CHÙA NGẠCH KIM BÍ

CHÙA NGẠCH KIM BÍ Đẹp

25/05/2026

SÔNG TÍCH HỒI SINH – “MẠCH NƯỚC XANH” CHIẾN LƯỢC CHO PHÍA TÂY THỦ ĐÔ

Dự án tiếp nước, cải tạo, khôi phục Sông Tích là một trong những công trình thủy lợi – môi trường lớn và có ý nghĩa chiến lược của Hà Nội trong nhiều thập niên gần đây. Với tổng mức đầu tư gần 7.000 tỷ đồng, dự án không chỉ nhằm “hồi sinh” một dòng sông lịch sử mà còn tái cấu trúc không gian sinh thái, nông nghiệp và phát triển vùng phía tây, tây nam Thủ đô.

Vai trò đặc biệt của sông Tích

Sông Tích từng là trục thủy văn quan trọng của vùng xứ Đoài, gắn với đời sống cư dân, sản xuất nông nghiệp và hệ thống tiêu thoát nước tự nhiên của nhiều huyện như Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Chương Mỹ và Mỹ Đức.

Tuy nhiên, nhiều năm trước khi dự án triển khai, dòng sông này rơi vào tình trạng bồi lấp, cạn kiệt, ô nhiễm, nhiều đoạn bị lấn chiếm hoặc gần như “sông chết”. Điều đó khiến khả năng tưới tiêu, tiêu úng và điều hòa sinh thái suy giảm nghiêm trọng.

Quy mô và mục tiêu của dự án

Dự án được khởi công từ năm 2011 với các hạng mục lớn:

Nạo vét, mở rộng, chỉnh trị dòng chảy.
Xây dựng cống đầu mối và hệ thống lấy nước từ sông Đà.
Duy trì lưu lượng cấp nước khoảng:

Q=60 m
3
/s

Cấp nước tưới cho:

S=16,000 ha

đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Bảo đảm tiêu thoát lũ cho lưu vực phía tây, tây nam Thủ đô.
Kết hợp phát triển giao thông ven sông, cầu dân sinh và cảnh quan đô thị.

Cống đầu mối tại xã Thuần Mỹ (Ba Vì) hiện cơ bản đã hoàn thành, từng bước đưa nước từ sông Đà qua kênh dẫn vào sông Tích, tạo tiền đề khôi phục dòng chảy liên tục.

Hơn một thập niên “trễ hẹn”

Dù mang ý nghĩa lớn, dự án từng trở thành một trong những công trình chậm tiến độ kéo dài của Hà Nội. Có thời điểm sau 7 năm triển khai, khối lượng thực hiện mới đạt khoảng 60%.

Nguyên nhân chủ yếu gồm:

Khó khăn giải phóng mặt bằng.
Thiếu đồng bộ trong triển khai các gói thầu.
Biến động nguồn vốn và thủ tục đầu tư.
Một số đoạn sông bị lấn chiếm phức tạp.

Từ năm 2023–2024, thành phố đã tăng cường chỉ đạo quyết liệt, tháo gỡ các “điểm nghẽn”, đặc biệt là công tác giải phóng mặt bằng. Hơn 26 km đầu tiên đã được thông dòng, từng bước phát huy hiệu quả cấp nước vùng hạ lưu.

Ý nghĩa chiến lược của việc “hồi sinh” dòng sông

Điểm quan trọng nhất của dự án không chỉ nằm ở thủy lợi, mà ở tư duy phát triển bền vững theo hệ sinh thái.

1. Chống ngập và thích ứng khí hậu

Khi biến đổi khí hậu khiến mưa cực đoan gia tăng, việc khôi phục các dòng sông nội vùng giúp:

tăng khả năng tiêu thoát lũ;
giảm úng ngập cục bộ;
giảm áp lực cho hệ thống thoát nước đô thị.

Đây là hướng tiếp cận “dựa vào tự nhiên” thay vì chỉ phụ thuộc vào bê tông hóa.

2. Hồi sinh nông nghiệp vùng xứ Đoài

Nguồn nước ổn định sẽ giúp:

giảm nguy cơ hạn cục bộ mùa khô;
nâng cao năng suất nông nghiệp;
phát triển nuôi trồng thủy sản;
tạo điều kiện chuyển đổi mô hình sản xuất sinh thái.

