Việt Nam Mao Sơn Thượng Thanh Tôn Đàn - 越南茅山上清宗壇

Việt Nam Mao Sơn Thượng Thanh Tôn Đàn - 越南茅山上清宗壇 Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Việt Nam Mao Sơn Thượng Thanh Tôn Đàn - 越南茅山上清宗壇, Religious organisation, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Chánh.

Thần hệ Thới Thượng Đạo Đức giáo hạ Thanh tĩnh Chánh Nhứt bất nhị pháp môn Hằng sơn ngộ Đạo tiên Thánh Tôn sư Mao Sơn chánh tôn Sứ nghi phụng hành Tam Sơn Phù Pháp Tôn sư Tam Mao Chơn Quân môn hạ Thỉnh pháp Đệ tử Trì Văn, tự Tử Thiện, hiệu Sách Tịch.

NGÀY 12 THÁNG 4 NÔNG-LỊCH: HUIỀN-TRUNG ĐẠI PHÁP-SƯ GIÁNG-HẠ TRẦN-PHÀM.---   "Huiền-Trung Đại Pháp-Sư" là một danh-hiệu k...
28/05/2026

NGÀY 12 THÁNG 4 NÔNG-LỊCH: HUIỀN-TRUNG ĐẠI PHÁP-SƯ GIÁNG-HẠ TRẦN-PHÀM.
---

"Huiền-Trung Đại Pháp-Sư" là một danh-hiệu khác của Thái-Thượng Lão-Quân. Trong 81 hóa-thân (Lão-Quân bát-thập-nhứt hóa) của Ngài xuống nơi trần-gian, nếu Lão-Tử có thánh-đản là rằm tháng 2 thì thân ứng-hóa "Huiền-Trung Đại Pháp-Sư" lại vào ngày 12 tháng 4 giáng-trần. Linh-Bửu cổ-phái còn tôn-xưng danh-hiệu Ngài là "Thông-Huiền Thiên-Sư" vậy!

Dù là Thông-Huiền Thiên-Sư, hay Huiền-Trung Đại Pháp-Sư, hay Thái-Thượng Lão-Quân, hay Đạo-Đức Thiên-Tôn, hay Thần-Bửu Quân,... đều là chỉ chung một vị: ngôi Sư-Bửu cao-quí, Tam-Thanh đồng ứng-hóa, một trong ba vị thần tối-cao của Đạo-giáo.

Ngôi Sư-Bửu ấy, là người nắm giữ huiền-cơ Đại-Đạo, thống-nhiếp cả âm-dương ngũ-hành, vì thương xót chúng-sanh mà khai-diễn Tam-Động Chơn-Pháp, mở cửa "Chúng-Diệu" - giải-nghĩa "Huiền-Huiền" giúp cho chúng-sanh khải-ngộ thành-Chơn, ân-đức ấy quả-thực cao vời khôn ví.

Hổn-Nguơn Thánh-Kí có chép: "Vào thuở Thiên-Hoàng, Lão-Quân giáng-thế, hiệu là Thông-Huiền Thiên-Sư. Lại có hiệu khác nữa là Huiền-Trung Đại Pháp-Sư."

Dựa trong Đạo-Môn Kinh-Pháp Tương-Thừa Thứ-Tự, quiển-Thượng có giảng: "Thiên-Bửu Quân [tức Nguơn-Thỉ Thiên-Tôn] thuiết 12 bộ Tôn-Kinh, là Động-Chơn Giáo-Chủ. Linh-Bửu Quân [tức Linh-Bửu Thiên-Tôn] lại thuiết 12 bộ Tôn-Kinh, là Động-Huiền Giáo-Chủ. Thần-Bửu Quân [tức Đạo-Đức Thiên-Tôn] cũng thuiết 12 bộ Tôn-Kinh, là Động-Thần Giáo-Chủ. Vì thế mà có 'Tam-Thập-Lục Bộ Tôn-Kinh [36 bộ kinh-điển quí-báu]', hợp-thành Tam-Động Kinh-Văn [Động-Chơn, Động-Huiền, Động-Thần]."

