Giáo xứ Chánh Toà Bà Rịa

Giáo xứ Chánh Toà Bà Rịa Giáo hạt Bà Rịa - Giáo phận Bà Rịa
Đ/c: 227 Cách Mạng Tháng Tám, Phước Hiệp,
Tp. Chiều Thứ Bảy
- 18g00
2.

Bà Rịa, Tỉnh BRVT
Bổn mạng: Thánh Giacôbê và Thánh Philipphê
Giờ lễ ngày thường:
Sáng: 05g00 - Chiều: 18g00
Giờ lễ Chúa Nhật:
• T7: 18g00
• CN: 05g00 - 07g00 - 17g00 - 19g00 GIỜ LỄ:
Từ ngày 13.02.2022, tại nhà thờ Chánh Tòa Bà Rịa, các Thánh lễ được cử hành vào khung giờ sau:

THÁNH LỄ CHÚA NHẬT:
1. Chúa Nhật
- 05g00
- 07g00
- 17g00
- 19g00
THÁNH LỄ CÁC NGÀY THƯỜNG:
- 5g00 sáng
- 18g00

27/08/2026

Film Recap| Giới Hiền Mẫu Giáo xứ Chánh Tòa sinh hoạt mừng bổn mạng - 26.8.2026

BTT. Giáo xứ

5 PHÚT LỜI CHÚA MỖI NGÀY28.8.2026      THỨ SÁU TUẦN 21 THƯỜNG NIÊNThánh Au-gút-ti-nô, giám mục LỜI CHÚA: Mt 25,1-13KHÔNG...
27/08/2026

5 PHÚT LỜI CHÚA MỖI NGÀY
28.8.2026 THỨ SÁU TUẦN 21 THƯỜNG NIÊN
Thánh Au-gút-ti-nô, giám mục

LỜI CHÚA: Mt 25,1-13

KHÔNG XAO LÃNG CÙNG ĐÍCH
“Các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo.” (Mt 25,4-5)

SUY NIỆM: Lễ cưới của người Do Thái diễn ra ban đêm, nhằm tránh cái nóng thiêu đốt ban ngày. Mười cô trinh nữ có nhiệm vụ mang đuốc được thắp sáng bằng dầu ô-liu, nhảy múa khi đưa cô dâu về nhà chồng cùng với chàng rể. Đuốc này khoảng 10 -15 phút là phải châm dầu. Do đó, phải có bình dầu ô-liu dự phòng. Đến đây, ta thấy rõ năm cô khôn giỏi tính toán, đem dầu dự phòng, cùng năm cô dại vô tư không có bình dự trữ. Điều này hơi lạ, ắt hẳn các cô phải biết bình dầu dự phòng rất cần thiết chứ! Các cô biết, đương nhiên, nhưng có thể mải mê lo trang điểm, quần áo, trang sức, lơ là chuyện cần kíp ấy. Người khôn ngoan nắm vững mục đích cuộc đời mình, sắp xếp thứ tự ưu tiên để đạt cho bằng được cùng đích tối hậu ấy.

MỜI BẠN: Khôn ngoan là nhìn thấy xa hơn những gì xảy ra trước mắt; khờ dại là chỉ thấy cái hiện tại, mà không lường trước việc tương lai. Rất nhiều điều trong cuộc sống hằng ngày làm bạn xao lãng cùng đích đời mình là tôn vinh Chúa và tìm ơn cứu độ cho mình cũng như cho người khác. Tựa năm cô khôn, bạn hãy chú tâm đến hạnh phúc Nước Trời, gạt bỏ những gì không thật sự cần thiết, để dành ưu tiên “tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước,” rồi mọi sự sẽ được sắp đặt đúng vị trí giá trị của chúng.

SỐNG LỜI CHÚA: Tôi xem điều gì đang làm tôi xao lãng, quên đi cùng đích tối hậu của đời người Ki-tô hữu, để rồi tìm cách chỉnh sửa cho đúng.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su, Chúa chính là chàng rể đến bất ngờ đón con về với Chúa. Xin cho con luôn tỉnh thức, đi đúng con đường Chúa muốn. Amen.

Nguồn: https://giaophandanang.org/
---

Ngày 28-08Thánh AUGUSTINÔGiám mục Tiến Sĩ Hội Thánh (354 - 430)***Thánh Augustinô sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 tại Thag...
27/08/2026

Ngày 28-08
Thánh AUGUSTINÔ
Giám mục Tiến Sĩ Hội Thánh (354 - 430)

***

Thánh Augustinô sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 tại Thagaste miền Numidia nay là Souk-Akras nước Algeria. Ông Patricô, cha ngài là một tiểu nông và là nghị viên thành phố. Ong là lương dân và chỉ theo đạo vào lúc cuối đời. Mẹ Ngài là thánh Monica đã nhờ kinh nguyện, lòng nhẫn nại và tình yêu không biết mệt mỏi đã cải hoá con. Theo thói quen thời đó, Augustinô thuộc vào số những ứng viên lãnh phép rửa tội, nhưng lại trì hoãn để tránh nguy cơ phạm tội, Ngài chỉ được thánh Ambrosiô rửa tội cho sau khi trở lại vào tuổi 32.

Augustinô đã theo học những lớp về văn chương tại Thagaste và Madaura, cuối cùng Ngài theo học khoa tu từ tại Carthage. Đời sống luân lý của Ngài vào thời kỳ này không đến nỗi tồi tệ mà có lẽ khá hơn nhiều những thanh niên cùng thời và chúng ta không nên gắt gao kết án lối cư xử của Ngài theo sát chữ viết trong cuốn "tự thuật", chắc chắn Ngài có một tình nhân và trung tín với nàng cho tới năm 385. Ngài đã có với nàng một người con tên là Adcodatus cũng vào thời này Ngài trở thành người theo phái Manichêô.