Đối với nhiều vùng bán sơn địa phía tây Hà Nội, nước không chỉ là hạ tầng kỹ thuật mà còn là điều kiện tồn tại của sinh kế nông thôn.

3. Tái tạo cảnh quan và không gian phát triển

Một dòng sông được hồi sinh sẽ kéo theo:

phục hồi hệ sinh thái ven sông;
tăng giá trị quỹ đất;
mở ra tiềm năng du lịch sinh thái, văn hóa;
hình thành các tuyến giao thông và không gian công cộng mới.

Trong dài hạn, sông Tích có thể trở thành “trục xanh” kết nối vùng xứ Đoài với trung tâm Thủ đô.

Bình luận: Khôi phục một dòng sông cũng là khôi phục năng lực phát triển của một vùng đất

Thực tế cho thấy, nhiều đô thị hiện đại trên thế giới đã phải trả giá đắt khi bê tông hóa quá mức, lấp sông, thu hẹp hồ tự nhiên và phá vỡ hệ thống thủy văn truyền thống. Khi biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, các dòng sông không còn chỉ là yếu tố cảnh quan mà trở thành “hạ tầng sinh tồn” của đô thị.

Vì vậy, dự án khôi phục sông Tích mang ý nghĩa vượt xa một công trình thủy lợi thông thường. Đây là sự thay đổi tư duy phát triển: từ khai thác tự nhiên sang phục hồi tự nhiên; từ phát triển ngắn hạn sang phát triển bền vững.

Điều đáng chú ý là sông Tích không chỉ phục vụ nông nghiệp mà còn có thể trở thành trục sinh thái – văn hóa – giao thông mới của vùng phía tây Hà Nội trong tương lai. Khi dòng nước được khơi thông, hệ sinh thái ven sông sẽ hồi sinh, đất đai được đánh thức, không gian phát triển mới sẽ mở ra cho cả một vùng xứ Đoài giàu truyền thống lịch sử.

Tuy nhiên, bài học lớn nhất của dự án cũng nằm ở hơn một thập niên chậm tiến độ. Điều đó cho thấy các công trình hạ tầng quy mô lớn nếu thiếu đồng bộ về giải phóng mặt bằng, quản trị đầu tư và phối hợp liên ngành sẽ rất dễ bị kéo dài, đội vốn và giảm hiệu quả xã hội.

Bởi vậy, việc hoàn thành đúng tiến độ và vận hành hiệu quả dự án không chỉ là câu chuyện của riêng một dòng sông, mà còn là phép thử năng lực quản trị đô thị, quản trị tài nguyên và tầm nhìn phát triển dài hạn của Hà Nội trong thế kỷ XXI.

25/05/2026

“Bà CuộnG Tràng” – Người giữ hồn quê và nếp chùa làng
“Bà Cuộng Tràng”, tên thật là Nguyễn Thị Phương, sinh ra và lớn lên tại xóm Tràng, xã Chu Minh, huyện Ba Vì – vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa của xứ Đoài. Nơi đây nổi tiếng với Đình Chu Quyến – di tích quốc gia đặc biệt, một kiệt tác kiến trúc gỗ thời Lê Trung Hưng, gắn với truyền thuyết Đức Thánh Chàng và câu thành ngữ dân gian: “To như cột đình Chàng.”
Lớn lên từ miền quê giàu đạo nghĩa ấy, bà về làm dâu làng Kim Bí, kết duyên cùng ông Nguyễn Khắc Dự và sinh được hai người con trai. Người con cả tên cúng cơm là Cuộng, người con thứ hai tên Tình. Từ đó, bà được bà con quen gọi bằng cái tên mộc mạc, thân thương: “Bà Cuộng Tràng” – cái tên gắn với quê gốc xóm Tràng và tên người con đầu lòng.
Cuộc đời bà gắn bó sâu nặng với mái chùa làng Kim Bí. Thuở đầu, bà theo bà Trần Thị The – người trụ trì chùa – lễ Phật, quét dọn, chăm nom hương khói và giúp bà con trong làng việc lễ nghi. Dù không biết chữ, nhưng bằng lòng thành kính và sự chuyên tâm học hỏi nơi cửa Phật, bà thuộc làu nhiều bài kinh, lời kệ, nghi lễ cúng bái. Tiếng tụng kinh của bà trở nên quen thuộc với biết bao thế hệ dân làng.
Sau khi bà Trần Thị Thu viên tịch, bà Nguyễn Thị Phương tiếp tục thay bà đứng ra chăm nom chùa làng, hướng dẫn nhân dân lễ Phật, làm việc thiện, tổ chức các nghi lễ tiễn đưa người quá cố về cõi Tây Trúc. Trong những năm tháng bao cấp còn nhiều khó khăn, bà vẫn giữ cho ngôi chùa nhỏ luôn đỏ lửa hương nhang, trở thành chốn tâm linh ấm áp, nơi gửi gắm niềm tin và sự bình yên của dân làng.
Không chỉ là người giữ chùa, bà còn là người gieo mầm thiện lương cho bao thế hệ. Bà sống chân chất, bao dung, lấy đạo nghĩa làm gốc, lấy lòng nhân hậu để đối đãi với mọi người. Những việc bà làm lặng lẽ mà bền bỉ đã góp phần vun đắp tình làng nghĩa xóm, giữ gìn nếp sống văn hóa quê hương.
Nay bà đã đi xa, nhưng hình ảnh người phụ nữ quê mùa, hiền từ, sớm hôm bên tiếng chuông chùa và làn khói hương vẫn còn sống mãi trong ký ức con cháu và bà con làng xóm.
Một nén tâm hương xin được tưởng nhớ bà, tri ân tấm lòng thiện lương và những đóng góp âm thầm mà sâu nặng của bà đối với quê hương, với mái chùa làng Kim Bí thân yêu

