22/01/2026
ÂM NAM ÂM NỮ, DƯƠNG NAM DƯƠNG NỮ TRONG THÁI-TUẾ.
---
*Bài viết chỉ đề-cập đến bổn-mạng trong pháp hóa-giải Thái-Tuế, không đề-cập đến các phương-diện khác.
Không biết trên mạng có các tài-liệu nầy không, tuy nhiên cách trích tài-liệu và lựa các luận-điểm luận-cứ như trong bài là chất xám riêng biệt do Thanh Nguyên Các tự lấy từ sở-học của mình mà sắp xếp, biên-soạn, phiên-dịch, chớ trên mạng không có. Nếu ai chia-sẻ cả bài hoặc có dẫn nguồn thì cứ việc thoải mái. Còn mà cái ngữ nào mà ăn-cắp bài viết quen thói ăn-cớp quen tay ăn-chực quen mồm thì Thanh Nguơn xin gửi lời nhắn là nên ăn-cắp vào buổi trưa ấy. Chớ kẻo sớm muộn gì thì cũng bị trời đánh thánh đâm mưa lâm râm mày chết đuối ăn chuối thì sặc mồm chớ tiêu chảy thì hết giấy! 🙂
- - -
Trong pháp âm-dương mệnh-lí cũng như các bố-cục tử-vi, bói toán, tướng mệnh,... xưa nay vẫn hay đề cập đến các thuật-ngữ “âm nam âm nữ, dương nam dương nữ”. Có lẽ nhiều người chưa biết, bửa nai bổn các huởn huởn nên biên vài giòng giải-thích chơi vậy!
Âm nam, âm nữ, dương nam, dương nữ là 4 hình-thức phân-loại bổn-mạng của con người, nghe thì có vẻ nó quan-trọng huiền-bí chớ thực-chất cũng chỉ là một nhận-định khái-quát ngắn gọn, để tiện cho việc phân-loại giải-pháp cho thuận-tiện hơn thôi, chớ cũng hổng có gì. Ví dụ nếu khi nhắc đến lá số tử-vi của một người, sẽ có rất nhiều thông tin được liệt-kê ra như là tên tuổi, giới-tánh, tứ trụ, bát tự, địa chỉ, cân lượng, chủ mệnh, chủ thân, bổn-mạng,... Vậy thì, nếu phân-tích ra thì sẽ có rất nhiều lượng thông-tin cần liệt-kê, đề-cập và giảng giải, đặng mà ứng-dụng vào trong các tràng-hiệp khác nhau, tuy nhiên sẽ kéo theo việc nói dai nói dài, lượng thông-tin quá nhiều ồ ạt đến một lúc dễ khiến người xem lẫn khách hàng bị rối não, không kịp tiếp-thu kiến-thức. Khi đó, các thuật-ngữ được nhắc đến sẽ giúp người xem nắm bắt được thông-tin cần-thiết mọt cách nhanh gọn lẹ: nhu-cầu của khách hàng là gì? Ta cần bám vào thông-tin nào, bỏ phần nào, khoanh vùng ở đâu để lựa và lọc thông-tin cần-thiết theo nhu-cầu của khách? Cái nào cần lấy? Cái nào dư, bỏ?
Lúc bấy giờ, phân loại âm/dương nam/nữ sẽ phát-huy tác-dụng!
Đầu tiên, ta nói sơ qua về âm - dương:
Vì đây vốn là quan-niệm thường dùng của người phương Đông nên tất nhiên, nó cũng không thoát khỏi các tín-lí của dân bổn-địa. Người Á Đông chúng ta vốn chú trọng âm - dương, coi âm - dương là lẽ cơ-bổn bắt nguồn của võ-trụ nầy, vạn vật đều cấu-tạo và phát-triển từ âm - dương cả: “...Đạo sanh nhứt, nhứt sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn-vật...”; “...Thái-Cực sanh Lưỡng-Nghi, Lưỡng-Nghi sanh tứ-Tượng…” - kinh Diệc. Và kinh Diệc cũng nhận-định bằng câu chốt: “nhứt âm nhứt dương chi vị Đạo” - Chu Diệc, Hệ Từ thượng.
Như vậy, hầu hết các sự vật sự việc trong đời sống, trong võ-trụ nầy đều được diễn-giải bằng khái-niệm âm - dương, từ chữ viết cho đến văn hóa, y học, ca hát, luật lệ, cây cỏ, trời đất,... và dĩ nhiên, số học và con người cũng vậy.