Năm 383, Augustinô đến Roma dạy tu từ và năm 384 có được một địa sở tại Milan. Lúc này Ngài đã thấu suốt được thuyết Manichêô và rơi vào tình trạng nghi nan bất định. Tại Milan Ngài có dịp tiếp xúc với vị giám mục thời danh của giáo phận nầy là thánh Ambrosiô. Các bài giảng của thánh nhân cho Ngài thấy lần đầu tiên rằng Ngài có thể tin vào Thánh Kinh như sự giải thích của Giáo hội mà không phải hy sinh sự hiểu biết của mình. Ngài còn đọc sách của những nhà tân học phái Platôn như Plotinê và Per phyry, Những sách đã chữa cho Ngài khỏi thuyết duy vật của Manichêô và đưa Ngài vào triết học linh thiêng hơn, phù hợp với mạc khải Kitô giáo.

Augustinô đã xác tín về sự chân thật của Kitô giáo vẫn chưa đi đến bước quyết định, cho tới tháng 9 năm 386 khi Ngài trải qua một kinh nghiệm bất ngờ nhưng được chuẩn bị từ trước. Ngài đã trình bày kinh nghiệm ấy trong cuốn VIII bộ "tự thuật". Đây là cuộc trở lại Kitô giáo lẫn cuộc sống khổ hạnh đã theo đuổi bậc trọn lành. Bỏ nghề, Ngài lui về Cassiciacum, gần Milan, cùng thánh nữ Monica mẹ Ngài và Adeodatus con Ngài, với một số bạn bè. Tại đây, Ngài bắt đầu viết và xuất bản một số tác phẩm và trau dồi về triết học, những tác phẩm đầu tiên của Ngài.

Ngài được thánh Ambrosiô rửa tội vào lễ phục sinh năm 387 rồi cùng mẹ và các bạn trở về Phi Châu. Thánh nữ Monica qua đời trên đường về tại Ostia. Tại Phi Châu theo lời khuyên của Đức Cha Valêriô địa phận Kippô, Ngài xin làm linh mục và được thụ phong năm 391. Năm 395, Ngài được tấn phong làm giám mục phụ tá và chẳng bao lâu sau lên kế vị đức cha Valêriô làm giám mục Hippô. 35 năm còn lại, Ngài bận rộn với công việc mệt nhọc của một giám mục địa phận, đồng thời vẫn dành giờ để trước tác. Ngoài tác phẩm được biết nhiều là bộ "tự thuật" còn nhiều tác phẩm thần học của Ngài (gồm 96 cuốn không kể các bài giảng và thư tín) đã mang lại sức sống mãnh liệt cho Giáo hội thời đó lẫn ngày nay.

Thánh Augustinô sống đời tu viện với hàng giáo sĩ và làm mọi sự để khích lệ việc canh tân các cộng đoàn tu sĩ. Hai bài giảng về đời sống khổ hạnh trong cộng đoàn và một bức thư dài về các nguyên tắc mà Ngài viết cho các cộng đoàn nữ tu do Ngài thành lập và em Ngài là bề trên tiên khởi, làm thành "luật thánh Augustinô".

Thánh Possidiô bạn Ngài đã viết một bản tường thuật rất hay về đời giám mục của thánh Augustinô. Bản tường thuật này cho thấy Ngài là một người rất nhân bản, dễ thương và giàu lòng bác ái, tận tụy phục vụ cộng đoàn, thích sống nghèo khó nhưng lại hiếu khách. Chỉ có một điều Ngài không thể tha thứ được là gương mù tại bàn ăn. Ngài luôn dấn thân vào việc bệnh vực Giáo hội chống lại các người theo lạc giáo như những người theo phái Manichêô, Phômatô, Pêlagiô. Cuộc tranh luận với Pêlagiô đã để lại những bút tích của thánh Augustinô về ơn thánh. Với ảnh hưởng lớn lao trong Giáo hội sau này. Dầu nhiệt tâm chống lại lạc thuyết, thánh Augustinô vẫn luôn lịch sự và thân ái khi đối thoại với các người theo lạc giáo.

Thánh Augustinô đã sống để chứng kiến cuộc xâm lược man rợ của người Vandal vào Phi Châu bắt đầu từ năm429. Ngày 28 tháng 8 năm 430 Ngài từ trần, hưởng thọ 76 tuổi, Ngài không để lại chúc thư vì không có tài sản gì. Nhưng kể từ khi qua đời tới nay, di sản tư tưởng của Ngài được ghi nhận là phong phú nhất sau thánh Phaolô.

Nguồn: https://www.giaophanbaria.org/hanh-cac-thanh

TGM. BÀ RỊA: THÔNG BÁO V/v CỬ HÀNH NGÀY THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN CHO VIỆC CHĂM SÓC THỤ TẠO***
27/08/2026

TGM. BÀ RỊA: THÔNG BÁO V/v CỬ HÀNH NGÀY THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN CHO VIỆC CHĂM SÓC THỤ TẠO
***

SUY NIỆM LỜI CHÚA HẰNG NGÀY*****VỪA MANG ĐÈN, VỪA MANG DẦU (28/8/2024 – THỨ SÁU TUẦN 21 THƯỜNG NIÊN)***Bài Ðọc I: 1Cr 1,...
27/08/2026