24/05/2026

TỘC TRƯỞNG HỌ NGUYỄN KHẮC LÀNG KIM BÍ — GIỮ GIA PHONG, GÌN GIỮ NGHĨA TÌNH DÒNG TỘC
Gia đình ông Nguyễn Khắc Dân là một nhánh gia đình mang nhiều dấu ấn của truyền thống họ tộc Việt Nam — nơi mỗi con người, mỗi số phận đều gắn với một phần ký ức và trách nhiệm của gia đình, dòng họ.
Ông trưởng họ: Nguyễn Khắc Dân
Thân phụ: Nguyễn Khắc Dự
Người vợ thứ nhất: Phùng Thị Thảo
Người vợ thứ hai: Nguyễn Thị Phương
Em trai: Nguyễn Khắc Từ
Em dâu: Phùng Thị Phú
Em gái: Nguyễn Thị Mão — bị mù và không lập gia đình.
Điều đáng quý trong một gia đình không chỉ là sự đông đủ hay thành đạt, mà còn là cách ứng xử với những người yếu thế, thiệt thòi trong nhà. Người em gái Nguyễn Thị Mão tuy mang số phận kém may mắn, nhưng chính sự hiện diện ấy lại thử thách và cũng làm sáng lên đạo lý tình thân của cả gia đình và dòng họ.
Trong truyền thống làng quê Bắc Bộ, đặc biệt với những dòng họ lâu đời ở Kim Bí, người tộc trưởng không chỉ là người đại diện cho họ mạc trong việc hương khói tổ tiên, mà còn là người giữ nề nếp gia phong, hòa giải tình thân và kết nối các thế hệ con cháu.
Một dòng họ bền vững không nằm ở sự giàu sang nhất thời, mà ở chỗ còn giữ được đạo hiếu, nghĩa anh em và lòng nhân hậu với người thân trong lúc khó khăn. Đó chính là nền gốc làm nên sức sống lâu dài của gia tộc.
Gia đình ông Nguyễn Khắc Dân phản ánh khá rõ nét hình ảnh của nhiều gia đình truyền thống Việt Nam:
có những niềm vui và cả những phận người nhiều gian truân; nhưng vượt lên trên tất cả vẫn là tinh thần đùm bọc, trách nhiệm và nghĩa tình — những giá trị làm nên chiều sâu văn hóa của họ Nguyễn Khắc làng Kim Bí qua nhiều thế hệ.