Cũng trong sách nầy, quiển-Hạ lại giảng thêm: "Huiền-Trung Đại Pháp-Sư có 10 [danh] hiệu, một là Vô-Danh Chi-Quân, hai là Vô-Thượng Huiền-Lão, ba là Thái-Thượng Lão-Quân, bốn là Cao-Thượng Lão-Tử, năm là Thiên-Hoàng Đại-Đế, sáu là Huiền-Trung Pháp-Sư, bảy là Cổ Tiên-Sanh, tám là Kim-Khuiết Đế-Quân, chín là Hư-Hoàng Chơn-Nhơn, mười là Thái-Thượng Cao-Hoàng."

Bởi chưng Lão-Quân là ngôi cao-quí tột bực như thế, hiển-hóa như thế, quan-trọng như thế, nên vị-trí cơ-bổn nhứt mà tột-cùng nhứt của Đạo-giáo không thể nào thiếu đặng. Tín-chúng, Đạo-chúng, tín-sĩ, đồ-đệ, đệ-tử, tín-đồ,... của Đạo-giáo khi vừa nhập-môn cũng phải trải qua bước đầu-tiên là "qui-y Tam-Bửu". Ta thấy trong tờ phái qui-y có ghi cụ-thể rằng:
- Đệ nhứt qui-y Thái-Thượng Vô-Cực Đại-Đạo, Vô-Thượng Đạo-Bửu, đương-nguiện chúng-sanh, thường thị Thiên-Tôn, vĩnh thoát luân-hồi.
- Đệ nhị qui-y Tam-Thập-Lục Bộ Tôn-Kinh, Vô-Thượng Kinh-Bửu, đương-nguiện chúng-sanh, sanh sanh thế thế, đắc văn chánh-pháp.
- Đệ tam qui-y Huiền-Trung Đại Pháp-Sư, Vô-Thượng Sư-Bửu, đương-nguiện chúng-sanh, học tối thượng-thừa, bất lạc tà-kiến.

Qui-y ba lần như thế, là chúng ta đương lần lượt "quay về nương-tựa" vào ba ngôi báu [Tam-Bửu] của Đại-Đạo (Đạo, Kinh, Sư ): ngôi đầu-tiên là Đạo-Bửu, tức Nguơn-Thỉ Thiên-Tôn. Ngôi thứ hai là Kinh-Bửu, tức Linh-Bửu Thiên-Tôn. Ngôi thứ ba là Sư-Bửu, tức Đạo-Đức Thiên-Tôn, cũng là Huiền-Trung Đại Pháp-Sư ấy vậy!

Thới-Thanh Bửu-Cáo:
Chí-tâm qui-mệnh lễ
Tùy phương thiết-giáo, lịch kiếp độ-nhơn
Vị Hoàng giả sư, Đế giả sư, Vương giả sư, giá-danh dị-hiệu
Lập Thiên chi Đạo, Địa chi Đạo, Nhơn chi Đạo, ẩn-thánh hiển-phàm
Tổng thiên-nhị-bách chi quan-quân
Bao vạn ức trọng chi phạm-khí
Hóa hành kim-cổ, trước Đạo-Đức phàm ngũ-thiên-ngôn
Chủ ác âm-dương, mệnh Lôi-Đình dụng cửu ngũ số
Đại-bi đại-nguiện, đại-thánh đại-từ
Thới-Thượng Lão-Quân Đạo-Đức Thiên-Tôn!

Một bức tranh thủy-lục vẽ kiểng Ngọc-Hoàng Đại-Đế tuần-du thiên-hạ. Niên-đại tranh được xác-định là thời Minh (cũng có m...
06/03/2026

Một bức tranh thủy-lục vẽ kiểng Ngọc-Hoàng Đại-Đế tuần-du thiên-hạ. Niên-đại tranh được xác-định là thời Minh (cũng có một vài bản khác vẽ y chang tranh nầy, tuy nhiên vẽ sau Minh, áng tầm thời Thanh). Tuy nhiên tranh gốc (hoặc nguơn-mẫu) của bức nầy mô-tả Ngọc-Hoàng mặc thức trang-phục thời Tống, với chi-tiết đặc-hữu là trên cổ áo của Ngài có đeo Phương-Tâm Khúc-Lĩnh.

