Chùa Viên Quang- ĐTL

Call Directions Contact the place of worship

Chùa Viên Quang- ĐTL Có mặt cho nhau

BÀI NGUYỆN CHƯ THIÊNThiên A-tu-la Dược-xoa đẳng,Lai thính pháp giả ưng chí tâm,Ủng hộ Phật pháp sử trường tồn,Các các cầ...
28/09/2026

BÀI NGUYỆN CHƯ THIÊN
Thiên A-tu-la Dược-xoa đẳng,
Lai thính pháp giả ưng chí tâm,
Ủng hộ Phật pháp sử trường tồn,
Các các cần hành Thế Tôn giáo,
Chư hữu thính đồ lai chí thử,
Hoặc tại địa thượng hoặc cư không,
Thường ư nhơn thế khởi từ tâm,
Trú dạ tự thân y pháp trụ,
Nguyện chư thế giới thường an ổn,
Vô biên phước trí ích quần sanh,
Sở hữu tội nghiệp tận tiêu trừ,
Viễn ly chúng khổ quy viên tịch,
Hằng dụng giới hương đồ vinh thể,
Thường trì định phục dĩ tư thân,
Bồ-đề diêu pháp biến trang nghiêm,
Tùy sở trụ xứ thường an lạc.
Dịch:
Trời, A-tu-la, Dạ xoa thảy
Đến nghe pháp đó nên chí tâm
Ủng hộ Phật pháp khiến thường còn
Mỗi vị siêng tu lời Phật dạy.
Bao nhiêu người nghe đến chốn này
Hoặc trên đất liền hoặc hư không
Thường với người đời sanh lòng từ
Ngày đêm tự mình nương pháp ở.
Nguyện các thế giới thường an ổn
Phước trí vô biên lợi quần sanh
Bao nhiêu tội chướng thảy tiêu trừ
Xa lìa các khổ về viên tịch.
Hằng dùng giới hương xoa vóc sáng
Thường trì định phục để giúp thân
Hoa mầu bồ đề khắp trang nghiêm
Tùy theo chỗ ở thường an lạc.
Nam mô Tồi Tà Phụ Chánh Hộ Pháp
Chư Tôn Bồ-tát Ma-ha-tát.
THIỆN NỮ THIÊN CHÚ:
Nam mô Phật đà, Nam mô đạt ma, Nam mô tăng già. Nam mô thất rị, Ma ha đế tỷ da, Đát nễ dã tha, Ba rị phú lầu na, Giá rị tam mạn đà, Đạt xá ni, Ma ha tỳ ha ra già đế, Tam mạn đà, Tỳ ni già đế, Ma ha ca rị giả, Ba nễ, Ba ra, Ba nễ, Tát rị phạ lật tha, Tam mạn đà, Tu bát lê đế, Phú lệ na, A rị na, Đạt ma đế, Ma ha tỳ cổ tất đế, Ma ha Di Lặc đế, Lâu phả tăng kỳ đế, Hê đế tỷ, Tăng kỳ hê đế, Tam mạn đà, A tha, A nậu Đà La Ni.

VỊ VUA MẤT MẸ ĐẾN TÌM ĐỨC PHẬTMột lần, đức Phật trú tại tịnh xá nước Xá Vệ thuyết pháp cho hàng Trời, Người và Long Thần...
16/08/2026