14/05/2026

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Xin thành tâm tri ân lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Tri ân các bậc tiền nhân đã mở cõi, giữ non sông qua biết bao cuộc chiến tranh và biến động của thời cuộc.
Tri ân những anh hùng liệt sĩ, những người mẹ, người cha, những lớp người bình dị đã hy sinh tuổi xuân, mồ hôi và cả máu xương để đất nước có được hòa bình hôm nay.
Từ thời các Vua Hùng dựng nước, qua những trang sử của Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, đến các thế hệ trong thời đại hiện đại, tinh thần yêu nước và ý chí quật cường vẫn luôn chảy mãi trong tâm hồn dân tộc Việt Nam.
Xin nguyện cầu cho quốc thái dân an, nhân dân được ấm no, đất nước ngày càng hùng cường, hòa bình và phát triển.
Cầu cho các anh linh đã khuất được siêu sinh tịnh độ, hương linh các anh hùng liệt sĩ được an yên nơi cõi Phật.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

13/05/2026

"Con nguyện đem công đức này hồi hướng cho hương linh những Anh hùng Liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc và những người quá cố của họ Nguyễn tại làng Kim Bí được siêu thoát. Nguyện cầu người được nương nhờ Phật lực gia hộ, tiêu trừ nghiệp chướng, siêu sinh tịnh cảnh.Đồng thời, hồi hướng cho pháp giới chúng sinh đều được an triêm công đức, thân tâm an lạc, sớm thành Phật đạo."

13/05/2026

“Con nguyện đem công đức này hồi hướng cho hương linh [NHỮNG ANH HÙNG LIỆT SY HY SINH VÌ TỔ QUỐC 3. VÀ NHỮN NGƯỜI QUA CỐ CỦA HỌ NGUYỄN TẠI LÀNG KIM BÍ ĐƯỢC SIEU THOÁT ], nguyện cầu người được nương nhờ Phật lực gia hộ, tiêu trừ nghiệp chướng, siêu sinh tịnh cảnh. Đồng thời hồi hướng cho pháp giới chúng sinh đều được an triêm công đức, thân tâm an lạc, sớm thành Phật đạo.”

13/05/2026

"Con nguyện đem công đức này, hồi hướng cho [Tên người quá cố] và khắp tất cả chúng sinh, đều được ân chiêm công đức, sớm thành Phật đạo."