Nhưng, điều làm tôi chú-ý đến bức tranh nầy là. Tuy tranh vẽ Hạo-Thiên Kim-Khuiết Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Đại Thiên-Tôn Huiền-Khung Cao Thượng-Đế, là ngôi cao-quí tột bực, là Vua của vua, là Trời của trời, vạn vật trên thế-gian võ-trụ nầy đều bởi tay Ngài cai-quản. Không ai lớn bằng Ngài, không ai trên hơn Ngài, không ai có thể sánh bằng Ngài. Vậy mà, toàn bộ các sức-phục của Ngài không thêu rồng vẽ rồng. Trên đó chỉ toàn là các con Mãng mà thôi. Nhìn kĩ vào xem, soi kĩ vào xem, mấy cái con đó chỉ có 4 móng vuốt.

Tức là gì? Tức là ông tác-giả của bức tranh nầy, không biết vì lí-do gì (chắc do sợ bị trào-đình gõ đầu) nên chỉ dám vẽ con rồng 4 móng (gọi là con Giao hoặc con Mãng, là biến-thể thứ-cấp của Rồng) chớ không dám vẽ Rồng 5 móng.

Theo qui-chế xưa, chỉ có một mình Thiên-Tử mới được dùng các thức trang-phục, đồ vật,... có Rồng (5 móng). Bà con của vua, các quan lại cao-cấp thì dùng Mãng (4 móng), quan cấp-thấp hơn và đền chùa,... thì chỉ được thêu/vẽ/dệt 3 móng. Nếu có ai tự ý tiếm quiền, vượt quiền, dùng huê-văn họa-tiết Rồng 5 móng thì phải tội chém đầu. Con Rồng 5 móng chỉ có ên vua được dùng thôi (trừ khi vì quá được ưu-ái sủng-ái mà đích-thân vua ban cho, cho phép ai đó được dùng Rồng 5 móng).

Nực cười thay, vua tự xưng mình là Con của Trời (Thiên-Tử) nhưng xài Rồng. Còn đích-thân ông cha mình (Trời) thì lại chỉ được dùng Mãng 4 móng.

Bôi bác quá trời quá đất. Thậm-chí một số pháp-y pháp-phục của đạo-sĩ thời Thanh (cùng với nhiều thời khác nữa) còn được thêu Rồng 5 móng.

Dị á mà,
là,
Ngọc-Hoàng,
mà lại,
chỉ dẽ,
con
Mãng!

:)))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))

Bạn biết gì chưa? Ừ tất nhiên là chưa rồi. Có ai nói đâu mà biết. Để giờ tôi nói cho! 😶   Dựa theo Cao-Thượng Thần-Tiêu ...
03/03/2026

Bạn biết gì chưa? Ừ tất nhiên là chưa rồi. Có ai nói đâu mà biết. Để giờ tôi nói cho! 😶

Dựa theo Cao-Thượng Thần-Tiêu Ngọc-Thanh Chơn-Vương Tử Thơ Đại-Pháp, quiển Hạ, Thanh-Vi Thần Liệt Bí Pháp, có ghi-nhận một mẫu-thức Thập-Tự Thiên-Kinh khác so với mẫu mà chúng ta thường thấy hiện nay.

Tức là, Thập-Tự Thiên-Kinh ngoại trừ thức chử khải (九天應元雷聲普化天尊), chúng ta cũng thường thấy một bổn Vân-Triện phù (ảnh số 1). Tuy nhiên ngoại trừ 2 mẫu nầy, vẫn còn một mẫu khác cũng thuộc thức Vân-Triện phù, nhưng lại ít phổ-biến hơn (hay thậm-chí là không phổ-biến, xưa nay tôi chưa thấy ai dùng), thức nầy của các đạo-sĩ Thanh-Vi phái (ảnh 2).

Ừ thì chưa thấy ai dùng nên bây giờ tôi sẽ dùng vậy. Tôi tự khắc, tự chế-tác, tự tế-luiện thành pháp-khí riêng vậy! 😌🤟

Mùng 9 tháng Giêng, kính chúc thánh-đản Ngọc-Hoàng Thượng-Đế!---Khể thủ kiền-thiềng bái Hạo-ThiênHạo-Thiên kim nhựt phó ...
25/02/2026

Mùng 9 tháng Giêng, kính chúc thánh-đản Ngọc-Hoàng Thượng-Đế!
---
Khể thủ kiền-thiềng bái Hạo-Thiên
Hạo-Thiên kim nhựt phó kinh diên
Kinh diên lí diện kim-quang hiện
Quang hiện không-trung bửu châu huiền
Châu huiền bích lạc trào Nguơn-Thỉ
Nguơn-Thỉ thuiết-pháp độ quần Tiên
Quần Tiên dõng-dược lễ Thới-Thượng
Thới-Thượng Di-La Vô-Thượng Thiên
Hương cúng-dàng
Ngọc-Hoàng Xá-Tội Đại Thiên-Tôn!

