG xấu đẹp :>>>>> Thực tế trong rất nhiều cách xem tuổi vợ chồng kết hôn có thuậ...
22/05/2026

XEM LỤC CẢNH CAO LY ĐẦU HÌNH TUỔI VỢ CHỒNG xấu đẹp :

>>>>> Thực tế trong rất nhiều cách xem tuổi vợ chồng kết hôn có thuận và vượng hay không, theo chủ kiến của riêng tôi, cách xem Lục cảnh Cao ly Đầu hình có thể xem như phương pháp cho đáp án xác thực nhất, để kiểm chứng chúng ta chỉ cần chọn lấy một vài cặp hôn nhân ngoài đời thực mà mình quen biết như bạn bè, anh chị em. Sau đó kết hợp tuổi theo đúng cách và xác nhận kết quả rồi tự chiêm nghiệm giữa phần giải đoán với đời thực xem có chính xác hay không)

Để xem xét một cặp vợ chồng kết hôn có đặng tốt hay không, lấy THIÊN CAN tuổi của chồng (hàng ngang) ghép với ĐỊA CHI tuổi của vợ (hàng dọc) tra trong bảng xem kết quả trả về Lục cảnh nào để biết hung kiết, tốt xấu...

Ở phần này, tôi xin khái quát về Lục cảnh và ý nghĩa của từng trường hợp. Các bài tiếp theo sẽ đề cập tới các cách hoá giải.

1. Cao ly đầu hình là gì?

Cao ly đầu hình là một cách xem mức độ hợp tuổi cho vợ chồng, cặp tình duyên. Dựa trên nguyên tắc “Nam dụng Can, Nữ dụng Chi”, phương pháp này giúp tạo nên những cặp đôi kết hợp can chi. Song song với đó, giúp cặp đôi quyết định sự hòa thuận, xung khắc của trong cuộc sống vợ chồng sắp tới.

Cụ thể trong cao ly đầu hình, nam giới lấy can làm gốc và có 10 Thiên can bao gồm: Giáp, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Ất, Bính, Đinh, Nhâm, Quý. Còn nữ giới lấy Chi quy mệnh và có 12 Địa chi gồm: Tý, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Dậu, Tuất, Hợi. Từ các Thiên can và Địa chi kết hợp can với chi thành cặp sẽ hình thành nên một cảnh trí về cuộc sống vợ chồng.

Có 6 cảnh hung cát theo phương pháp cao ly đầu hình là Nhất Phú quý, Nhì Bần tiện, Tam Vinh hiển, Tứ Đạt đạo, Ngũ Biệt ly, Lục Tuyệt mạng.

2. Giải mã lục cảnh cao ly đầu hình tuổi vợ chồng

Xem cao ly đầu hình tuổi vợ chồng cần kết hợp Can nam với Chi nữ để tạo ra các xung khắc khác nhau. Trong cao ly đầu hình tuổi vợ chồng có các mức độ Cát, Bình và Hung, tương ứng có các lục cảnh là Nhất Phú quý, Nhì Bần tiện, Tam Vinh hiển, Tứ Đạt đạo, Ngũ Biệt ly, Lục Tuyệt mạng. Chi tiết ý nghĩa của lục cảnh được phân tích như sau:

2.1. Lục cảnh mang nghĩa Nhất phú quý là giàu có hay dư giả

Đây là cảnh trí cao nhất trong cuộc sống hôn nhân. Cuộc sống vợ chồng có số Nhất phú quý sẽ được hưởng phúc từ tổ tiên nên vô cùng hạnh phúc, gặp nhiều may mắn. Trong trường hợp vợ chồng hưởng phúc từ tổ tiên có nghĩa là cuộc sống gia đình êm ấm, khá giả. Còn không, nếu vợ chồng không có phúc của tổ tiên, số mạng không may mắn thì cuộc sống gia đình cũng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, sự nghiệp của vợ chồng vẫn thuận lợi, ổn định.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp số Nhứt Phú Quý và số mạng cá nhân của vợ chồng đặng tốt, lại đặng hưởng phước đức của cha mẹ đôi bên, đặng 3 điểm cộng lại tất nhiên sẽ tạo nên một sự nghiệp lớn lao, sống trong cảnh phù hoa hạnh phúc.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp cảnh Nhứt Phú Quý và thêm mạng cá nhân của vợ chồng đặng tốt, nhưng không đặng hưởng phước đức của cha mẹ đôi bên, thì cảnh vợ chồng chỉ tốt ở 2 điểm mà thôi, tất nhiên cũng tạo nên sự nghiệp khá giả, sống trong cảnh ấm no.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp số Nhứt Phú Quý mà số mạng cá nhân của vợ chồng không tốt và không đặng hưởng phước đức của cha mẹ đôi bên, thì chỉ có phần hơi để làm ăn mà thôi.

2.2. Lục cảnh mang nghĩa Nhì bần tiện là nghèo hèn hay thiếu thốn

Nhì bần tiện là cảnh trí chỉ cuộc sống vợ hôn nhân thiếu thốn và nghèo hèn. Nếu cặp vợ chồng rơi vào Nhì bần tiện thì số mạng của một trong hai không tốt và không được hưởng phúc từ cha mẹ. Cuộc sống, sự nghiệp không phát triển, chật vật và thiếu thốn. Tuy nhiên, nếu trong hôn nhân cả hai thuận vợ thuận chồng và cố gắng bảo ban nhau làm ăn thì vẫn có chỗ nương tựa, cuộc sống vẫn tốt đẹp.

Ngoài phương pháp này, thì phổ biến trong phong thủy lẫn dân gian hơn cả vẫn là xem tuổi vợ chồng theo cung mệnh.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp số Nhì Bần Tiện và số mạng cá nhân của vợ chồng không tốt, lại không hưởng phước đức của cha mẹ đôi bên, có nhiều điểm xấu cộng lại, tất nhiên sẽ sống trong cảnh khốn khổ, vất vả không nơi nương tựa, thiếu ăn thiếu mặc.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp cảnh Nhì Bần Tiện và số mạng cá nhân của vợ chồng không đặng tốt, nhưng đặng hưởng phước đức của cha mẹ đôi bên, thì cảnh vợ chồng chỉ tốt đặng 1 phần mà thôi, tất nhiên sự sống cũng tạo gọi đủ no và tạo đặng nơi ăn chốn ở.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp số Nhì Bần Tiện mà số mạng cá nhân của vợ chồng không tốt và hưởng thêm phước đức của cha mẹ đôi bên, thì cảnh vợ chồng chỉ tốt đặng hai phần mà thôi, tất nhiên ngày hậu cũng tạo nên nhà cửa sống trong cảnh bình đẳng ấm no.