Trong số học, chúng ta có 9 số tự-nhiên từ 1 đến 9, trong đó 9 là số lớn nhứt. Từ sau đó (10, 11, 12, 13,...) chỉ là các tổ-hợp được kết-hợp từ các số cũ lặp lại tăng dần. Thì, ứng theo lẽ, các số lẻ tượng trưng cho dương, chẵn là âm; phía bên trái là dương, phải là âm; trên là dương, dưới là âm; nóng là dương, lạnh là âm; động là dương, tĩnh là âm; nam là dương, nữ là âm;...
Qua đó, ta thấy nam nữ vốn đã tự phân-biệt âm - dương rồi. Tuy nhiên, cái âm - dương trong bổn-mạng nầy nó khác với âm - dương trong khái- niệm đó. Không phải hể cứ đờn ông là sẽ dương nam, đờn là luôn là âm nữ. Mà ta có cả âm nam và dương nữ nữa. Rứa, ri lại là dư lào?
Đối với tứ-trụ con người, xưa nay ta dựa vào Can - Chi để nhận-định. Hệ-thống lịch-pháp cũng dựa vào Can - Chi để tính-toán. Chia ra thành hai loại : Thiên Can (gồm 10 đơn vị Can) và Địa Chi (gồm 12 đơn-vị Chi):
- 10 Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quí. Theo thứ-tự cũng lần lượt từ 1 đến 10.
- 12 Chi: Cũng gọi là Thập nhị Địa Chi hay Thập nhị Sanh Tiêu, ở Việt-Nam thì quen thuộc hơn với khái-niệm là mười hai con giáp. Bao gồm Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Theo thứ-tự cũng lần lượt từ 1 đến 12.
Lịch pháp tính-toán: cứ mỗi 1 can sẽ kết-hiệp với 1 chi để ra một tổ-hợp nhận-định, hết thì lặp lại. Ví dụ đầu tiên là can Giáp, chi Tí, hợp thành Giáp Tí, dùng cho tên tuổi, bổn mạng, năm tháng ngày giờ,... Nếu năm 1 là năm Giáp Tí thì sang năm 2 sẽ là Ất Sửu, năm 3 là Bính Dần, từ đó mà tính tới (mọi người tự tính thử đi, ví dụ năm 2024 là Giáp Thìn, 2025 là Ất Tị, 2026 là Bính Ngọ, vậy các năm 2027, 2028, 2029, 2030 sẽ là các năm gì?). Và 10 Can cộng 12 Chi nầy nó sẽ cho ra tất cả là 60 tổ-hợp. Tức là, cứ mỗi 60 đơn-vị sẽ là một chu-kì, mãn thì lại trở về đầu: 1, 2, 3, 4,... 59, 60, 1, 2, 3… chớ tuiệt đối không có 59, 60, 61, 62,...
Đây gọi chung là Lục Thập Giáp Tử, hay Lục Thập Huê Giáp, nghĩa là “một chu-kì có 60 tổ-hợp. Thành thử ta hay nghe “1 Giáp bằng 60 năm”; “60 năm là một giáp”; “giáp vòng”;... là do vậy!
* Lưu ý, một Giáp trong “Huê Giáp/Giáp Tử” khác với “một con giáp” hay “tuổi anh em cách nhau một giáp” - giáp nầy là chu-kì của Địa-Chi, một giáp bằng 12 (vì chỉ có 12 Địa-Chi, 12 con giáp thôi).
Quay trở lợi vấn-đề. Âm nam, âm nữ, dương nam, dương nữ, thực-chất là cách nói rút-gọn của các thông tin phía trên. Eo ôi đấy, anh chị em thấy chưa, tôi gõ cái bài nầy trên Word, font chử Times New Roman, cỡ chử 15, và nó đi tận 3 trang để nói rõ (thực chất là chỉ mới sơ-lược thôi) về các khái niệm nầy. Vậy thì, khi ứng-dụng, chỉ cần nghe “tên Nguyễn Văn A, bát tự #%$@ #$ #!~, bổn mạng !@ #$, chủ mệnh $^**&, âm nam.” là ta sẽ biết ngay một đống thông-tin bên trên, đấy thấy nó có rút gọn và tiện lợi đến là thế nào chưa?! :))))
Tiếp tục, ta biết: thực-chất cái gọi là âm nam âm nữ, dương nam dương nữ nó chỉ là dựa theo năm sanh Can - Chi để xác-định. Trong sách Phú Chú của Lộc Lạc Tử thời Tống có giải: dương nam âm nữ,... được xác-định theo thời-gian đứa trẻ ra đời, hể ra đời vào năm nào thì xem âm - dương của năm đó mà nhận-định.