Cung chúc
Thới-Thượng Khai Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Kim-Khuiết Vân Cung Cửu Khung Ngự Lịch Vạn Đạo Vô-Vi Đại Thông-Minh-Điện Hạo Thiên Kim Khuiết Chí Tôn Ngọc-Hoàng Xá-Tội Đại Thiên-Tôn Huiền Khung Cao Thượng-Đế.

Ngự Bệ-Hạ
Thánh-thọ vô cương!

ĐẠO-GIÁO TRI-THỨC - NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN VÀ TỨ PHẨM DIỆU KINH.--- B. TỨ PHẨM DIỆU KINH:   Hôm trước đã nói qua...
30/01/2026

ĐẠO-GIÁO TRI-THỨC - NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN VÀ TỨ PHẨM DIỆU KINH.

---

B. TỨ PHẨM DIỆU KINH:

Hôm trước đã nói qua về Ngũ đại Kinh-điển, nay ta nói đến Tứ phẩm Diệu kinh. Tứ phẩm Diệu kinh là tên gọi chung dành cho 4 bộ kinh quan-trọng trong tu-trì hằng ngày của mỗi đạo-sĩ. Ngũ đại Kinh-điển thì thường được tự-do nghiên-cứu tùy vào thói quen/sở thích của mỗi người, không ai ép buộc đốc thúc cả. Tuy nhiên Tứ phẩm Diệu kinh thì lại khác, đây là công-khóa hằng ngày của mọi đạo-sĩ trong toàn bộ Đạo-giáo đều dùng, bắt buộc phải học. Khi đạo-sĩ đăng-kí thụ Giới thụ Lục thì sẽ có một phần kiểm-tra khảo-hạch xem đã thuộc lòng chưa, đã rồi thì mới cho nhận Giới nhận Lục.

1+2: Tảo - Vãn Công-Khóa kinh 早晚功課經:
Tảo 早 là giấc sáng sớm mới thức dậy, Vãn 晚 là đêm muộn khi chuẩn bị đi ngủ. Nếu như Phật-giáo có bộ “kinh Nhật Tụng” để tu-sĩ đọc hằng ngày, Cao-Đài có “kinh cúng Tứ Thời” để tín-đồ trì lễ,... thì Đạo-giáo cũng có Tảo - Vãn kinh. Tùy vào mỗi tôn-phái khác nhau mà sẽ có sự sắp-xếp biên-soạn, đặt tên kinh khác nhau.

Có thể gọi chung là Tảo - Vãn Công-Khóa Kinh, Thới-Thượng Huiền-Môn Nhựt Tụng Tảo - Vãn Công-Khóa Tiên Kinh 太上玄門早晚功課仙經, hoặc phân biệt rạch ròi hai thời: Tảo Đàn Công-Khóa Tiên Kinh 早壇功課仙經 và Vãn Đàn Công-Khóa Tiên Kinh 晚壇功課仙經. Hoặc tùy theo phái mà đặt tên: Long Hổ Sơn Chánh-Nhứt Nhựt Tụng Tảo Vãn Khóa 龍虎山正一日誦早晚課; Mao-Sơn Thượng-Thanh Tôn Đàn Tảo - Vãn Công-Khóa Tiên Kinh 茅山上清宗壇早晚功課仙經; Thanh-Vi Hoằng Phạm Đạo-Môn Công-Khóa 清微宏範道門功課;... nói chung đều là các bộ kinh để cho đạo-sĩ trì tụng vào sáng chiều mỗi ngày.