VỊ VUA MẤT MẸ ĐẾN TÌM ĐỨC PHẬT
Một lần, đức Phật trú tại tịnh xá nước Xá Vệ thuyết pháp cho hàng Trời, Người và Long Thần.
Lúc ấy, mẹ vua Ba Tư Nặc tuổi hơn chín mươi chợt lâm trọng bệnh, vì không trị đúng thầy đúng thuốc nên đã qua đời. Vua và quần thần làm lễ tang theo pháp, rồi đưa đi an táng.
Tang sự xong, mọi người trở về, ghé ngang qua chỗ Phật.
Lúc ấy vua quần áo xốc xếch, giày dép trầy trật bước đến làm lễ bên chân Phật. Đức Phật mời vua ngồi xuống rồi hỏi:
Vua từ đâu đến mà áo quần thô xấu, vẻ mặt tiều tụy, sao lại ra nông nỗi này?
Nhà vua lễ Phật rồi đáp:
Thái Hậu của nước tuổi hơn chín mươi mắc phải trọng bệnh vừa mới qua đời. Con đưa linh cữu ra mộ rồi trở về ghé qua đây thăm đức Thế Tôn.
Đức Phật bảo với vua:
Từ xưa đến nay có bốn việc đáng sợ nhất, đó là:
1- Sinh phải già yếu.
2- Bệnh sẽ tiều tụy.
3- Chết thần thức ra đi.
4- Xa lìa quyến thuộc.
Vạn vật vô thường, không thể dài lâu, chẳng hẹn cùng người. Mỗi ngày trôi qua, mạng sống lần giảm. Như nước năm sông chảy mãi không ngừng, mạng người mau chóng cũng lại như vậy.
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ:
Như nước sông chảy mau
Theo dòng trôi đi mãi
Mạng người cũng như vậy
Qua rồi không trở lại.
Rồi đức Phật nói với vua rằng:
Mọi vật trên đời đều như vậy, không có cái gì trường tồn. Mọi người đều phải chết, không ai tránh được lẽ này.
Các vị Phật, chân nhân, tiên ngũ thông, quốc vương thuở xưa nay có còn đâu?
Vua không nên buồn thương vô ích có hại đến thân mình.
Làm người con hiếu thương yêu cha mẹ quá vãng thì phải làm phước, tu tạo công đức hồi hướng cho cha mẹ, như là chuẩn bị lương thực gởi cho người thân lúc đi xa.
Nghe đức Phật dạy xong, vua và quần thần ai nấy đều hoan hỉ, không còn lo buồn. Những người đến nghe pháp đều thấy được đạo 🙏

ĐỊA VỊ CỦA KINH KIM CANG TRONG HỆ THỐNG ĐẠI BÁT NHÃĐây là một chủ đề cực kỳ quan trọng. Nếu không hiểu vị trí của Kinh K...
05/08/2026

ĐỊA VỊ CỦA KINH KIM CANG TRONG HỆ THỐNG ĐẠI BÁT NHÃ

Đây là một chủ đề cực kỳ quan trọng. Nếu không hiểu vị trí của Kinh Kim Cang trong toàn bộ hệ thống Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa, người học rất dễ hiểu lầm rằng Kinh Kim Cang là một bộ kinh độc lập.

Thực ra, theo các vị Tổ sư và đặc biệt trong các bài giảng của Pháp Sư Tịnh Không, Kinh Kim Cang chính là tinh hoa của Đại Bát Nhã, cô đọng toàn bộ tư tưởng Bát Nhã thành một bộ kinh ngắn gọn nhưng vô cùng sâu sắc.

05/08/2026

Quá hoan hỷ

19/07/2026
Tết đến rồi sao
14/02/2026

Tết đến rồi sao

10/01/2026

XUÂN BA: Mới đây, tôi lại có chút duyên được Thiền sư Lê Mạnh Thát tặng cho bộ sách ba cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam mới tái bản có sửa chữa, bổ sung.

Đã đành một GS Lê Mạnh Thát phong sương kinh lịch nổi danh cái công phát lộ nhiều sự thật của lịch sử Đại Việt hàng ngàn năm bị che lấp hoặc bị hiểu sai lệch. Nhưng vẫn hơi giật mình trước một kiến giải bất ngờ!

Ấy là GS hơi bị có lý khi minh chứng, khẳng định Pháp sư kiêm thi sĩ Đỗ Pháp Thuận, tác giả “Quốc tộ – Vận nước” chính là tác giả của bài thơ THẦN – Nam quốc sơn hà…!

Dẫn ra cùng kiệt những chứng cứ cùng lập luận khoa học của Thiền sư Lê Mạnh Thát thì phạm vi bài báo nhỏ này không thể. Nhưng tựu trung có mấy điểm như này.

Như nhiều người đã tường về quân xâm lược nhà Tống hùng mạnh, cuộc chiến tranh do Triệu Khuông Dẫn phát động. Khởi đầu cho việc đao binh xâm lược là lời đe nẹt, dọa dẫm trong thư gửi vua Lê Đại Hành tháng 8 năm Canh Thìn 980 của vua nhà Tống.