2.3. Lục cảnh mang nghĩa Tam vĩnh hiển là quyền tước hay chức phận

Tam vĩnh hiển là cảnh trí tốt trong cao ly đầu hình tuổi vợ chồng. Cuộc sống vợ chồng trong số này sẽ quyền uy, danh giá. Vợ chồng ở số này sẽ được hưởng phúc từ ông bà tổ tiên. Song song là số mệnh cả hai đều may mắn. Trong sự nghiệp và cuộc sống là những người có quyền cao đức trọng, nhiều người kính nể. Nếu cảnh trí vợ chồng ở cao ly đầu hình tuổi vợ chồng số Tam vĩnh hiển nhưng số mệnh một trong hai không tốt, thì không được hưởng phúc từ tổ tiên. Do đó, vợ chồng chỉ giữ chức trung bình, khó đạt đến đỉnh cao của danh vọng trong cuộc sống.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp số Tam Vinh Hiển và số mạng cá nhân của vợ chồng đặng tốt, lại đặng hưởng thêm phước đức của cha mẹ đôi bên, có nhiều điểm tốt cộng lại, tất nhiên sẽ có quyền tước cao sang, đặng có danh giá bốn phương, nhiều người kính mến.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp cảnh Tam Vinh Hiển và số mạng cá nhân của vợ chồng đặng tốt, nhưng không đặng hưởng phước đức của cha mẹ đôi bên, thì cảnh vợ chồng chỉ tốt đặng có 2 phần mà thôi, tất nhiên đặng có danh giá chức tước tầm thường, cũng có địa vị với xã hội.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp số Tam Vinh Hiển mà số mạng cá nhân của vợ chồng không tốt và không đặng hưởng thêm phước đức của cha mẹ đôi bên, thì chỉ đặng tốt về hiệp hôn mà thôi, tất nhiên có ảnh hưởng về danh giá hoặc có chút ít tên tuổi với hàng xóm.

2.4. Lục cảnh mang nghĩa Tứ Đại đạo là thông đạo hay dể làm ăn

Tứ Đại đạo là cảnh trí vợ chồng trong sự nghiệp buôn bán thuận lợi. Gia đình có nhiều điểm lợi khi kinh doanh. Sự nghiệp thuận buồm xuôi gió, công việc làm ăn tấn phát tấn lộc. Khi thuộc cao ly đầu hình tuổi vợ chồng số Tứ Đạt đạo, cho dù không được hưởng phúc từ tổ tiên, nhưng số mạng tốt thì cuộc sống vẫn đầy đủ, hòa thuận, ấm no.

Trường hợp không được hưởng phúc từ tổ tiên và số mạng không tốt, vợ chồng thuộc Tứ Đại đạo chỉ thuận về hôn nhân lứa đôi. Còn sự nghiệp vẫn phải nương nhờ vào người khác.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp số Tứ Đạt Đạo và số mạng cá nhân của vợ chồng đặng tốt, lại đặng hưởng thêm phước đức của cha mẹ đôi bên, có nhiều điểm hạp cộng lại, tất nhiên vợ chồng sẽ tạo nên sự nghiệp khá giả, sống trong cảnh thuận lợi dễ làm ăn.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp cảnh Tứ Đạt Đạo và thêm số mạng cá nhân của vợ chồng đặng tốt, nhưng không đặng hưởng thêm phước đức của cha mẹ đôi bên, thì cảnh vợ chồng chỉ hạp đặng hai phần mà thôi, tất nhiên cũng đặng sự ấm no và tạo nên gia đình êm ấm.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp số Tứ Đạt Đạo mà số mạng cá nhân của vợ chồng không tốt và không hưởng thêm phước đức của cha mẹ đôi bên, thì chỉ đặng tốt về hiệp hôn mà thôi, tất nhiên cảnh vợ chồng ấy cũng tạm gọi là đủ no, nơi ăn chốn ở có phần chật vật.

2.5. Lục cảnh mang nghĩa Ngũ biệt ly là lấy nhau chịu cảnh xa cách không được ở gần.

Ngũ biệt ly là cảnh trí mang ý nghĩa cuộc sống vợ chồng có thể sẽ bị lìa xa. Nếu số mệnh vợ chồng không tốt, và không được hưởng phúc từ tổ tiên thì cuộc sống gia đình sẽ gặp nhiều sóng gió. Thậm chí có thể chia xa, hoặc chia xa vĩnh viễn. Còn nếu số mệnh của một trong hai không tốt nhưng được hưởng phúc từ tổ tiên thì cuộc sống vợ chồng cũng ít cơ hội chia lìa hơn. Nếu số mệnh của cả hai vợ chồng đều tốt và đều được hưởng phúc từ tổ tiên thì hai người sẽ chỉ tạm chia xa rồi lại tái hợp. Tuy nhiên, gia đình vẫn diễn ra lục đục, gia đình không thực sự yên ấm.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp số Ngũ Biệt Ly và số mạng cá nhân của vợ chồng không tốt, làm ăn không đặng hưởng phúc đức của cha mẹ đôi bên, có nhiều điểm xấu cộng lại, tất nhiên sớm khóc hận, duyên kiếp bẽ bàng, kẻ mất người còn hoặc xa nhau vĩnh viễn, mặc dầu yêu thương cho thế mấy cũng không tránh khỏi.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp cảnh Ngũ Biệt Ly và số mạng cá nhân của vợ chồng không tốt, nhưng đặng hưởng phước đức của cha mẹ đôi bên, thì cảnh vợ chồng chỉ tốt đặng một phần mà thôi, tất nhiên từ từ sanh điều gây cấn, trái ngang rồi xa nhau cũng không thể ở đặng.

– Vợ chồng ở với nhau số gặp số Ngũ Biệt Ly nhưng số mạng cá nhân của vợ chồng đặng tốt và đặng hưởng thêm phước đức của cha mẹ đôi bên, thì cảnh vợ chồng chỉ tốt đặng hai phần mà thôi, tất nhiên cũng tạm ở đặng một thời gian kéo dài nhưng thường bị ốm đau hoặc mất sự ấm êm trong gia đạo.