Tảo khóa bắt đầu vào giờ Dần, Vãn khóa thì giờ Dậu. Mà nội-dong bên trong mỗi thời kinh của mỗi phái cũng có sự khác nhau đôi chút. Ví dụ như Chánh-Nhứt phái thì Tảo - Vãn đều 1 nội-dong như nhau, các phái khác thì 2 thời khác biệt. Nhưng thường thì đều theo một motif chung: Hương tán => Bộ hư => Bát Đại Thần Chú => ~3 bài kinh => ~10 bài bửu cáo => ~Thập-nhị nguiện => sám hối => hồi-hướng công-đức => Thổ-Địa chú => qui-y Tam-Bửu (motif tham-khảo, không chánh-xác huờn toàn).

3. Bắc-Đẩu kinh 北鬥經:
Tên gọi đầy đủ là Thới-Thượng Huiền Linh Bắc-Đẩu Bổn-Mệnh Dươn Sanh Chơn-Kinh 太上玄靈北鬥本命延生真經, cũng gọi Bắc Đẩu Kinh, trích lục Chánh Thống Đạo Tạng - Động Thần bộ.

Trong kinh dạy, Bắc-Đẩu Thất-Tinh là chủ của tạo-hóa, nhơn thần chúa-tể, có thể hồi sanh trú tử, tiêu-tai độ ách. Phàm nhơn mỗi người có ngũ thể, đều thuộc từng vị bổn-mệnh Tinh-Quan chấp chưởng. Vì vậy, nếu có người nào vào ngày Trai giới, hoặc ngày Bắc-Đẩu hạ giáng, hoặc sanh-thần bổn-mạng. Mà có thể thanh-ịnh thân tâm, đốt hương tụng kinh, ngưỡng bái Tinh-Quân sở-thuộc, sắp xếp lễ-vật cúng dàng, tất tội-chướng tự-động tiêu-trừ, phước-thọ đến thân, mãi xa rời các loại tai-họa.

4. Tam-Quan kinh 三官經:
Tam-Quan tức là chỉ Tam-Quan Đại-Đế 三官大帝: Thượng-Nguơn Nhứt Phẩm Tứ-Phước Thiên-Quan Tử-Vi Đại-Đế; Trung-Nguơn Nhị Phẩm Xá-Tội Địa-Quan Thanh-Hư Đại-Đế; Hạ-Nguơn Tam Phẩm Giải-Ách Thủy-Quan Động-Âm Đại-Đế.

Đầy đủ tên kinh nầy là Thới-Thượng Tam-Quan Tứ-Phước Xá-Tội Giải-Ách Tiêu-Tai Duơn-Sanh Bửu-Mệnh Diệu Kinh 太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經, hoặc gọi Tam-Quan Kinh, Tam-Quan Cảm-Ứng Diệu Kinh 三官感應妙經, Tam-Quan Bửu Kinh 三官寳經, Thới-Thượng Tam-Nguơn Tam-Quan Đại-Đế Bửu Kinh 太上三元三官大帝寳經,... toàn văn 1 quiển.

Người soạn không rõ, xuất hiện khoảng thời Minh, sau xếp vào Vạn-Lịch Tục Đạo-Tạng quiển 1063, Lệ-bộ.

Tam-Quan Kinh là một trong những bài kinh quan-trọng phải thuộc-lòng trong bước đầu bước vào Đạo. Nội-dong xưng-tán Tam-Quan Đại-Đế, cùng với quiền-năng có thể tứ-phước, xá-tội, giải-ách, tiêu-tai, duơn-sanh, bửu-mệnh cho chúng-sanh ở thế gian của các Ngài. Qui-y kinh nầy, thường-xuiên trì tụng, tất sẽ được tiêu trừ tai-ách, sám-hối tội lỗi, sanh phước định tuệ.

---

* Ngoài ra còn có 1 bộ Lục phẩm Tiên kinh 六品仙經 mới xuất-hiện nữa. Bộ nầy chỉ mới được in gần đây vài năm, do một vị đạo-trưởng thuộc Hiệp-hội Đạo-giáo của nước Đức tự in. Ngoài 4 bộ kinh kể trên, cụ ấy còn cho thêm vào Ngọc Xu kinh và Chơn-Võ kinh vào nữa.

ĐẠO-GIÁO TRI-THỨC - NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN.---   Hôm trước trong khi phát trực-tiếp, có một bạn (Sùng Hy) hỏi ...
25/01/2026

ĐẠO-GIÁO TRI-THỨC - NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN.