“Ta đang chuẩn bị ngựa xe binh mã! Nếu quy phục, thì ta tha cho. Nếu trái lệnh thì ta đánh. Theo hay chống, lành hay dữ, ngươi tự xét lấy” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Lê Đại Hành đã cùng khối đoàn kết toàn dân có sự giúp rập hết lòng của các tướng Phạm Cự Lượng các quân sư Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Khuông Việt… đã kết thành sức mạnh chôn vùi giấc mộng của quân xâm lược! Với trận Chi Lăng (giết Hầu Nhân Bảo) bắt sống bọn Quách Biện, Triệu Phụng Huân… Sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền thì đây là chiến thắng lần thứ 2 có ý nghĩa chiến lược quyết định. Nhờ thế, Đại Việt đã có gần 100 năm hòa bình để xây dựng.

Trở lại những trận đánh quyết liệt cự giặc do chính vua Lê Đại Hành thân chinh chỉ huy.

Trước và trong trận đánh, sách Lĩnh Nam chích quái (LNCQ, một trong những tác phẩm văn học dân gian đầu tiên của Việt Nam, viết bằng chữ Hán, rất quý hiếm còn lại từ thời Lý, Trần. Chưa rõ tác giả là ai. LNCQ chứa đựng nếp sống tâm linh, triết lý sống của người Việt, một loại thánh kinh của tín ngưỡng Việt. Đa số các nhân vật trong LNCQ là thần thoại nhưng lại có đền thờ hẳn hoi, và nhân dân vẫn thành tâm lễ bái cho đến ngày nay) chép cụ thể công việc chuẩn bị tư tưởng cho quân sĩ của vua Lê Đại Hành.

“Triều Hoàng đế Đại Hành nhà Lê năm Tân Tỵ ( 981) Tống Thái Tổ sai bọn Hầu Nhân Bảo Tôn Hoàng Hưng đem quân xâm lược nước Nam. Vua Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng đóng quân ở sông Đồ Lễ (Như Nguyệt) để chống lại. Hai bên đối lũy giữ nhau.

Vua Đại Hành ban đêm mơ thấy hai vị thần xưng là Trương Hống, Trương Hát là tướng của Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế. Nay thấy quân Tống vào cõi làm khổ sinh linh nước ta nên bọn thần đến xin cùng vua đánh giặc để cứu sinh linh.

Vua kinh ngạc thức dậy gọi bọn bề tôi hầu cận nói “Đây là thần giúp ta vậy”.

Đến đêm hôm sau vua lại mơ thấy hai thần nhân ấy áo mão đến xin trợ giúp trận đánh ngày mai.

Vua cho lập đàn cúng tế nhị vị thần linh cẩn trọng.

Trận huyết chiến với quân Tống diễn ra ác liệt vào canh ba ngày 23 tháng 10 năm 981. Trời tối mịt mùng. Gió lớn mưa tuôn. Bỗng dưng từ trên thinh không, lừng lững bảng lảng hai vị thần dật dờ ẩn hiện cùng lời thơ văng vẳng.

Nước Nam sông núi vua Nam ở/ Rành rẽ phân chia tại sách trời/ Giặc nghịch sao nay dám xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời (Lĩnh Nam chích quái có chép thêm 4 câu thơ chữ Hán – Nam quốc sơn hà Nam đế cư…)

Quân Tống thấy vậy kinh hãi chen chạy tứ tán đại bại phải rút chạy.

Vua Đại Hành mừng thắng trận phong cho hai nhân thần là Đại vương và lập Đền bên sông Như Nguyệt sai dân ven sông phụng thờ đến nay vẫn còn”.

Đây là thông tin đầu tiên về bài thơ THẦN xuất hiện và được đọc – vang lên trong cuộc kháng chiến năm 981 và liên quan đến vua Lê Đại Hành.

Nhưng khi Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên xuất hiện, Ngô Sĩ Liên đã đưa bài thơ ấy (tờ 9b2-8) gán cho cuộc kháng chiến năm 1076 của Lý Thường Kiệt. Từ đó đã xuất hiện một tồn tại một ngoa truyền rằng bài thơ THẦN ấy là của Lý Thường Kiệt!

Theo Lê Mạnh Thát, so với Đại Việt sử ký… thì LNCQ có một tính cổ sơ và văn bản đáng tin cậy hơn Toàn thư! Vì thế bài thơ THẦN phải được coi là xuất hiện dưới thời vua Lê Đại Hành trong cuộc chiến chống quân Tống năm 981 chứ không phải là trong cuộc chiến tranh năm 1076 của Lý Thường Kiệt.