SUY NIỆM LỜI CHÚA HẰNG NGÀY
*****
VỪA MANG ĐÈN, VỪA MANG DẦU
(28/8/2024 – THỨ SÁU TUẦN 21 THƯỜNG NIÊN)
***
Bài Ðọc I: 1Cr 1, 17-25
“Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm đối với người đời, nhưng là sự khôn ngoan đối với những người Thiên Chúa kêu gọi”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, Ðức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Ðức Kitô ra hư không.
Vì chưng lời rao giảng về thập giá là sự điên rồ đối với những kẻ hư mất; nhưng đối với những người được cứu độ là chúng ta, thì điều đó là sức mạnh của Thiên Chúa. Vì như đã chép rằng: “Ta sẽ phá huỷ sự khôn ngoan của những kẻ khôn ngoan, sẽ chê bỏ sự thông sáng của những người thông sáng”. Người khôn ngoan ở đâu? Người trí thức ở đâu? Người lý sự đời này ở đâu? Nào Thiên Chúa chẳng làm cho sự khôn ngoan của thế gian này trở nên ngu dại sao? Vì khi thế gian tự phụ là khôn, không theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà nhận biết Thiên Chúa, thì Thiên Chúa đã muốn dùng sự điên rồ của lời rao giảng để cứu độ những kẻ tin. Vì chưng, các người Do Thái đòi hỏi những dấu lạ, những người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do Thái, một sự điên rồ đối với các người ngoại giáo, nhưng đối với những người được kêu gọi, dầu là Do Thái hay Hy Lạp, thì Ngài là Chúa Kitô, quyền năng của Thiên Chúa, và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, vì sự điên dại của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự khôn ngoan của loài người, và điều yếu đuối của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự mạnh mẽ của loài người.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 32, 1-2. 4-5. 10ab và 11
Ðáp: Ðịa cầu đầy ân sủng của Chúa.

Xướng: 1) Người hiền đức, hãy hân hoan trong Chúa! Ca ngợi là việc của những kẻ lòng ngay. Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa.
Ðáp: Ðịa cầu đầy ân sủng của Chúa.

2) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng của Chúa.
Ðáp: Ðịa cầu đầy ân sủng của Chúa.

3) Chúa phá tan ý định của các nước, làm cho vô hiệu tư tưởng của chư dân. Ý định của Chúa tồn tại muôn đời, tư tưởng lòng Người còn mãi đời nọ sang đời kia.
Ðáp: Ðịa cầu đầy ân sủng của Chúa.

Alleluia: 1Tx 2,13
Alleluia, alleluia! - Anh em hãy đón nhận lời Chúa, không phải như lời của loài người, mà là như lời của Thiên Chúa, và đích thực là thế. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 25, 1-13
“Kìa chàng rể đến, hãy ra đón người”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này: “Nước trời giống như mười trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể. Trong số đó, có năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan. Năm cô khờ dại mang đèn mà không đem dầu theo. Còn những cô khôn ngoan đã mang đèn, lại đem dầu đầy bình. Vì chàng rể đến chậm, nên các cô đều thiếp đi và ngủ cả.
“Nửa đêm có tiếng hô to: Kìa, chàng rể đến, hãy ra đón người. Bấy giờ các trinh nữ đều chỗi dậy, sửa soạn đèn của mình. Những cô khờ dại nói với các cô khôn ngoan rằng: “Các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em đã tắt cả”. Các cô khôn ngoan đáp lại rằng: “E không đủ cho chúng em và các chị, các chị ra (nhà) hàng mà mua thì hơn”. Song khi họ đang đi mua, thì chàng rể đến. Những trinh nữ đã sẵn sàng, thì theo chàng rể cùng vào tiệc cưới, và cửa đóng lại. Sau cùng các trinh nữ kia cũng đến và nói: “Thưa ngài, xin mở cửa cho chúng tôi”. Nhưng người đáp lại: “Ta bảo thật các ngươi, ta không biết các ngươi”. Vậy hãy tỉnh thức, vì các con không biết ngày nào, giờ nào”.
Ðó là lời Chúa.

SUY NIỆM:

Chẳng ai nghĩ đi ăn sinh nhật là để chết.
Chẳng ai nghĩ mình sẽ chết vào ngày sinh nhật của mình.
Vụ cháy ở nhà hàng Hoàng Hôn đường Ðiện Biên Phủ, nhắc cho ta về sự bất ngờ của cái chết.
Cái chết đến khi mọi người đang say ngủ, sau bữa tiệc sinh nhật.
Chín người chết vì không thể ra khỏi căn nhà bốc cháy.

Ðoạn Tin Mừng hôm nay nhắc ta rằng Chúa đến bất ngờ, như chú rể đến lúc nửa đêm.
Chúng ta phải sẵn sàng như năm cô phù dâu khôn ngoan, hân hoan ra đón chú rể, tay cầm đèn thắp sáng.
Thật ra năm cô dại chẳng phải là hạng vô tích sự.
Chắc họ đã lo trang điểm cho mình.
Khi biết mình hết dầu, họ đã lo vay mượn.
Và khi bị từ chối, họ đã đi mua dầu giữa đêm khuya.
Lúc có đèn sáng, họ đã gõ cửa xin vào dự tiệc cưới.
Nhưng muộn quá!
“Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô!”

Chẳng nên đổ lỗi cho chú rể đến chậm, khiến đèn của mình hết dầu.
Chẳng nên trách móc các cô khôn ngoan, vì họ cần có đủ dầu để thắp sáng cho tiệc cưới giữa đêm khuya.
Chỉ nên nhận mình đã chểnh mảng, không mang dầu dự trữ.

Có đèn. Không đủ!
Ðèn cần phẳi sáng, sáng lúc Chúa đến bất ngờ.
Như thế cũng có nghĩa là phải luôn luôn sáng.
Mang danh là Kitô hữu. Không đủ!
Tham gia vào một số sinh hoạt tôn giáo. Không đủ!
Cần phải sống hết mình những đòi hỏi của Chúa.
Ðòi hỏi lớn nhất là yêu thương.
Trong Hội Thánh, vẫn có những cô khôn và cô dại, có những người đèn đã hết dầu từ lâu...
Cần chăm chút cho ngọn đèn đời mình.
Cần nuôi dưỡng nó bằng thứ dầu của tình yêu bao dung, của niềm hy vọng vững vàng, của niềm tin sắt đá.
Cần châm thêm dầu mỗi ngày...

Hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.
Tỉnh thức không phải là không ngủ...
Cả mười cô trinh nữ phù dâu đều đã thiếp ngủ.
Tỉnh thức không phải là suốt ngày đọc Lời Chúa, nhưng là để Lời Chúa chi phối mình suốt ngày.
Chẳng ai biết lúc nào tận thế.
Chẳng ai biết giờ chết của mình.
Chẳng ai biết hôm nay Chúa hẹn mình ở đâu, trong biến cố nào, nơi con người nào.
Chính vì thế phải tỉnh thức luôn, cả trong giấc ngủ.
Người ta biết mình bắt đầu tỉnh thức, khi nhận ra mình đã mê muội.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa Giêsu,
nếu ngày mai Chúa quang lâm,
chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.

Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang,
còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt,
Chúa đâu muốn mất một người nào...

Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa
xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng,
vui tươi và hạnh phúc,
để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn
cho mọi người và cho cả vũ trụ.


Xin nuôi dưỡng nơi chúng con
niềm tin vững vàng
và niềm hy vọng nồng cháy,
để tất cả những gì chúng con làm
đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
https://hdgmvietnam.com/
-----

CÔ ĐƠN HAY TÌNH CẢM? TẠI SAO MỘT LINH MỤC RỜI BỎ THỪA TÁC VỤ?Chuyển ngữ: Lm. Titô Trần Nguyên Lãm---WHĐ (27/8/2026) - Bà...
27/08/2026

CÔ ĐƠN HAY TÌNH CẢM? TẠI SAO MỘT LINH MỤC RỜI BỎ THỪA TÁC VỤ?

Chuyển ngữ: Lm. Titô Trần Nguyên Lãm
---
WHĐ (27/8/2026) - Bài viết phân tích những nguyên nhân khiến một số linh mục rời bỏ thừa tác vụ, vượt xa vấn đề khủng hoảng đức tin hay tình cảm. Sự cô đơn, kiệt sức, thiếu nâng đỡ, gánh nặng hành chính và nhu cầu tình huynh đệ cho thấy Giáo hội cần quan tâm hơn đến những điều kiện nhân bản và thiêng liêng giúp linh mục sống trọn vẹn ơn gọi.

Khi một linh mục rời bỏ thừa tác vụ, người ta thường quy nguyên nhân về một trong hai khả năng quen thuộc: khủng hoảng đức tin hoặc xuất hiện một mối quan hệ tình cảm. Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc các linh mục rời bỏ thừa tác vụ cho thấy một bức tranh phức tạp hơn. Trong nhiều trường hợp, việc rời bỏ thừa tác vụ dường như không phải là kết quả của một quyết định đột ngột duy nhất, nhưng là giai đoạn cuối của một tiến trình kéo dài, trong đó sự cô đơn, kiệt sức, thiếu sự nâng đỡ và gánh nặng công việc quản trị mục vụ dần dần làm suy giảm khả năng của một linh mục trong việc kiên trì sống ơn gọi của mình.

“Sự cô đơn chức năng”

Một trong những vấn đề ít được nhìn thấy là điều mà các nghiên cứu xã hội học gọi là “sự cô đơn chức năng”. Một linh mục có thể dành gần như mỗi ngày ở giữa rất nhiều người – cử hành Thánh lễ, giải tội, thăm viếng các gia đình, tham dự các cuộc họp và điều hành các hoạt động giáo xứ – nhưng lại có rất ít mối quan hệ trong đó ngài có thể thành thật nói về những nỗi sợ hãi, sự mệt mỏi hay những nghi vấn của chính mình.

Nghiên cứu của nhà xã hội học người Mỹ Dean R. Hoge cho thấy 46% các linh mục đã rời bỏ thừa tác vụ trong số người mà ông nghiên cứu đã đề cập đến hình thức cô đơn này. Nghịch lý thật đáng chú ý: một linh mục có thể được bao quanh bởi rất nhiều người về mặt xã hội, nhưng vẫn bị cô lập về mặt cá nhân.

Sự phân biệt này rất quan trọng, bởi vì đời sống linh mục không đơn thuần là một nghề nghiệp đòi hỏi nhiều nỗ lực. Đời sống ấy đặt một người vào vị trí mà những người khác thường xuyên tìm đến với những vấn đề sâu kín nhất của họ, trong khi chính linh mục lại được mong đợi phải luôn là nguồn đem lại sự bình yên, hướng dẫn và sức mạnh thiêng liêng. Nếu không có những mối quan hệ đáng tin cậy, nơi chính linh mục có thể nhận được sự nâng đỡ, thì sự bất cân xứng này có thể dần trở nên bào mòn.

Một mô thức tương tự cũng xuất hiện trong nghiên cứu của Yulius Sunardi, cho thấy tình trạng cô lập kéo dài có thể góp phần dẫn đến một cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn theo thời gian. Điều này cũng làm phức tạp thêm giả định phổ biến cho rằng một mối quan hệ tình cảm nhất thiết là nguyên nhân khiến một linh mục từ bỏ thừa tác vụ.

Trong một số trường hợp, một mối quan hệ tình cảm có thể xuất hiện sau một thời gian dài những nhu cầu nhân bản và tình cảm không được đáp ứng. Mối quan hệ ấy có thể trở thành biểu hiện của một cuộc khủng hoảng vốn đã âm ỉ từ trước, chứ không phải là biến cố ban đầu gây ra cuộc khủng hoảng.

Điều đó không có nghĩa là mối quan hệ ấy không quan trọng, cũng không loại bỏ trách nhiệm cá nhân. Tuy nhiên, nó cho thấy rằng để ngăn ngừa việc các linh mục rời bỏ thừa tác vụ, cần quan tâm đến những điều kiện thực tế mà các linh mục đang sống, thay vì chỉ tập trung vào thời điểm cuộc khủng hoảng trở nên rõ ràng.