2.6. Lục cảnh mang nghĩa Lục tuyệt mạng là lấy nhau rơi vào cảnh xa cách do người sống người chết.

Đây là cảnh trí cuối cùng trong cao ly đầu hình tuổi vợ chồng. Lục tuyệt mạng với Ngũ biệt ly là hai cảnh trí không nên kết duyên vợ chồng. Bởi cả hai đều mang ý nghĩa xung khắc. Đặc biệt là Lục tuyệt mạng còn có ý nghĩa tệ hơn là sẽ bị lìa thác.

Vợ chồng khi thuộc cao ly đầu hình này thì không nên kết duyên để tránh những điềm xấu vì cuộc sống khó hạnh phúc, ấm êm. Trong sự nghiệp thì có khả năng thất bát, sức khỏe thì phải có người ốm đau bệnh tật.

Thực ra có thể gộp chung 2 cảnh cao nhất là Ngũ Ly Biệt và Lục Tuyệt Mệnh vì rơi vào cảnh nào cũng không nên vì khó vẹn toàn, lâu dài. Tính chất chỉ khác nhau qua câu thơ:

Ngũ Biệt lìa sống với nhau
Lục Tuyệt lìa thác sầu đau một mình.

— Nghĩa là:
Sống phân ly và Chết phân ly
_____________________________
CHI TIẾT KẾT HỢP
[ CAN tuổi Chồng • CHI tuổi Vợ ]
10 Thiên Can nhóm thành 5 cặp Tương hợp:

🔴 GIÁP hợp KỶ - 4️⃣•9️⃣ € Kim
🔺 Địa tứ sinh thiên cửu thành chi

🔴 ẤT hợp CANH - 5️⃣•0️⃣ € Thổ
🔻 Thiên ngũ sinh địa thậpthành chi

🔴 BÍNH hợp TÂN - 1️⃣•6️⃣ € Thủy
🔺 Thiên nhất sinh địa lục thành chi

🔴 ĐINH hợp NHÂM - 2️⃣•7️⃣ € Hoả
🔻 Địa nhị sinh thiẻn thất thành chi

🔴 MẬU hợp QUÝ - 3️⃣•8️⃣ € Mộc
🔺Thiên tam sinh địa bát thành chi

🟠 Nam ẤT, CANH + Nữ:
☑️ Tý–Ngọ ➡️ Nhì Bần Tiện
☑️ Sửu–Mùi ➡️ Nhất Phú Quý
☑️ Dần–Thân ➡️ Ngũ Ly Biệt
☑️ Mão–Dậu ➡️ Tứ Đạt Đạo
☑️ Thìn–Tuất ➡️ Tam Hiển Vinh
☑️ Tỵ–Hợi ➡️ Nhì Bần Tiện

🔴 Nam ĐINH, NHÂM + Nữ:
☑️ Tý–Ngọ ➡️ Ngũ Ly Biệt
☑️ Sửu–Mùi ➡️ Tứ Đạt Đạo
☑️ Dần–Thân ➡️ Tam Hiển Vinh
☑️ Mão–Dậu ➡️ Nhì Bần Tiện
☑️ Thìn–Tuất ➡️ Nhất Phú Quý
☑️ Tỵ–Hợi ➡️ Ngũ Ly Biệt

🟤 Nam MẬU, QUÝ + Nữ
☑️ Tý–Ngọ ➡️ Tứ Đạt Đạo
☑️ Sửu–Mùi ➡️ Tam Hiển Vinh
☑️ Dần–Thân ➡️ Nhì Bần Tiện
☑️ Mão–Dậu ➡️ Nhất Phú Quý
☑️ Thìn–Tuất ➡️ Ngũ Ly Biệt
☑️ Tỵ–Hợi ➡️ Tứ Đạt Đạo

🟢 Nam GIÁP, KỶ + Nữ
☑️ Tý–Ngọ ➡️ Tam Hiển Vinh
☑️ Sửu–Mùi ➡️ Nhì Bần Tiện
☑️ Dần–Thân ➡️ Nhất Phú Quý
☑️ Mão–Dậu ➡️ Ngũ Ly Biệt
☑️ Thìn–Tuất ➡️ Tứ Đạt Đạo
☑️ Tỵ–Hợi ➡️ Tam Hiển Vinh

🔴 Nam BÍNH, TÂN + Nữ
☑️ Tý–Ngọ ➡️ Nhất Phú Quý
☑️ Sửu–Mùi ➡️ Ngũ Ly Biệt
☑️ Dần–Thân ➡️ Tứ Đạt Đạo
☑️ Mão–Dậu ➡️ Tam Hiển Vinh
☑️ Thìn–Tuất ➡️ Nhì Bần Tiện
☑️ Tỵ–Hợi ➡️ Nhất Phú Quý

🔄 Nếu kết quả trả về thuộc các số:
— Nhất Phú Quý
— Tam Hiển Vinh
— Tứ Đạt Đạo
— >>> rất tốt, còn lại thì cần hết sức cân nhắc, nhưng thường là thất bại hoặc không lâu dài.

P/s lh Cậu Minh Gia Thả nếu như không rõ hoặc không hiểu chỗ nào quý vị nhé .

14/05/2026

Bản Văn : Chúa Bà Gia Thả

* Tiên chúa bản đền dâng văn
Anh linh trắc giáng ngự đồng giúp dân
* Đệ tử con dâng bài văn tấu
Cung thỉnh mời chúa thượng Sơn Trang

Xá........:

1 .. Rừng thiêng Gia Thả ra vào
Sơn trang tên cổ nay là Sơn Giao
2.. Vàng trong ngọc sáng toà chương
Quang minh soi sắc nguyệt gương lầu lầu
Khắp đâu đâu kêu cầu tất ứng
Chấn Sơn Giao bản cảnh anh linh
3... Đêm thanh biến tướng hiện hình
Biến ra người mán ,người kinh, người nùng
Thường dạo cảnh non bồng bích thuỷ
Trở ra về Tuần Quán Đông Cuông
4.... Quyền cai các của các ngàn
Sơn Trang các động xa gần làm tôi
Tiếng anh linh vang lừng thế giới
Sắc tặng phong Lê Mai đại vương
5... Ai mà thánh kính nhất tâm
Đến kêu cửa chúa 10 phân vẹn 10
Chúa thương ai tiếp lộc ban tài
Buôn may bán đắt lộc tài đề đa
6...... Còn ai nửa tín chín ngờ
Ai mà không biết càng cơ càng đày
Phép chúa bà anh linh hiển hoá
Sai đôi nàng đi sát lá han
7..... Đêm ngày ngứa ngáy lân mân
Làm cho tan tác xác xơ lụi tàn
Cửa từ bi chúa bà rộng mở
Biết lỗi lầm mà tới kêu van
8.... Thời cho lại được vuông tròn
Cân đong tội phúc đôi đường thẳng ngay
9.... Hôm nay thiết lập đàn duyên
Thỉnh bà chúa thượng độ dầy cứu dân
Lòng thành kính hương hoa tịnh thuỷ
Tấu sớ văn tách bạch từng câu
10.... Dâng văn đàn hát nguyện cầu
Sở cầu như ý sở cầu tòng tâm............