Tức là, trong 10 Thiên Can, thì các Can ở số lẻ là dương, chẵn là âm. Tương tự, Địa Chi cũng vậy. Để tôi biên ra luôn cho mọi người thuận-tiện đỡ mắc công “xi nghĩ”:
- Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm (thứ-tự tương-ứng 1, 3, 5, 7, 9) là Can dương.
- Ất, Đinh, Kỉ, Tân, Quí (thứ-tự tương-ứng 2, 4, 6, 8, 10) là Can âm.
+ Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất, (thứ-tự tương-ứng 1, 3, 5, 7, 9, 11) là Chi dương.
+ Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi (thứ-tự tương-ứng 2, 4, 6, 8, 10, 12) là Chi âm.
Rằng, nếu đứa trẻ sanh ra năm Giáp Tí, thì xét theo công-thức, bổn-mạng nó được nhận-định là “dương nam”, nếu là con gái thì sẽ là “dương nữ”.
Nếu đứa trẻ sanh năm Kỉ Dậu, xét theo công-thức, nếu đờn ông thì bổn-mạng nó được nhận-định là “âm nam”, đờn bà thì “âm nữ”.
Đấy, cứ vậy mà tính tới, anh chị em có tư-duy đặng chưa?
Vả, đặc biệt, là theo tổ-hợp hình thành, Can dương sẽ luôn kết-hiệp với Chi dương, Can âm luôn cùng Chi âm. Không có Can dương Chi âm (và ngược lại). Ấy là bởi các tổ hợp chúng ta luôn thấy có năm Giáp Tí (dương dương), năm Ất Sửu (âm âm), năm Tân Tị (âm âm), năm Bính Ngọ (dương dương). Chớ không hề có năm Giáp Sửu (dương âm), năm Ất Tí (âm dương), năm Nhâm Hợi (dương âm),... Nên thực-chất, chỉ cần biết được đặc-tánh của 1 Can (hoặc Chi) là sẽ nhận-định được ngay bổn-mạng người đó thuộc âm hay dương liền.
Vậy, âm nam, âm nữ, dương nam, dương nữ dùng để làm gì?
Để làm biếng!
Đùa đấy! 🙂
Trong pháp hóa-giải Thái-Tuế, dựa theo Hóa-Giải Thái-Tuế Khoa-Nghi Hợp-Tập (tài liệu riêng của nhà chị đó các em, không truiền cho người ngoài đâu) và Đạo-Giáo Phù-Chú (do tôi biên soạn, năm ngoái có in ra thành sách nhưng chỉ in 3 quiển, tặng cho 3 người thôi, không bán) có hướng dẫn chú-thích: bùa chú cũng có chia ra âm - dương (dĩ nhiên, xời! :)) ) và được thể-hiện khác nhau-với ý nghĩa, cách dùng, khoa-nghi, qui-trình họa phù khác nhau. Trong đó, bùa Thái-Tuế cũng có hai loại là âm phù và dương phù:
- Thái-Tuế “dương phù”: thì dùng giấy vàng mực đỏ mà vẽ, mực đỏ chỉ được dùng chu-sa mà pha thành. Ngày … giờ … vẽ bùa, dành cho âm nam, âm nữ mang bên mình.
- Thái-Tuế “âm phù”: dùng giấy vàng mực đen mà vẽ, có thể dùng các thứ mực Tùng Yên, Huy Mặc, Đường Mặc,... tùy ý. Ngày … giờ … vẽ bùa, dành cho dương nam, dương nữ mang bên mình.
Nghĩa là, thiệt-tế người bổn-mạng nầy tức là bị khuiết cái kia, mới cần phải mang bùa có tánh-chất đối-nghịch để bổ-sung, hóa-giải. Thế nên âm nam âm nữ phải mang dương phù, dương nam dương nữ phải mang âm phù. Khi cần tư-vấn hoặc đăng-kí lễ bái hoặc thỉnh bùa Thái-Tuế, đạo-sĩ chỉ cần nhìn vào các thông-tin ngắn gọn như tên tuổi, bổn-mạng, âm - dương,... là sẽ biết ngay người nầy nên dùng pháp nào, cần cái gì, nên đeo cái gì, nên làm bùa ra sao,... vậy. Nhanh gọn lẹ!