Xác định thời điểm ra đời của bài thơ như thế không những phù hợp với nội dung ý nghĩa bài thơ như một Tuyên Ngôn Độc Lập mà còn phù hợp với cung cách cuộc chiến tranh Vệ quốc của vua Lê Đại Hành. Bài thơ, dạng Tuyên ngôn độc lập, cho vua Tống biết sự độc lập tự chủ của nhà nước Việt Nam! Rằng nhà nước đang làm chủ đất nước ấy từ thời Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán năm 939 cho đến khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi Hoàng đế vào năm 968 mà những người lãnh đạo Đại Việt chưa có cơ hội để công bố!

Vậy nên, nếu coi bài thơ THẦN ấy xuất hiện vào năm 1076 thì thật lạ lùng! Bởi nước ta độc lập đã gần 2 thế kỷ mới có Tuyên ngôn độc lập sao? (Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Trang 517).

Thiền sư cũng dẫn thêm hai bộ sử viết bằng tiếng Việt là Việt sử diễn âm và Thiên Nam ngữ lục được viết vào thế kỷ 16 và 17. Hai bộ sử đều thống nhất và có chung một kết luận về lai lịch của bài thơ THẦN này.

… Bỗng nghe mảng tiếng hư không/ Thần nhân hiện xuống có thơ ngâm rằng. Thi văn- Trích- dẫn thơ. Nam quốc sơn hà Nam đế cư…

(Trích trong Việt sử diễn âm)

Còn trong Thiên Nam ngữ lục gần như tiếp thu quan điểm của Việt sử diễn âm.

Bấy giờ binh mã sửa sang/ Địch cùng Nhân Bảo là thằng giặc Ngô…

Ngày sau Nhân Bảo ra quân/ Trên không nghe tiếng người ngâm thơ rằng. Thi văn- Trích- dẫn thơ. Nam quốc sơn hà Nam đế cư… (Sdd, trang 521).

(Cũng cần nói thêm, theo GS Trần Ngọc Vương, trong một công trình nghiên cứu khác đã dẫn ra các địa danh hiển linh của hai vị nhân thần Trương Hống, Trương Hát từng trợ giúp vua Lê Đại Hành đánh quân Tống. Tại những nơi ấy, qua nhiều triều đại đã có hàng chục tấm bia khắc, chép bài thơ THẦN Nam quốc sơn hà…).

Cuối cùng, Thiền sư GS Lê Mạnh Thát cho rằng, vấn đề dù là thơ Thần đi nữa cũng phải do con người làm ra! Phải thông qua con người cụ thể nào đó để đọc lên.

Vậy thì ai có khả năng làm bài thơ này?

Để trả lời câu hỏi này trong số những nhân vật trong Bộ tham mưu của Lê Đại Hành trong cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 981, không ai có điều kiện gần gũi nhà vua hơn Thiền sư Pháp Thuận, người tham gia vận trù kế sách ngay từ lúc vua Lê Đại Hành sáng nghiệp.

Hơn nữa nếu những văn thư ngoại giao dưới triều vua Lê Đại Hành đều do Pháp Thuận soạn thảo thì chứng tỏ Pháp Thuận sáng tác bài thơ THẦN là một kết luận hợp lý!

Bài thơ đã hòa nhập nhuần nhuyễn và thể hiện được khuynh hướng nổi bật của dòng văn học thời sự chủ lưu các thế kỷ ấy. Khuynh hướng văn học nổi bật này đã đã chi phối gần 300 năm phát triển của văn học Việt Nam với sự tập trung cao độ nóng bỏng nhất của dân tộc thời bấy giờ là vấn đề làm chủ đất nước!

Vì những lẽ trên, đã đến thời điểm trả lại bài thơ THẦN về cho cuộc chiến tranh Vệ quốc năm 981 của vua Lê Đại Hành?

Xuân Ba
Xem toàn bài viết tại: https://bit.ly/4qquaMI

Mahabodhi Temple in Bihar , Bodhgaya, India
10/01/2026

Mahabodhi Temple in Bihar , Bodhgaya, India

Address

Ba Ria

Telephone

+84938781652

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Viên Quang- ĐTL posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Chùa Viên Quang- ĐTL:

Shortcuts

Share