12/05/2026

Các Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam qua các thời kỳ
Tôn Đức Thắng
Chủ tịch từ năm 1955 – 1977
Hoàng Quốc Việt
Chủ tịch từ năm 1977 – 1988
Nguyễn Hữu Thọ
Chủ tịch từ năm 1988 – 1993
Lê Quang Đạo
Chủ tịch từ năm 1994 – 1999
Phạm Thế Duyệt
Chủ tịch từ năm 1999 – 2008
Huỳnh Đảm
Chủ tịch từ năm 2008 – 2013
Nguyễn Thiện Nhân
Chủ tịch từ năm 2013 – 2015
Trần Thanh Mẫn
Chủ tịch từ năm 2015 – 2021
Đỗ Văn Chiến
Chủ tịch từ năm 2021 đến nay
Bùi Thị Minh Hoài
Lãnh đạo nữ tiêu biểu của Đảng và Thủ đô Hà Nội hiện nay
Bình luận và tri ân
Suốt hơn bảy thập kỷ hình thành và phát triển, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc — nơi quy tụ sức mạnh của nhân dân, của các tầng lớp xã hội, các tôn giáo, dân tộc và những người Việt Nam yêu nước.
Mỗi vị Chủ tịch qua từng thời kỳ đều gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt của đất nước:
Thời kỳ kháng chiến và xây dựng nền độc lập dân tộc.
Thời kỳ thống nhất non sông sau năm 1975.
Thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước.
Thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hôm nay.
Từ Tôn Đức Thắng với tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đến các thế hệ lãnh đạo kế tiếp như Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Thế Duyệt hay Đỗ Văn Chiến hôm nay, tất cả đều để lại dấu ấn trong việc củng cố lòng dân, tăng cường đồng thuận xã hội và chăm lo quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Sự xuất hiện của những nhà lãnh đạo nữ tiêu biểu như Bùi Thị Minh Hoài cũng cho thấy vai trò ngày càng lớn của phụ nữ trong đời sống chính trị và công cuộc xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới.
Đó không chỉ là những người giữ cương vị lãnh đạo, mà còn là những người góp phần gìn giữ tinh thần đoàn kết — một giá trị cốt lõi làm nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam qua mọi biến động lịch sử.
Xin trân trọng tri ân các thế hệ lãnh đạo Mặt trận qua các thời kỳ đã tận tâm vì nhân dân, vì khối đại đoàn kết toàn dân tộc và vì sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam.
HUYỀN THOẠI “CON RỒNG CHÁU TIÊN”
BẢN TUYÊN NGÔN ĐẦU TIÊN VỀ CỘI NGUỒN DÂN TỘC VIỆT NAM
Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ kể về nguồn gốc “con Rồng cháu Tiên” của dân tộc Việt Nam. Âu Cơ (nàng tiên) kết duyên cùng Lạc Long Quân (dòng dõi Rồng), sinh ra bọc trăm trứng, nở thành một trăm người con khỏe mạnh. Câu chuyện biểu trưng cho tinh thần đoàn kết và cội nguồn chung của các dân tộc Việt Nam.
Nội dung chính của truyền thuyết
Lương duyên Tiên - Rồng:
Lạc Long Quân, con trai của Kinh Dương Vương, gặp và kết duyên cùng nàng Âu Cơ, con gái Thần Nông.
Bọc trăm trứng:
Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con hồng hào, khỏe mạnh.
Chia con mở cõi:
Vì sự khác biệt giữa loài Rồng quen sống dưới nước và loài Tiên quen sống trên non cao, Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con: 50 người con theo cha xuống biển,
50 người con theo mẹ lên núi để cai quản các phương.
Nguồn gốc quốc gia Văn Lang:
Người con trưởng theo mẹ lên vùng đất Phong Châu, được tôn làm Hùng Vương, lập nên nhà nước Văn Lang — quốc gia đầu tiên của người Việt cổ.
Ý nghĩa lịch sử và văn hóa sâu sắc
1. Bản tuyên ngôn về sự thống nhất dân tộc
Khái niệm “đồng bào” — cùng sinh ra từ một bọc trứng — là giá trị đặc biệt của dân tộc Việt Nam.
Dù miền xuôi hay miền ngược, miền biển hay miền núi, các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều có chung một cội nguồn.
Tinh thần ấy đã trở thành sức mạnh đoàn kết giúp dân tộc Việt Nam vượt qua bao cuộc chiến tranh, thiên tai và thử thách trong lịch sử.
2. Giá trị lịch sử về công cuộc dựng nước
Sự hòa hợp giữa núi và biển:
Cuộc hôn phối giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ tượng trưng cho sự kết nối giữa văn hóa miền núi và văn hóa vùng biển, hình thành nền tảng quốc gia Văn Lang sơ khai.
Tư duy mở cõi của người Việt cổ:
Hình ảnh “50 con lên rừng, 50 con xuống biển” phản ánh quá trình khai phá lãnh thổ, mở mang không gian sinh tồn của cư dân Việt cổ từ miền núi đến đồng bằng và ven biển.
3. Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”
Truyền thuyết không chỉ là câu chuyện dân gian mà còn là biểu tượng thiêng liêng của lòng biết ơn tổ tiên.
Tri ân Lạc Long Quân — người được xem là đã dạy dân trồng lúa, mở mang cuộc sống và bảo vệ dân lành.
Tri ân Âu Cơ — người mẹ biểu tượng của đức hy sinh, tình thương và sự gìn giữ nòi giống.
Tri ân các Hùng Vương — những người đặt nền móng đầu tiên cho quốc gia Văn Lang.
Ngày nay, việc hướng về Đền Hùng trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương không chỉ là hoạt động tín ngưỡng mà còn là sự khẳng định bản sắc dân tộc và tinh thần đoàn kết Việt Nam.
Lời kết
Có thể nói, truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ chính là “giấy khai sinh tinh thần” của dân tộc Việt Nam.
Từ câu chuyện bọc trăm trứng, người Việt hình thành ý thức cộng đồng, tình nghĩa đồng bào và niềm tự hào về cội nguồn “Con Rồng Cháu Tiên”.
Dù trải qua hàng nghìn năm lịch sử, truyền thuyết ấy vẫn sống mãi trong tâm thức dân tộc như một biểu tượng thiêng liêng của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân Việt Nam.
TỰ HÀO CON RỒNG CHÁU TIÊN
(Lời 1)
Từ thuở hồng hoang đất trời mở lối,
Mẹ Âu Cơ sinh bọc trăm trứng thiêng liêng.
Cha Lạc Long Quân từ biển xanh dâng sóng,
Gọi giống nòi Việt Nam vững bước qua bao miền.
Năm mươi con lên non cao giữ núi,
Năm mươi con xuôi biển lớn dựng cơ đồ.
Từ một cội nguồn kết thành sông núi,
Triệu trái tim chung nhịp đập Việt Nam ta.
(Điệp khúc)
Tự hào thay con Rồng cháu Tiên,
Ngàn năm bão giông vẫn sáng hồn thiêng.
Tay nắm tay vượt bao gian khó,
Giữ non sông bền chí kiên cường.
Tự hào thay đất Việt yêu thương,
Đoàn kết chung lòng viết tiếp quê hương.
Từ cội nguồn cha ông truyền lại,
Việt Nam vươn mình rạng rỡ tương lai.
(Lời 2)
Qua bao chiến chinh vẫn không khuất phục,
Hồn dân tộc như lửa đỏ không tàn.
Từ đồng lúa thơm đến trùng khơi sóng bạc,
Người Việt Nam chung một tiếng đồng bào.
Dòng máu Lạc Hồng chảy trong tim nóng,
Cho hôm nay đất nước mãi đi lên.
Dẫu muôn phương vẫn chung màu cờ thắm,
Vẫn tự hào hai tiếng Việt Nam.
(Điệp khúc)
Tự hào thay con Rồng cháu Tiên,
Ngàn năm bão giông vẫn sáng hồn thiêng.
Tay nắm tay vượt bao gian khó,
Giữ non sông bền chí kiên cường.
Tự hào thay đất Việt yêu thương,
Đoàn kết chung lòng viết tiếp quê hương.
Từ cội nguồn cha ông truyền lại,
Việt Nam vươn mình rạng rỡ tương lai.
(Kết)
Ơi Việt Nam đất nước của nghĩa tình,
Từ bọc trăm trứng kết muôn triệu niềm tin.
Nguyện cùng nhau dựng xây non nước,
Cho giống nòi mãi sáng giữa trời xanh.