Một áp lực khác đến từ sự biến đổi của chính đời sống giáo xứ

Một người bước vào chủng viện với hy vọng trước hết là rao giảng, cử hành các bí tích và đồng hành thiêng liêng với mọi người, có thể nhận ra rằng phần lớn thời gian làm việc trong tuần của mình lại bị chiếm dụng bởi ngân sách, nhân sự, cơ sở vật chất, giấy tờ, các yêu cầu về quy định, việc sắp xếp lịch trình và những quyết định mang tính tổ chức. Các nhà xã hội học đã mô tả chiều kích hành chính ngày càng gia tăng này bằng thuật ngữ “sự quản trị điều thánh” (administration of the sacred).

Vấn đề không phải là việc quản trị không cần thiết. Các giáo xứ cần được điều hành một cách có năng lực, và các linh mục không thể đơn giản bỏ qua những trách nhiệm vật chất gắn liền với cộng đoàn của mình. Nguy hiểm xuất hiện khi những đòi hỏi về quản trị dần dần lấn át công việc mục vụ và đời sống thiêng liêng, vốn là những điều ban đầu đem lại ý nghĩa cho ơn gọi.

Vivencio Ballano còn nhận diện một yếu tố khác: các linh mục có thể không nhận được đầy đủ sự hỗ trợ và hướng dẫn từ các Bề trên trong Giáo hội. Một thừa tác vụ vốn đã đòi hỏi nhiều sẽ trở nên khó khăn hơn đáng kể khi một linh mục cảm thấy rằng những người có trách nhiệm chăm lo cho mình chủ yếu quan tâm đến việc giáo xứ có hoạt động tốt hay không, hơn là quan tâm đến việc chính vị linh mục ấy có đang xoay xở nổi với những gánh nặng của mình hay không.

Điều này đặt ra một câu hỏi về việc đào tạo linh mục. Việc đào tạo tại chủng viện có thể nghiêm túc về mặt học thuật và sâu sắc về mặt thiêng liêng, nhưng vẫn chưa chuẩn bị đầy đủ cho các linh mục tương lai trước những thực tế tâm lý của nhiều thập niên thi hành thừa tác vụ. Những khó khăn ấy có thể chưa xuất hiện trong thời gian đào tạo, thậm chí cũng chưa xuất hiện trong những năm đầu sau khi chịu chức. Chúng có thể xuất hiện mãi về sau, khi nhiệt huyết ban đầu phải đối diện với sức nặng tích tụ của công việc thường nhật, trách nhiệm và sự cô lập.

Tình huynh đệ giữa các linh mục
Chính vì thế, tình huynh đệ giữa các linh mục cần được nhìn nhận không phải như một điều xa xỉ tùy chọn trong mục vụ, nhưng như một phần của nền tảng cần thiết để duy trì một đời sống linh mục bền vững.

Đức Thánh cha Lêô XIV đã đề cập chính xác đến vấn đề này vào tháng 02 năm 2026, khi lưu ý đến nguy cơ các linh mục bị cô lập và khuyến khích các ngài vun đắp tình bạn cũng như những mối tương quan đích thực giữa mình với tha nhân. Điểm nhấn của ngài về tình huynh đệ hướng đến một nguyên tắc tương đối đơn giản nhưng có thể mang lại những hiệu quả sâu sắc: các linh mục cần có người khác để họ có thể được sống đúng tư cách là linh mục, thay vì lúc nào cũng là những người mà mọi người khác tìm đến.

Điều này cũng có ý nghĩa quan trọng đối với các giám mục và các cơ cấu giáo phận. Nếu một linh mục được kỳ vọng phải gần như một mình gánh vác những gánh nặng thiêng liêng, cảm xúc và hành chính của một giáo xứ ngày càng phức tạp, thì cuối cùng sức mạnh và khả năng chịu đựng của cá nhân sẽ không thể thay thế đầy đủ cho sự hỗ trợ của cơ cấu tổ chức.

Giáo hội Công giáo có những lý do chính đáng để bảo vệ luật độc thân linh mục và tính chất đặc thù của chức linh mục. Nhưng bảo vệ một ơn gọi không có nghĩa là bỏ qua những điều kiện nhân bản cần thiết để ơn gọi ấy có thể phát triển tốt đẹp. Đời sống độc thân không phải là sự phủ nhận nhu cầu về tình bạn, tình cảm hay cộng đoàn; trái lại, chính vì bao hàm việc từ bỏ đời sống hôn nhân và gia đình, nên đời sống độc thân càng làm cho những hình thức tình huynh đệ thiêng liêng và nhân bản vững chắc trở nên đặc biệt quan trọng.

Bài học từ các nghiên cứu
Vì thế, bài học từ các nghiên cứu không chỉ liên quan đến câu hỏi tại sao một số linh mục rời bỏ thừa tác vụ. Vấn đề rộng hơn là Giáo hội có thể giúp các linh mục tiếp tục sống ơn gọi của mình với sự tự do, trưởng thành và niềm vui như thế nào.

Câu trả lời hữu hiệu nhất có thể bắt đầu từ rất lâu trước khi một linh mục nghĩ đến việc rời bỏ thừa tác vụ: chuẩn bị tốt hơn cho những thực tế của đời sống mục vụ; sự lãnh đạo tận tâm của các giám mục; những tình bạn có ý nghĩa giữa các giáo sĩ; bảo vệ các linh mục khỏi tình trạng cô lập kéo dài; và phân bổ các công việc hành chính một cách hợp lý hơn.

Một linh mục không cần phải được bao quanh bởi nhiều người chỉ vì ngài làm việc giữa họ. Ngài cần những mối tương quan nơi mà ngài có thể được người khác biết đến, nâng đỡ và góp ý.

Đối với một ơn gọi được xây dựng trên sự hiệp thông, đây có thể là một trong những nhu cầu thiết yếu nhưng dễ bị bỏ quên nhất.