Bản 2 ( có thể dùng hát khi Ngự hoặc hát tiếp tuỳ )

Bản 2 Văn Chúa Thượng Gia Thả

Dâng văn tiên chúa trên ngàn
Rừng thiêng gia thả sơn giao nhiệm màu

Khắp đâu đâu nức danh tiên chúa
Từ cổ triều quốc sử còn ghi
Anh linh trắc giáng tứ bề
Nhớ xưa tích cũ lưu truyền sử xanh
Chúa bà giáng thế đản sinh
Nức danh núi ngọc tạo hình Phong quang Cửa rừng gia thả danh vang
Gặp phen binh biến bảo dân tức thì
Công hộ quốc sử còn ghi nhớ
Thuở trần triều ứng mộng thần cơ
Chỉ vua cứu giúp việc đời
Muôn dân tôn phụng lập ngay miếu bà Non thiêng gia thả vào ra
Khi chơi núi ngọc lúc đà núi ia
D**g chơi rừng cấm lại về
Đền vua thủy tề chúa mới dạo qua
Khi sang đền chúa bắc hà
Chơi thôi lại chở về tòa sơn giao
Nước non lúc lửa binh đao
Bắc phương xâm phạm non cao một thời
Phù lê dẹp giặc giúp đời
Sơn trang các cửa nơi nơi hãi hùng
Phép thần thông biến ra vạn trạng
Ngọn đuốc thần soi sáng sơn tinh
Giúp vua dẹp giặc nhà minh
Sắc phong thượng đẳng anh linh muôn đời
Tháng 9 mở tiệc vui chơi
Mừng công tiên chúa đời đời khói hương
Tháng 2 đản nhật phi phương
Thuyền thoi lướt sóng sông thương đua tài
Ân đức sáng oai thần lồng lộng
Nghĩa phù đời bể rộng ngàn cao
Bản dân phụng sự công lao ai tày
Chốn nơi đây nhờ ơn tiên chúa
Phù dân lành mới được ấm no
Có tâm ắt chúa chỉ cho
Bình an cát khánh căn do nơi nào
Ăn hiền ở đức thanh cao
Tu tâm làm thiện chúa nào không thương
Còn những kẻ tai ương làm bậy
Chúa ra tay mới biết phép tiên
Biết ra không sám hối liền
Chúa cho điên đảo đảo điên
nào bằng Tôn thờ dốc một lòng thành
tiểu con khấn nguyện nước trong
cơi giầu Xin chúa một được sống lâu
Nén hương bát nước cơi giầu
làm tôi Hai xin chúa được thảnh thơi
Tiền dòng bạc chảy cho tiểu tôi phụng thờ Ba nguyện duyên số cập bờ Loan ca phụng hợp phụng thờ sớm khuya Bốn nguyện quốc thái đề nghi Chúng nhân an lạc phụng nghinh chúa bà Nguyện thứ 5khang ninh cát khánh Xin chúa thương lộc tựa vân lai Muôn dân phụng sự đội ơn Thánh bà lưu phúc khang ninh thọ trường

CHỮ NHẪN GIỮA ĐỜIĐường đời muôn nỗi nẻo quanh,Giữ cho tâm trí thiên thanh nhẹ nhàng.Chữ nhẫn tuy có bẽ bàng,Lùi đi một b...
30/04/2026

CHỮ NHẪN GIỮA ĐỜI
Đường đời muôn nỗi nẻo quanh,
Giữ cho tâm trí thiên thanh nhẹ nhàng.
Chữ nhẫn tuy có bẽ bàng,
Lùi đi một bước mênh mang đất trời.
Nhẫn nhục đâu phải cúi lùi
Mà là nhường nhịn không lời thị phi.
Người sân ta chẳng oán gì,
Hơn thua được mất ích chi não phiền.
Giữ lòng thanh tịnh an nhiên,
Bão giông ngoài ngõ vẫn yên cõi lòng.
Nhẫn qua bao nỗi cay nồng,
Ngày mai trời tạnh, nắng hồng nở hoa.
Nhẫn nhục giữ trọn nếp nhà,
Anh em hòa thuận, mẹ cha vui vầy.
Dẫu cho sóng gió bủa vây,
Tình thâm cốt nhục đong đầy yêu thương.
Nhẫn là lẽ sống bình thường,
Làm người vững bước trên đường chông g*i.
Chẳng màng được mất, đúng sai,
Bao dung tha thứ tháng ngày bình yên.
Trần gian dẫu lắm ưu phiền,
Nhẫn nhục là phép cõi tiên độ mình.
Nhẹ nhàng đón ánh bình minh,
Tâm không xáo động, ân tình ngát hương.
St

TRÍ TUỆ CÀNG SÂU, NGÔN TỪ CÀNG ÍT.Đa số thế gian dùng sự ồn ào để khỏa lấp sự trống rỗng, dùng lời nói để che đậy nỗi sợ...
28/04/2026

TRÍ TUỆ CÀNG SÂU, NGÔN TỪ CÀNG ÍT.

Đa số thế gian dùng sự ồn ào để khỏa lấp sự trống rỗng, dùng lời nói để che đậy nỗi sợ bị lãng quên. Họ nóng vội bày tỏ, nóng vội giải thích và nóng vội phô trương những mối kết giao hời hợt. Nhưng họ không biết rằng, trong một thế giới mà ai cũng cố hét lên để được chú ý, sự im lặng mới chính là thứ quyền lực đáng sợ nhất.

Sự im lặng của người có trí huệ mang sức nặng của một ngọn núi. Khi bạn im lặng:

Bạn chấm dứt việc vay mượn sự tồn tại: Bạn không còn cần miệng đời công nhận, không còn bị cuốn vào vòng xoáy thị phi để chứng minh mình đúng. Bạn đứng vững trong "đế chế" của chính mình mà không cần bất kỳ tràng pháo tay nào từ khán giả.