11/05/2026

BA VÌ QUÊ TÔI

Ba Vì ơi — miền sơn xanh mây phủ
Cách Hà thành năm chục dặm thân quen
Nơi truyền thuyết Truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh còn vang vọng
Giữa non ngàn sông núi đẹp thần tiên.

Ba Vì đó — đất địa linh nhân kiệt
Núi Tản uy nghi soi bóng giữa trời
Mây lững thững ôm triền đồi xanh thẳm
Suối reo vui như tiếng hát quê tôi.

Ba dân tộc Kinh — Mường cùng người Dao
Chung mái núi, chung cánh rừng bát ngát
Dẫu phong tục mỗi miền mang sắc khác
Vẫn nghĩa tình son sắt một quê hương.

Nơi truyền đời câu chuyện của cha ông
Về sức mạnh và tình yêu bất diệt
Sơn Tinh thắng bao phong ba lũ dữ
Giữ đất này xanh mãi đến hôm nay.

Quê hương tôi giờ đang ngày đổi mới
Theo Đảng soi đường cuộc sống đi lên
Những mái ấm sáng đèn nơi bản nhỏ
Tiếng cười vui vang vọng khắp triền đồi.

Đàn bò sữa trắng đồng xanh no cỏ
Là niềm tin của kinh tế quê nhà
Sữa tươi ngọt, bánh sữa thơm hương đất
Mang tên Ba Vì đi khắp mọi miền xa.

Đồi chè biếc trải dài trong nắng sớm
Ba Trại xanh mướt những mùa thương
Lá chè nhỏ kết bao niềm hy vọng
Ươm vị quê thơm thắm giữa đời thường.

Có miến d**g, mây tre và nghề cũ
Bàn tay người làm đẹp cả quê hương
Từ gian khó vươn mình lên mạnh mẽ
Giữ nghĩa tình chân chất của làng quê.

Về Ba Vì là về cùng sông núi
Với cánh cò nghiêng trắng giữa chiều quê
Màn sương mỏng phủ mờ trên triền dốc
Đẹp dịu dàng như nét vẽ đồng quê.

Đền Thượng linh thiêng giữa ngàn mây gió
Đền Trung, Đền Hạ cổ kính uy nghi
Tiếng chuông vọng giữa đại ngàn sâu thẳm
Như hồn thiêng sông núi vẫn thầm thì.