Tác giả: Ban Biên tập Zenit (zenit.org)
https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/co-don-hay-tinh-cam-tai-sao-mot-linh-muc-roi-bo-thua-tac-vu

MỘT LINH MỤC, MỘT NGƯỜI LÍNH HẤP HỐI VÀ MỘT BỨC ẢNH ĐI VÀO LỊCH SỬChuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên---WGPVL (...
27/08/2026

MỘT LINH MỤC, MỘT NGƯỜI LÍNH HẤP HỐI VÀ MỘT BỨC ẢNH ĐI VÀO LỊCH SỬ

Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
---
WGPVL (25/8/2026) - Bức ảnh lịch sử chụp ngày 02/6/1962 tại Puerto Cabello, Venezuela, ghi lại khoảnh khắc Cha Luis María Padilla ban Bí tích Xức dầu Bệnh nhân cho một người lính hấp hối giữa làn đạn. Nhiếp ảnh gia Héctor Rondón Lovera đã đoạt giải World Press Photo và Pulitzer nhờ tác phẩm này, trở thành người Mỹ Latinh đầu tiên đạt cả hai giải thưởng danh giá. Hình ảnh này minh chứng cho lòng bác ái của linh mục và sự can đảm của người làm báo trong bối cảnh chiến tranh.

[Xem ảnh] Crédit : Cortesía
Bức ảnh này được chụp vào ngày 02 tháng 6 năm 1962, trong một cuộc nổi dậy ở Puerto Cabello, Venezuela, cho thấy Cha Luis María Padilla đang chăm sóc một người lính bị thương nặng. Tác giả của bức ảnh, Héctor Rondón Lovera, đã nhận được giải thưởng World Press Photo năm 1962 và giải Pulitzer năm 1963 cho bức ảnh này.

Ngày 02 tháng 6 năm 1962, rạng sáng. Tại Puerto Cabello, một thành phố cảng ở Venezuela, sự yên tĩnh đột ngột bị phá vỡ bởi tiếng súng và tiếng nổ lựu đạn. Một cuộc nổi dậy dân sự - quân sự, được gọi là “Porteñazo,” vừa nổ ra chống lại chính phủ của Tổng thống Rómulo Betancourt. Cuộc giao tranh vô cùng dữ dội: hơn 400 người chết và 700 người bị thương, trong khi hơn một nghìn người bị bắt giữ.

Giữa khung cảnh hỗn loạn đó, trong khi mọi người đang tìm nơi trú ẩn, hai người đàn ông lại tiến về phía nguy hiểm. Người đầu tiên là Héctor Rondón Lovera. Là một nhiếp ảnh gia cho nhật báo La República, ông sinh năm 1933 tại Bruzual. Trước khi cống hiến hết mình cho nhiếp ảnh, ông đã làm nhiều công việc khác nhau: lái taxi, thợ sửa ống nước, và cả cầu thủ bóng chày ở giải hạng thấp.

Ngày hôm đó, bất chấp việc báo chí bị cấm vào khu vực giao tranh, Héctor Rondón vẫn mạo hiểm tiến vào trung tâm trận chiến. Tìm nơi trú ẩn tạm bợ trong lối vào một cửa hàng ở khu La Alcantarilla, “vũ khí” duy nhất của ông là một chiếc máy ảnh Leica. Trong khoảng ba mươi phút, dưới làn đạn và khi binh lính ngã xuống xung quanh, ông đã chụp ảnh trận chiến.

Một chiếc áo choàng đen giữa làn đạn

Sau khi các xe bọc thép rút lui, một bóng người mặc áo choàng đen đột nhiên xuất hiện, bước đi trên đường phố bất chấp sự hiện diện của các tay bắn tỉa ẩn nấp trong các ngôi nhà. Đó là Cha Luis María Padilla, linh mục tuyên úy của căn cứ hải quân Puerto Cabello và Cha sở của Borburata.

Sinh ra ở Montalbán năm 1902, vị linh mục tiến đến gần một người lính bị thương nặng nằm trên vỉa hè. Người thanh niên cố gắng ngẩng đầu lên và kêu cứu. Cha Padilla bước tới và đỡ anh ta trong vòng tay mình. Ngay lúc đó, một loạt đạn súng máy khác bắn trúng người lính. Bất chấp làn đạn, vị linh mục vẫn ở bên cạnh anh ta. Ngài ôm người thanh niên đang hấp hối trong vòng tay và ban Bí tích Xức dầu Bệnh nhân. Người lính trút hơi thở cuối cùng. Cách đó vài mét, Héctor Rondón lấy máy ảnh Leica ra và ghi lại cảnh tượng.

Một bức ảnh đã trở thành lịch sử

Bức ảnh sau đó được biết đến rộng rãi trên toàn thế giới với tên gọi La ayuda del padre, “Sự giúp đỡ từ vị cha sở.” Được gửi đến ban biên tập của tờ La República, sau đó được hãng thông tấn Associated Press phân phối quốc tế, bức ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ bởi sự tương phản giữa bạo lực của cuộc giao tranh và cử chỉ ân cần của vị linh mục dành cho người lính bị thương.

Bức ảnh này đã mang về cho Héctor Rondón Lovera hai trong số những giải thưởng danh giá nhất trong lĩnh vực nhiếp ảnh báo chí: giải World Press Photo năm 1962 và giải Pulitzer năm 1963. Nhờ đó, ông trở thành người Venezuela đầu tiên và người Mỹ Latinh đầu tiên giành được cả hai giải thưởng này.

Hơn bốn mươi năm sau, vào năm 2005, bức ảnh một lần nữa được tôn vinh ở Hà Lan: bưu điện Hà Lan đã sử dụng nó trên tem kỷ niệm phát hành nhân dịp kỷ niệm thành lập World Press Photo. Héctor Rondón qua đời năm 1984 và Đức ông Luis María Padilla qua đời năm 1985. Bức ảnh chụp ngày 02 tháng 6 năm 1962 tại Puerto Cabello vẫn là một trong những bằng chứng nổi tiếng nhất về những ngày đẫm máu đó: hình ảnh một linh mục ở bên cạnh một người đang hấp hối giữa tâm điểm giao tranh.