Bạn hóa giải sự kiêu ngạo và khinh thường: Trước những kẻ dùng sự kiêu ngạo để hạ thấp người khác, sự im lặng của bạn chính là một tấm gương phản chiếu sự thảm hại của họ. Không phản kháng chính là cách phản kháng cao thượng nhất.

Bạn tích lũy nội tại: Giống như một dòng sông, mặt nước càng tĩnh lặng thì lòng sông càng sâu. Sự im lặng giúp bạn quan sát được sự vận hành của thế cục mà những kẻ đang mải mê tranh cãi không bao giờ thấy được.

Kẻ yếu dùng môi lưỡi để giành phần thắng nhất thời, người mạnh dùng sự điềm tĩnh để chiến thắng cả cuộc chơi. Đừng sợ hãi khi thấy mình đơn độc trong bóng tối của sự tĩnh lặng. Hãy sợ nếu khu vườn tâm trí của bạn quá ồn ào đến mức không còn nghe thấy tiếng lòng của chính mình.

Vị thế thực sự không nằm ở việc bạn nói to đến mức nào, mà nằm ở chỗ khi bạn im lặng, cả thế giới phải lắng nghe sức nặng từ cốt cách của bạn.
St

Tại sao trước khi chuyển vận, người thiện lương lại thường phải trải qua thử thách?Với con mắt nhân sinh, chúng ta sẽ th...
24/04/2026

Tại sao trước khi chuyển vận, người thiện lương lại thường phải trải qua thử thách?

Với con mắt nhân sinh, chúng ta sẽ thấy rằng thử thách không phải là sự phủ nhận của phúc báo, mà chính là một phần tất yếu của hành trình chuyển vận.
Trong dòng chảy của cuộc đời, có một nghịch lý khiến bao người từng tin vào điều thiện lành dần trở nên hoài nghi: Tại sao người lương thiện lại thường phải chịu nhiều gian nan? Tại sao họ không được đền đáp ngay lập tức, mà phải đi qua những đoạn đường đầy chông g*i, thậm chí đau đớn và mất mát?
Nếu phúc báo là có thật, lẽ ra người tốt phải được thuận buồm xuôi gió. Nhưng thực tế cuộc sống lại không đơn giản như một phép tính cộng trừ. Và chính ở khoảng cách giữa niềm tin và hiện thực ấy, nhiều người đã đánh mất lòng tin vào điều thiện.
Thiện lương không phải là tấm vé miễn trừ khó khăn
Người thiện lương vẫn sống trong cùng một thế gian với mọi quy luật vô thường: sinh - lão - bệnh - tử, được - mất - hợp - tan. Thiện lương không phải là lớp giáp bảo vệ họ khỏi mọi biến cố, mà là ngọn đèn soi đường giúp họ đi qua biến cố ấy một cách khác biệt.
Điều quan trọng không nằm ở việc họ có gặp thử thách hay không, mà nằm ở thái độ và phẩm chất họ thể hiện khi đối diện với thử thách. Người tốt không được miễn trừ khổ đau, nhưng họ có cơ hội biến khổ đau thành sức mạnh.
Những thử thách thường là “món nợ cũ” cần hoàn trả
Theo logic nhân quả sâu xa, không phải mọi khó khăn hiện tại đều xuất phát từ hành vi hôm nay. Một phần trong đó có thể là dư âm của những lựa chọn trong quá khứ, những “món nợ” mà linh hồn cần thanh toán để hoàn tất vòng tuần hoàn. Khi một người sống thiện lương nhưng vẫn gặp gian nan, thực ra hai dòng chảy đang song hành:
Một dòng là trả nợ cũ, thanh lọc những nghiệp chướng còn sót lại.
Dòng kia là tích đức mới, gieo những nhân lành cho tương lai.
Họ vừa trả, vừa tích. Vừa buông, vừa xây. Đây không phải là mâu thuẫn, mà là sự tinh tế của quy luật nhân quả.
Thử thách là lò rèn định hình phẩm chất
Thiện lương nếu không được tôi luyện qua lửa thử thách, rất dễ chỉ dừng lại ở mức cảm xúc hoặc thói quen. Chỉ khi đi qua mất mát, người ta mới hiểu giá trị của những gì mình đang có. Chỉ khi bị tổn thương, lòng trắc ẩn mới trở nên sâu sắc và chân thực. Chỉ khi bị đẩy đến giới hạn, con người mới biết được sức mạnh thực sự của chính mình.
Thử thách không đến để đánh gục người thiện lương, mà đến để định hình họ. Nó biến lòng tốt từ một ý niệm thành bản lĩnh, từ một lựa chọn thành phẩm chất nội tại vững chãi. Qua nghịch cảnh, thiện lương không còn là điều dễ dãi, mà trở thành một dạng sức mạnh thầm lặng nhưng kiên cường.
“Chậm” không đồng nghĩa với “không có”
Trong thế giới vật chất, chúng ta quen với phản hồi tức thì. Nhưng với những quy luật sâu xa của đời sống, thời gian là yếu tố không thể thiếu. Một hạt giống phải nằm trong bóng tối và chịu sức ép của đất mới có thể nảy mầm. Một cây cổ thụ không thể lớn chỉ sau một đêm.
Người thiện lương đôi khi chưa thấy quả báo không phải vì không có gì đang diễn ra, mà vì họ đang ở giai đoạn tích lũy thầm lặng. Những gì họ gieo đang âm thầm đâm rễ sâu. Những lớp cản cuối cùng đang dần được gỡ bỏ. Và con đường họ đi, dù gian nan, lại chính là con đường ngắn nhất dẫn đến một sự chuyển biến thực sự vững chắc.
Thử thách còn là quá trình “lọc” cần thiết
Trước khi bước vào một chương mới tốt đẹp hơn, cuộc đời thường an bài một kỳ lọc nghiêm khắc: lọc mối quan hệ không còn phù hợp, lọc những suy nghĩ tiêu cực, lọc đi những phần yếu đuối còn sót lại trong tâm hồn.
Quá trình này đau đớn. Nó có thể khiến con người cảm thấy cô đơn, mất mát, thậm chí hoài nghi chính bản thân. Nhưng chính sự lọc này mới giúp họ trở nên trong suốt, rõ ràng và vững vàng hơn. Chỉ những ai đi qua được lớp lọc ấy mới đủ tư cách đón nhận những điều tốt đẹp thực sự bền vững.
Chuyển vận thực sự bắt nguồn từ bên trong
Điều cốt lõi nhất là: chuyển vận không phải là một sự may mắn ngẫu nhiên từ trên rơi xuống. Nó là kết quả tự nhiên khi sự thay đổi bên trong đã đủ sâu và đủ chín.
Khi một người thiện lương vẫn giữ được thiện niệm dù đang ở đáy sâu của nghịch cảnh, khi họ không oán trách, không so đo, không đánh mất chính mình - lúc ấy, họ đã thực sự chuyển mình. Và từ sự chuyển biến nội tại ấy, ngoại cảnh bắt đầu chuyển theo.
Kết
Người thiện lương không phải là người được miễn trừ thử thách. Họ là những người không đánh mất bản thân giữa thử thách. Họ có thể đi chậm hơn, có thể phải đi qua những đoạn đường gồ ghề hơn người khác. Nhưng khi chuyển vận thực sự đến, nó thường không ồn ào, không chói lọi, mà sâu lắng, vững chãi và bền lâu.
Và có lẽ, câu hỏi đáng suy ngẫm nhất không phải là: “Bao giờ tôi mới được đền đáp?”
Mà là:
“Trong những lúc khó khăn nhất, tôi có vẫn là chính mình, một con người thiện lương?”
Vì cuối cùng, phúc báo lớn nhất không phải là những gì ta nhận được, mà là con người ta trở thành sau khi đi qua lửa thử của cuộc đời.
St