Rừng quốc gia xanh đại ngàn kỳ thú
Muôn loài chim thú quý được chở che
Cầy gấm, cu li, gà lôi cánh trắng
Giữ màu xanh cho đất mẹ bộn bề.

Vườn Quốc gia Ba Vì mùa mây bay bảng lảng
Bướm rập rờn bên suối hát ngàn cây
Hoa kim tuyến nép mình trong lá biếc
Đẹp hoang sơ say đắm bước chân người.

Chiều Đồi cò Ngọc Nhị cò bay trắng xóa
Chấp chới trời quê ký ức tuổi thơ
Cánh cò nhỏ chở hồn quê yên ả
Cho lòng người thêm tha thiết mong chờ.

Bao thắng cảnh làm say lòng du khách
Khoang Xanh – Suối Tiên
Ao Vua, Thiên Sơn – Suối Ngà nên thơ
Hồ Suối Hai xanh như đôi mắt biếc
Gọi bước chân người lữ khách phương xa.

Một giờ xe từ Hà Nội thẳng tới
Theo Đại lộ Thăng Long rộng thênh thang
Là chạm tới miền quê đầy thương nhớ
Núi với mây hòa quyện ánh bình minh.

Ba Vì đó — quê hương tôi yêu dấu
Đất nghĩa tình, trù phú, đẹp nên thơ
Mai đi xa vẫn một lòng thương nhớ
Bởi nơi này là đất mẹ trong tôi.

08/05/2026

KÝ ỨC NHÀ G1 – NGÕ 32A HÀO NAM

(Ca khúc hoài niệm về một thời Hà Nội thân thương)

Chiều Hào Nam mưa bay nhè nhẹ
Con ngõ nhỏ xưa vẫn âm thầm
Nhà G1 còn in màu ký ức
Một khoảng trời tuổi trẻ tôi mang...

Năm ấy phố còn nghèo lắm
Mái nhà vui chỉ vỏn vẹn ba mươi mét vuông
Mà sao nghe đời rộng lớn
Như ôm cả mùa xuân trong lòng...

Điệp khúc:

Ôi nhà G1 năm nào thương nhớ
Tiếng trẻ thơ vang cả hành lang
Sinh nhật nhỏ tờ giấy mời viết vội
Mà vui như hội giữa xóm thân quen...

Ôi Hào Nam một thời mộc mạc
Bếp khói chiều thơm ngát tình người
Cán bộ thuế chung một mái nhà nhỏ
Sống nghĩa tình qua biết mấy năm vui...

Ngày ấy hàng xóm như người ruột thịt
Đi làm về còn gọi với nhau
Chiếc xe đạp dựng nghiêng cuối ngõ
Tiếng chào thân thương ấm cả mái đầu.

Lũ trẻ con chạy vòng cầu thang cũ
Nhảy dây, đánh chuyền đến tận chiều hôm
Tiếng cười vang qua từng ô cửa nhỏ
Làm mùa đông Hà Nội cũng thành thơ...

Rồi thời gian lặng lẽ đi qua
Những gương mặt thân quen giờ thưa vắng
Có người chuyển đi miền nhà mới
Có căn phòng khép cửa im lìm...

Sáng nay hành lang nghe yên ắng
Không còn đông như những ngày xưa
Nhà G1 trầm ngâm trong nắng
Giữ trong mình bao ký ức chưa phai.

Điệp khúc:

Ôi nhà G1 thân thương biết mấy
Hai tám năm như một quê hương
Bao vui buồn theo đời người ở lại
Thành yêu thương sâu lắng trong lòng...

Dẫu mai này phố phường thay đổi
Những tòa nhà mới mọc lên cao
Thì ký ức về Hào Nam năm ấy
Vẫn xanh hoài như bóng cây sau nhà...

Có thể mai này G1 không còn nữa
Những bậc cầu thang cũ sẽ xa dần
Nhưng tình người của một thời gian khó
Vẫn theo ta đi suốt cuộc đời...

Hào Nam ơi…
Con phố nhỏ đang từng ngày đổi mới
Mà trong tim tôi vẫn nguyên vẹn một mái nhà
Nơi có tiếng cười trẻ nhỏ
Có tình người ấm áp giữa Hà Nội bao la...

Nhà G1 – ngõ 32A phố Hào Nam
Một góc nhỏ bình yên giữa lòng phố cũ
Một miền ký ức không thể nào quên…
Trong trái tim những người đã từng sống ở nơi đây.