Tác giả: Paulo Teixeira - Aleteia (23/8/2026)

Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên

Nguồn: giaophanvinhlong.net

GIÁO LÝ VỀ CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II (26/8/2026): BÀI 22 – CÁC LÝ DO CỦA CUỘC CẢI CÁCH PHỤNG VỤVatican News---Giáo lý về Côn...
27/08/2026

GIÁO LÝ VỀ CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II (26/8/2026): BÀI 22 – CÁC LÝ DO CỦA CUỘC CẢI CÁCH PHỤNG VỤ

Vatican News
---
Giáo lý về Công đồng Vaticanô II. Phần III. Hiến chế Sacrosanctum Concilium. Bài 22. Các lý do của cuộc cải cách phụng vụ.

Vatican News (26/8/2026) - Sáng thứ Tư, ngày 26/8, Đức Thánh Cha đã có buổi tiếp kiến chung dành cho các tín hữu. Thời tiết Roma vẫn còn nắng nóng nên buổi tiếp kiến đã diễn ra trong Đền thờ thánh Phêrô. Đức Thánh Cha tiếp tục loại bài giáo lý về các Văn kiện của Công Đồng Vaticano II với đề tài "Các lý do của cuộc cải cách phụng vụ", là bài cuối cùng về phụng vụ theo Hiến chế Sacrosanctum Concilium.

Trước khi bắt đầu bài giáo lý, cộng đoàn nghe đoạn Sách Thánh được trích từ thư gởi tính hữu Híp-ri (10,8-10):
Trước hết, Đức Ki-tô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. Theo ý đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ.

Sau đây là toàn văn bài giáo lý của Đức Thánh Cha:

ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
TIẾP KIẾN CHUNG

Đền thờ Thánh Phêrô
Thứ Tư, 26 tháng 8 năm 2026

Anh chị em thân mến,
trong bài giáo lý cuối cùng này về Hiến chế Sacrosanctum Concilium, hôm nay tôi muốn dừng lại ở những lý do khiến các Nghị phụ Công đồng mong muốn thúc đẩy một cuộc cải tổ phụng vụ. Về điểm này, bức Thư thứ ba từ Công đồng mà Đức Hồng y Giovanni Battista Montini, lúc ấy là Tổng Giám mục Milano, gửi ngày 28/10/1962 cho các tín hữu trong Giáo hội địa phương của ngài, giúp làm sáng tỏ điều này. Ngài viết: Phụng vụ “là sự diễn tả chân thành cả yếu tố thần linh lẫn yếu tố nhân loại. Phụng vụ là ngôn ngữ. Một mặt, phụng vụ là phương tiện truyền đạt giáo huấn của Thiên Chúa; mặt khác, là tiếng nói đối thoại với Người. Rõ ràng, phụng vụ không thể từ bỏ chức năng giáo huấn, cũng không thể không tạo cho đức tin và lòng đạo đức khả năng được diễn tả cách tự nhiên và dễ hiểu”. Được thúc đẩy bởi những xác tín này, vị Giáo hoàng tương lai, thánh Phaolô VI, khẳng định rằng các tín hữu “không thể và không được tiếp tục im lặng và thụ động. Sự hiện diện thể lý của họ không thể đi đôi với sự vắng mặt về thiêng liêng”.

Sự tương hợp giữa những tuyên bố này với những điều sau đó xuất hiện tại số 48 của Hiến chế Công đồng là điều rõ ràng: “Giáo hội hết sức quan tâm để các tín hữu không tham dự mầu nhiệm đức tin này như những người xa lạ hay những khán giả im lặng, nhưng nhờ thấu hiểu mầu nhiệm ấy qua các nghi thức và lời nguyện, họ tham dự vào hành động thánh cách ý thức, thành kính và tích cực; được Lời Chúa đào luyện; được nuôi dưỡng nơi bàn tiệc Mình Thánh Chúa; tạ ơn Thiên Chúa; khi dâng lễ vật tinh tuyền, không chỉ qua tay vị linh mục mà còn cùng với ngài, họ học biết dâng chính mình, và ngày qua ngày, nhờ sự trung gian của Đức Kitô, được nên hoàn thiện trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau”. Những lời này cho thấy một ý thức được đổi mới về giá trị của phụng vụ. Qua các hành động nghi lễ của Giáo hội, trong khi việc tưởng niệm công trình cứu độ được thực hiện, con người được ban khả năng sống mối tương quan đích thực với Thiên Chúa, bằng cách tiếp xúc với biến cố cứu độ. Vì các cử chỉ và lời nói của phụng vụ thánh có tính quyết định đối với việc sống kinh nghiệm này, nên sự tham dự của các tín hữu không thể mang tính thụ động.

Cuộc cải tổ của Công đồng, khi được đặt vào trung tâm của điều vốn là cốt lõi của kinh nghiệm Giáo hội, đã muốn làm cho phụng vụ tỏa sáng như “nguồn mạch chính yếu của cuộc trao đổi thần linh, trong đó sự sống của Thiên Chúa được thông truyền cho chúng ta”. Từ xác tín này nảy sinh nhu cầu giúp mọi tín hữu tiếp cận dễ dàng hơn với sự phong phú của các bản văn Kinh Thánh và các lời nguyện, đồng thời làm cho cấu trúc cử hành trở nên mạch lạc hơn so với cấu trúc được quy định trong các sách phụng vụ đang có hiệu lực lúc bấy giờ.