TRUNG QUỐC ĐÃ TỪNG XÂM LƯỢC VIỆT NAM 15 LẦN* Nhắc cho bà con nhớ là Tàu đã có 15 lần (chưa kể những lần xâm lấn nhỏ) xua...
22/04/2026

TRUNG QUỐC ĐÃ TỪNG XÂM LƯỢC VIỆT NAM 15 LẦN

* Nhắc cho bà con nhớ là Tàu đã có 15 lần (chưa kể những lần xâm lấn nhỏ) xua quân xâm lược Việt Nam theo sách sử

1. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ ÂN
Theo sách vở Trung Hoa, năm 1218 TCN, Ân Cao Tôn đã đánh Quỷ Phương, vùng Đồng Đình. Ân Cao Tôn đóng quân tại đất Kinh, phía tả ngạn sông Dương Tử. Sau 3 năm, Ân Cao Tôn ‘không thắng’. (Nhà Ân còn được gọi là Nhà Hậu Thương.
Theo Truyền kỳ Phù Đổng của Việt Lạc, Ân Cao Tôn đã xâm lấn nước ta ba năm và đã bị đánh bại . Như thế, theo Truyền kỳ Phù Đổng, cách đây 3200 năm, dân Việt Lạc đã là một quốc gia vững mạnh. Nước nầy đã có tổ chức chặt chẽ, có vua quan, có làng xã, có cúng tế, có lúa gạo, có vải áo, có lũy tre… đã đúc được ngựa sắt, roi sắt, đã có tinh thần dân tộc cao độ… và, theo sách vở Trung Hoa, đã chiến thắng giặc Ân vào thời kỳ hùng mạnh nhất của chúng. Vào thời kỳ nầy, tộc Hoa chưa thành hình. Phải hơn 100 năm sau, bộ lạc Chu mới gom góp các bộ lạc du mục khác ở vùng Thiểm Tây, và thành lập Nhà Chụ Từ đó, tộc Hoa mới thành hình và phát triển

2. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ TẦN
Năm 214 TCN, Tần Thủy Hoàng, vị vua đầu tiên của Trung Hoa, sai tướng Đồ Thư kéo 50 vạn quân xâm lăng vùng đất Việt Lạc. Nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông. Đây là đoàn quân tinh nhuệ vừa giúp Tần Thủy Hoàng đánh chiếm sáu nước và thành lập nước Trung Hoạ Nhưng mấy năm sau, Đồ Thư đã bị quân Việt đánh bại, quân giặc chết quá nửa, Đồ Thư bị giết.
Theo cách hành quân của Trung Hoa, mỗi người lính đem theo một phu phục dịch. Số người vận chuyển lương thực cũng không được kể là lính. Vì vậy, số người Trung Hoa xâm nhập có thể nhiều gấp 3 lần con số quân lính được kể tới, dầu là con số trung thực.

3. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ TÂY HÁN
Năm 181 TCN, triều Hán sai Long Lân hầu Chu Táo kéo quân sang xâm phạm Lĩnh Nam, đánh Nam Việt. Theo sách vở Trung Hoa, quân Hán không chịu được thủy thổ phương Nam, nhiều người phải bịnh tật, bởi vậy phải thua chạy về bắc. Sau đó, triều Hán xét việc Nam chinh không lợi, nên không đánh nữa

4. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ ĐÔNG HÁN
Năm 30 SCN, Hán Quang Vũ áp đặt chế độ trực trị trên vùng đất Việt Lạc. Do đó, toàn dân Việt vùng lên kháng chiến, và bầu bà Trưng Trắc là Thủ Lãnh. Sau 10 năm, Dân ta đã đánh đuổi toàn bộ quân Tàu ra khỏi vùng đất Việt Lạc, chiếm lại 65 thành.
Thời gian qua, sách sử Trung Hoa đã giảm thiểu vùng đất và sức mạnh của dân Việt thời đó. Ngày nay, đã có đủ chứng cứ xác định vị trí, tình hình và vùng đất bao la của việc quân dân Việt đánh chiếm lại 65 thành, và đánh bại đại quân hùng hậu của hoàng đế Quang Vũ nhà Hán. Thời đó, vùng đất Việt Lạc nay là Hồ Nam, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, và một phần Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây, Phúc Kiến của Trung Hoa, xuống tới Hải Vân… Và Hán Quang Vũ đã phải vận dụng toàn thể binh lực của ‘thiên triều’.

5. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ LƯƠNG
Năm 541, Lý Bôn đánh đuổi quân trú đóng Trung Hoa, giành độc lập. Năm 544 ông xưng là Nam Việt Đế, niên hiệu Thiên Đức, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Lập ra Nhà Tiền Lý.
Đầu năm 545, nhà Lương sai Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem 8 vạn quân sang xâm lược nước Vạn Xuân. Chính quyền độc lập lúc này còn non trẻ, lực lượng quốc phòng chưa được phát triển và củng cố. Lý Nam Đế qua kinh nghiệm hai lần đánh thắng giặc xâm lược, vẫn chủ trương chỉ dựa vào quân chủ lực với các thành lũy cố định, đánh dàn trận đối diện nhau nên không địch nổi quân địch đông và mạnh. Quân Việt bị thua rút về cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Quân Lương do Trần Bá Tiên chỉ huy tiến đánh chiếm được thành Tô Lịch. Tháng 10/546, Lý Nam Đế kéo quân ra vùng hồ Điển Triệt (đầm Vạc, Vĩnh Yên). Một đêm nước sông lên to, chảy mạnh vào hồ, Trần Bá Tiên thừa cơ tiến đánh bất ngờ. Quân Vạn Xuân không kịp phòng bị nên tan vỡ. Các cánh quân khác cũng không chống được giặc phải rút vào hoạt ở vùng núi quận Cửu Chân. Cuộc kháng chiến của Lý Nam Đế thất bạị Ông giao binh quyền cho Triệu Quang Phục rồi bị ốm chết.
Năm 550, nhân bên nhà Lương có biến loạn, quân Lương phải rút đại quân về nước, Triệu Việt Vương tổ chức phản công lớn, quét sạch quân giặc, giải phóng hoàn toàn đất nước. Nước Vạn Xuân giữ được độc lập trên nửa thế kỷ nữa

6. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ NAM HÁN
Từ năm 906, Khúc Thừa Dụ đã giành quyền tự trị khỏi tay người Trung Hoạ Truyền được 3 đời
Năm 938, vua Trung Hoa Nam Hán sai thái tử là Hoằng Tháo kéo quân xâm lấn. Với trận cọc gỗ bọc sắt trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền, đã đại thắng quân Hán, giết chết thái tử Hoằng Tháọ Hoàng đế Nam Hán là Lưu Cung cũng kéo quân tiếp ứng theo đường bộ. Nghe tin, ông khóc và rút về.

7. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ TỐNG (lần 1)
Năm 981, vua Tống sai tướng Hầu nhân Bảo kéo quân xâm lấn, theo hai đường bộ và thủỵ Vì vua nước ta là Đinh Tuệ mới 8 tuổi, nên quân sĩ tôn tướng Lê Hoàn lên ngôi, tức là Lê Đại Hành. Với một trận Chi Lăng, quân ta phá tan đoàn quân Tàu, giết Hầu nhân Bảọ Đoàn quân giặc theo đường biển vội vàng rút lui

8. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ TỐNG (lần 2)
Năm 1072, vua Lý nhân Tôn lên ngôị Vì vua mới 7 tuổi, nên việc quân đều ở trong tay danh tướng Lý Thường Kiệt.
Năm 1075, Lý thường Kiệt và Tôn Đản kéo 10 vạn quân tái chiếm vùng châu Khâm, châu Liêm và châu Ung, [vốn thuộc vùng đất Việt Lạc], nay thuộc Quảng Đông, Quảng Tâỵ
Năm 1076, vua Tống sai Quách Quì và Triệu Tiết kéo hơn 30 vạn quân sang xâm lấn Nước tạ Nhưng chúng bị đánh tan ở sông Như Nguyệt. Giặc Tàu kéo tới hơn 30 vạn, chỉ còn 2 vạn 8 trở về

9. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA MÔNG CỔ
Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý, ở vùng Vân Nam. Mông Cổ đương thời là đế quốc to lớn và hùng mạnh nhất thế giới, chìếm đóng từ Á sang Âu . Năm 1257, từ Vân Nam, tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqatai) đem 3 vạn quân Mông Cổ và hơn 1 vạn quân Đại Lý tấn công Đại Việt, chiếm Thăng Long, đốt phá và giết mọi người trong thành. [Ngột Lương Hợp Thai là công thần thứ 3 của Nhà Nguyên, từng tham gia các trận đánh chiếm nước Kim, nước Đức, Ba Lan, Bagdad, và diệt nước Đại Lý].
Vua Trần thái Tôn lo sợ, hỏi ý kiến Trần Thủ Độ. Trần thủ Độ khẳng kháị “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin Bệ Hạ đừng lo !”.
Chỉ mấy ngày sau, vua Trần thái Tôn dẫn quân phản công, đánh thắng quân Mông Cổ trong trận Đông Bộ Đầụ Trên đường rút lui, quân Mông Cổ còn bị quân ta chận đánh tan tành ở vùng Qui Hóa

10. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ NGUYÊN (lần 1)
Năm 1271 Hốt Tất Liệt (Khubilai) trở thành Đại Hãn của đế quốc Mông Cổ, đổi quốc hiệu thành Nguyên. Năm 1279, quân Nguyên chiếm trọn đất Trung Hoạ Đế quốc Mông Cổ bao trùm 40 quốc gia từ Á sang Âu. Năm 1283, Hốt Tất Liệt sai con là Thoát Hoan (Toghan), cùng với các danh tướng Toa Đô (Suodu), Ô Mã Nhi, kéo 50 vạn quân xâm lăng Đại Việt. Quân Nguyên còn có thủy binh từ Chiêm Thành đánh lên. Khi đó, toàn thể quân Đại Việt chỉ có 20 vạn.
Trước tình hình nguy biến, nhiều người muốn hàng hoặc tìm kế hoãn binh. Nhưng các tướng Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư cương quyết xin đem quân trấn giữ. Vua Trần Nhân Tôn liền triệu tập các bô lão trong dân tại điện Diên Hồng để hỏi ý kiến. Toàn thể đồng thanh xin Đánh ! Trước thế giặc quá mạnh, quân ta phải rút về Vạn Kiếp. Ở phía Nam, quân Nguyên từ Chiêm Thành cũng đã chiếm Nghệ An. Vua Nhân Tôn lại lo sợ, ‘muốn hàng để cứu muôn dân’. Nhưng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đáp. “Bệ Hạ nói câu ấy thật là lời nhân đức. Nhưng Quê hương Dân tộc thì sao ? Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin chém đầu tôi trước đã !”
Thoát Hoan dùng đại bác bắn phá, và vào được Thăng Long. Triều đình ta chạy về Thanh Hóa . Khi đó tướng Trần Bình Trọng bị bắt. Thoát Hoan dụ hàng và hỏị “Có muốn làm Vương không ?” Trần Bình Trọng quát tọ “Ta thà làm quỷ Nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc !”
Tháng 5 năm 1285, tướng Trần Nhật Duật phá được quân Toa Đô ở cửa Hàm Tử. . Sau đó, tướng Trần Quang Khải đưa quân đi thuyền từ Thanh Hóa ra đánh tan quân Nguyên ở bến Chương Dương, rồi dùng phục binh chiếm lại Thăng Long. Hưng Đạo Vương thì đem quân đánh ở Tây Kết, và giết được Toa Đô. Quân ta bắt được 3 vạn quân Nguyên và vô số chiến thuyền, khí giới . Hưng Đạo Vương lại sai phục kích chận mọi đường quân Nguyên có thể rút lui, và tự mình dẫn đại quân lên Bắc Giang đánh Thoát Hoan. Quân Nguyên thua chạy, tới bến Vạn Kiếp bị phục kích, chết quá nửa. Thoát Hoan trốn thoát về Tàu
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, in năm 1697, quân Nguyên kéo qua 50 vạn và sáu tháng sau, chỉ còn 5 vạn rút về.

11. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ NGUYÊN (lần 2)
Cuối tháng 12 năm 1287, Thoát Hoan lại theo hai đường thủy bộ, kéo thêm 50 vạn quân xâm lấn, với hơn 800 chiến thuyền, cùng với đoàn tàu 100 chiếc chở lương thực. (Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Phía Đại Việt có khoảng từ 20 tới 30 vạn quân. Quân Nguyên chiếm được Thăng Long, nhưng sợ bị cắt đường liên lạc, nên tập trung ở Vạn Kiếp.Bộ chỉ huy của Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng. Tướng Trần Khánh Dư đưa quân phục ở bến Vân Đồn và phá tan đoàn thuyền lương. Tháng 3 năm 1288, cạn lương, Thoát Hoan sai Ô mã Nhi mở đường theo sông Bạch Đằng. Hưng Đạo Vương lại dùng kế đóng cọc bịt sắt xuống sông Bạch Đằng (như Ngô Quyền năm 938).
Với trận Bạch Đằng, quân ta tiêu diệt hoàn toàn thủy quân của giặc Nguyên. Nghe tin thủy quân tan vỡ, Thoát Hoan kéo chạy về qua vùng Bắc Giang và Lạng Sơn, và cũng bị quân Đại Việt chận đánh tan tành.

12. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ MINH
Năm 1406, giặc Minh kéo quân xâm lấn nước tạ Nhà Hồ thuạ Giặc Minh, với Trương Phụ, bắt đầu chính sách đồng hóa dân ta với dân Tàu… Năm 1418, nông dân Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa, tự xưng là Bình Định Vương, gởi hịch kể tội giặc Minh và nêu rõ mục đích đánh đuổi quân giặc cướp nước. Năm 1426, sau 8 năm gian khổ, với nhiều lần nguy cấp, Bình Định Vương thắng trận Tụy Động, và bao vây thành Đông Quan, Thăng Long. Cuối năm 1427, giặc Minh lại đưa thêm 2 đạo quân sang đánh Đại Việt. Đạo quân do Liễu Thăng cầm đầu với hơn 10 vạn lính, 2 vạn ngựa. Đạo quân do Mộc Thạnh dẫn 5 vạn lính và 1 vạn ngựa. Nhưng tại Chi Lăng, quân ta giết Liễu Thăng, phá tan toàn bộ quân tiếp viện của giặc, bắt sống hơn 3 vạn quân Tàụ Mộc Thạnh nghe tin, bỏ chạỵ Quân Nam theo đánh, giết hơn 1 vạn giặc Minh.
Nghe tin, Vương Thông đang chiếm đóng Đông Quan (Thăng Long), viết thư cầu hòa, và xin cho chúng rút quân về Tàu. Số tù binh, hàng binh và vợ con được thả về Tàu lên hơn 10 vạn

13. CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ THANH
Năm 1788, Tôn Sĩ Nghị kéo 20 vạn quân Nhà Thanh, chia làm 3 đạo, tiến đánh Đại Việt, chiếm đóng Thăng Long. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đang ở Huế, được tin, tính chuyện tiến đánh. Quan quân xin Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung.. Hoàng đế Quang Trung kéo quân ra tới Nghệ An, nghỉ 10 ngày để mộ thêm lính. Tất cả được 10 vạn quân và 100 con voi . Hoàng đế Quang Trung cho ăn Tết sớm, đêm 30 sẽ kéo quân đi, và hẹn ngày mùng 7 Tết sẽ ăn Tết lại tại Thăng Long.
Trận đánh thần tốc đã phá hết các đồn giặc, đến nỗi chúng không kịp báo tin cho nhau. Chỉ trong mấy ngày, quân ta đánh chiếm từ Giản Thuỷ, tới Phú Xuyên, Hà Hồi, Ngọc Hồi… Sáng mùng 5 Tết, quân ta vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc giáp, lên ngựa tháo chạỵ Giặc Tàu chạy theo, chết đuối chật sông Hồng. Các đạo quân giặc ở phía Bắc cũng tất tả rút chạy. Tất cả đều chỉ trong 5 ngày

14. CUỘC XÂM LƯỢC VIỆT NAM NĂM 1979
Chiến tranh biên giới 1979, hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17/2/1979 khi Trung Quốc đưa quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa 2 nước.
Chiến tranh biên giới Việt – Trung kéo dài trong chừng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía . Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc tuyên bố hoàn thành rút quân vào ngày 16/3/1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên.

15. CUỘC XÂM LƯỢC ĐẦU THẾ KỶ 21
Vào thế kỷ 21 để chuẩn bị tiến hành lần xâm lược thứ 15 , ngày 13/12/2023 nước Việt Nam do đảng cộng sản cai trị đã ký hợp đồng “ Cộng Đồng Chung Sinh Mệnh “ ( community of common destiny ) với Tập Cận Bình . Tờ hợp đồng này hiện đang giữ bí mật không được công khai cho người dân biết nhưng ai cũng hiểu là bản ký kết này được xem như hợp thức hoá chuyện gian dâm giữa một gã đàn ông tên Trung Quốc và người phụ nữ đã có chồng tên Việt Nam lén lút ăn nằm với nhau từ hơn nửa thế kỷ trước

Quan Dương

Address

Bac Giang

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đền Gia Thả xã Hoàng Vân posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category