Việt – Ấn nghĩa nặng tình sâu,Song hành chiến lược nhịp cầu năm châu.Mười năm gắn kết bền lâu,Hữu nghị tỏa sáng trước sa...
07/05/2026

Việt – Ấn nghĩa nặng tình sâu,
Song hành chiến lược nhịp cầu năm châu.
Mười năm gắn kết bền lâu,
Hữu nghị tỏa sáng trước sau vẹn tròn.
Tháp tùng chuyến thăm nước non,
Tô Lâm dẫn bước tâm còn nghĩa chung.
Nguyễn Đình Khang đã ung dung,
Hội đàm hữu nghị tương phùng bạn xa.
Kiren Rijiju chan hòa,
Jual Oram nghĩa đậm đà anh em.
Cùng nhau trao đổi ngày đêm,
Dân tộc, tôn giáo vững bền tương lai.
Việt Nam – Ấn Độ hôm nay,
Quan hệ sâu sắc nối dài niềm tin.
Không chỉ chính trị, hòa bình,
Mà còn văn hóa nghĩa tình nhân dân.
Hai bên cùng đặt trọng tâm,
Tôn giáo, tín ngưỡng âm thầm kết giao.
Giao lưu văn hóa nâng cao,
Bắc cầu hữu nghị dạt dào tình thân.
Ấn Độ nghĩa nặng ân cần,
Phật giáo kết nối muôn phần thiêng liêng.
Vesak rạng sáng mọi miền,
Xá lợi Phật tỏa bình yên nhân hòa.
Lan truyền thông điệp bao la,
Hòa bình, nhân ái chan hòa muôn nơi.
Việt Nam tín ngưỡng sáng ngời,
Đa dạng tôn giáo khắp trời quê hương.
Nhà nước bảo đảm yêu thương,
Tự do tín ngưỡng mở đường nhân văn.
Khuyến khích đạo đẹp góp phần,
Đồng hành xã hội, xây dân mạnh giàu.
Ấn Độ kinh nghiệm thâm sâu,
Chính sách thiểu số dẫn đầu tiến xa.
Giáo dục, phúc lợi hài hòa,
Giữ gìn bản sắc đậm đà niềm tin.
Việt Nam học hỏi chân tình,
Nâng cao quản lý, giữ gìn đoàn kết.
Hai bên cùng hướng tha thiết,
Hợp tác bền chặt nối kết lâu dài.
Trao đổi đoàn những sớm mai,
Hội thảo khoa học dựng xây nhịp cầu.
Đào tạo cán bộ chuyên sâu,
Học giả, chức sắc cùng nhau giao hòa.
Bản ghi nhớ sớm ban ra,
Làm nền pháp lý mở ra tương lai.
Họp thường niên để triển khai,
Đánh giá hiệu quả từng ngày tiến lên.
Đồng bào dân tộc vững bền,
Việt Nam năm mươi bốn nền anh em.
Đại đoàn kết dựng ngày đêm,
Xuyên suốt chiến lược vững thêm nước nhà.
Miền núi đổi mới gần xa,
Hạ tầng, giáo dục nở hoa y tế.
Sinh kế phát triển bốn bề,
Giữ gìn văn hóa miền quê đậm tình.
Ấn Độ cũng rất văn minh,
Nhiều chương trình tốt cho mình bộ lạc.
Giáo dục, y tế mở mang,
Bảo tồn văn hóa, đời càng ấm no.
Hai bên cùng nguyện chung lo,
Đào tạo nhân lực, điểm tô tương lai.
Du lịch cộng đồng vươn dài,
Kinh tế sáng tạo dựng xây bản làng.
Khởi nghiệp phát triển đàng hoàng,
Sản phẩm bản địa mở mang thị trường.
Không ai bị bỏ giữa đường,
Bao trùm phát triển yêu thương đồng bào.
Việt – Ấn nghĩa đẹp biết bao,
Hợp tác sâu rộng dạt dào niềm tin.
Quốc phòng, kinh tế đồng tình,
Văn hóa, dân tộc thắm tình thủy chung.
Quan hệ chiến lược vô cùng,
Ngày thêm sâu sắc, sáng bừng tương lai. Ẩn bớt

Address

Ba Vì

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CHÙA NGẠCH KIM BÍ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category