Thật vậy, vì là một thực tại sống động, phụng vụ qua các thế kỷ luôn trải qua những bước phát triển và thay đổi. Huấn quyền đã điều chỉnh các hình thức của phụng vụ cho phù hợp với nhu cầu của từng thời đại. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi Công đồng Vatican II, với sự tôn trọng cao nhất đối với gia sản truyền thống, và chính để giúp gia sản ấy dễ tiếp cận hơn, đã thấy cần phải duyệt xét các sách phụng vụ.

Mục tiêu mà các Nghị phụ đặc biệt quan tâm được trình bày rõ tại số 21 của Hiến chế Sacrosanctum Concilium: “Để dân Kitô giáo nhận được chắc chắn hơn những ân sủng dồi dào mà phụng vụ thánh chứa đựng, Mẹ thánh Giáo hội mong muốn thực hiện một cuộc cải tổ tổng quát kỹ lưỡng về phụng vụ. Thật vậy, phụng vụ gồm một phần bất biến, vì do Thiên Chúa thiết lập, và những phần có thể thay đổi, vốn có thể hoặc thậm chí phải thay đổi theo dòng thời gian, nếu trong đó đã du nhập những yếu tố không còn phù hợp với bản chất nội tại của chính phụng vụ, hoặc nếu những phần ấy không còn thích hợp nữa. Trong cuộc cải tổ này, việc sắp xếp các bản văn và nghi thức phải được thực hiện sao cho những thực tại thánh mà chúng biểu thị được diễn tả rõ ràng hơn, để dân Kitô giáo có thể dễ dàng hiểu được ý nghĩa và có thể tham dự bằng một cử hành trọn vẹn, tích cực và mang tính cộng đoàn”. Sự phân biệt trong phụng vụ giữa các yếu tố thuộc về Thiên Chúa, bất biến, và các yếu tố nhân loại, vốn “có thể trải qua nhiều thay đổi khác nhau, được Hàng Giáo phẩm thánh, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, phê chuẩn, tùy theo nhu cầu của thời đại, hoàn cảnh và các linh hồn” (Acta Apostolicae Sedis 39, 1947, 541-542). Điều này đã có từ Thông điệp Mediator Dei của Đức Giáo hoàng Piô XII.

Hơn nữa, ước muốn về một “cuộc cải tổ tổng quát” không đột nhiên nảy sinh, nhưng đã được thể hiện trong hoạt động của các Giáo hoàng kế vị nhau ngay từ đầu thế kỷ XX, phù hợp với những đòi hỏi của Hoạt động Phụng vụ. Tông hiến Divini Cultus của Đức Piô XI cũng nhắc lại yêu cầu để các tín hữu không tham dự các cử hành “như những người xa lạ hay những khán giả im lặng”. Ngoài ra, có thể nhắc đến những can thiệp của Đức Piô XII đối với việc sắp xếp các nghi thức Tuần Thánh: ngài đã đưa các nghi thức này trở lại những giờ tương ứng với các biến cố Vượt Qua, sau nhiều thế kỷ đã được dời lên sớm vào các giờ ban sáng. Cũng không được quên rằng thánh Gioan XXIII thấy cần phải đơn giản hóa các chữ đỏ của các Giờ kinh Phụng vụ và Sách Lễ, và đã phê chuẩn việc này bằng Tông thư tự sắc Rubricarum instructum, ngày 25/7/1960; trong văn kiện ấy, ngài giao cho Công đồng Đại kết nhiệm vụ đề ra các nguyên tắc nền tảng cho một cuộc cải tổ phụng vụ, như trong lời loan báo Công đồng.

Do đó, cuộc cải tổ phụng vụ do Công đồng Vatican II thúc đẩy nằm trong dòng chảy của truyền thống sống động của Giáo hội. Việc hiểu đúng cuộc cải tổ này cũng giúp loại bỏ những lạm dụng đã xảy ra tại một số nơi trong Giáo hội thời hậu Công đồng, và đáng tiếc đôi khi vẫn còn xảy ra cho đến ngày nay, do tuyệt đối hóa hoặc hiểu sai một số nguyên tắc làm nền tảng cho chính cuộc cải tổ.

Về điểm này, cần nhắc lại rằng Hiến chế Công đồng khẳng định: “Các hành động phụng vụ không phải là những hành động riêng tư, nhưng là những cử hành của Giáo hội, vốn là ‘bí tích hiệp nhất’, nghĩa là dân thánh được quy tụ và tổ chức dưới sự hướng dẫn của các Giám mục. Vì thế, những hành động này thuộc về toàn thể Thân thể Giáo hội, biểu lộ và tác động đến toàn thể Thân thể ấy” (Sacrosanctum Concilium, số 26).

Vì thế, trách nhiệm hàng đầu của các mục tử, của các Giám mục cũng như của từng linh mục, là gìn giữ và cổ võ một nền phụng vụ, trong sự tôn trọng các quy định phụng vụ, tỏa sáng nhờ sự đơn sơ cao quý (x. số 34), và qua đó biểu lộ Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Một nền phụng vụ như thế cũng sẽ là phương tiện căn bản của công cuộc loan báo Tin Mừng, là khí cụ ân sủng qua đó, như Công đồng dạy, chúng ta sẽ có thể học biết hiến dâng chính mình và, nhờ sự trung gian của Đức Kitô, sẽ được nên hoàn thiện trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau (x. số 48).

Sau bài giáo lý, Đức Thánh Cha chào các nhóm tín hữu thuộc các ngôn ngữ khác nhau. Sau đó, ngài cùng hát kinh Lạy Cha bằng tiếng Latinh và ban phép lành cho tất cả mọi người.

https://www.youtube.com/live/Ganui1cldwA?si=fjBgfVPVXqNwirOD
---
Nguồn: vaticannews.va

Address

227, Đường Cách Mạng Tháng Tám
Ba Ria

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giáo xứ Chánh Toà Bà Rịa posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Giáo xứ Chánh Toà Bà Rịa:

Shortcuts

Share