---

Hôm trước trong khi phát trực-tiếp, có một bạn (Sùng Hy) hỏi tôi về các bổn kinh-điển cần đọc tham-khảo thêm, và tôi cũng có nhắc qua với sư cô Thich-Nu-Sung-Minh về hai khái-niệm: “Ngũ đại Kinh-điển” và “Tứ phấm Diệu kinh”. Nay hưởn nên giảng qua một ít cho mọi người hản tường.

---

A. NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN 五大經典:

Đây là một thuật-ngữ chung, bao quát 5 bộ tài-liệu cốt lõi của tư-tưởng Đạo-giáo. “Đại 大” ở đây nghĩa là “lớn”, ý chỉ vị-trí và nội-dong của 5 pho sách nầy chiếm vị-trí rất quan-trọng trong giáo-lí của Đạo-giáo, mà thực chất là Đạo-gia vậy.

Ở sở học của Thanh Nguyên Các khi được cụ Độ-sư giảng giải, được nhận-định rằng: “Nếu Đạo-giáo thực-hành bằng đạo-thuật, nhờ đạo-thuật mà đạo-sĩ mới có thể hiểu rõ, đi đến và có được ‘Đạo’ (đắc Đạo) thì kinh-điển rất mực quan-trọng, bởi chưng trong Tam-Bửu của Đạo-giáo thì có ngôi Kinh-sư, tức là kinh-điển vậy.

Và, như đã biết, Đạo-giáo vốn bắt nguồn từ Đạo-gia mà thành. Ở thuở ban đầu, Đạo-gia là một hệ-phái chủ trương học-thuật, học-thuiết, triết-lí, chớ không phải một tôn-giáo. Nó chưa mang các sắc-thái phân cấp, nghi-lễ, cầu cúng, bùa chú,... nhiều mà chủ-yếu là một tư-tưởng triết-học thôi. Sau đó qua quá-trình hình-thành và phát-triển, mới xuất-hiện nên Đạo-giáo. Lúc bấy giờ, Đạo-giáo là một tôn-giáo, tức là nó có hệ-thống phân-chia cấp bực cũng như các nghi-thức, nghi-lễ, giới-luật, bùa chú, mang âm-hưởng huiền-bí ma-mị, nghiêm-ngặt,...

Như vậy, ở Đạo-gia thì còn là tư-tưởng triết-học, ta có Ngũ đại Kinh-điển là các giáo-lí trọng-tâm, phần nhiều là các lí-thuiết chuiên giảng về học-thuật hay tư-tưởng. Nếu dùng thuật-ngữ ‘đạo-thuật’ để nhắc, thì Ngũ-đại Kinh-điển thuộc phần ‘Đạo’, tức là mục-đích các kinh nầy hướng dẫn con người tu Đạo, luiện Đạo thông qua sự tu-dưỡng của bổn-thân.

Rồi sau khi Đạo-giáo xuất hiện, thì mới có thêm khái-niệm Tứ phẩm Diệu kinh. Nếu Ngũ đại Kinh-điển là ‘Đạo’, thì Tứ phẩm Diệu kinh là ‘Thuật’, vì nó đã mang sắc-thái tôn-giáo, hướng dẫn các khái-niệm và nghi-lễ cầu cúng, bùa chú, nhân-quả,... chớ không còn đơn thuần là tư-tưởng học-thuật của Đạo-gia nữa!”

Vậy thì, Ngũ đại Kinh-điển bao gồm 5 bộ kinh “lớn”, “nổi tiếng” như sau:

1. Âm-Phù kinh 陰符經:
Âm-Phù kinh, hay còn gọi đầy đủ là Hoàng-Đế Âm-Phù kinh 黃帝陰符經 hay Huình-Đế Âm-Phù kinh, Hiên-Viên Huình-Đế Âm-Phù kinh 軒轅黃帝陰符經. Tương-truiền bộ kinh nầy do Hiên-Viên Hoàng-Đế viết ra, nên mới được đặt tên như vậy. Nội-dong khá ngắn chỉ có vài trăm chử, chia làm ba thiên Thượng - Trung - Hạ, sau nầy được chú-thích giảng-giải bởi rất nhiều dịch giả và tôn-giáo khác nhau, Nho-giáo cũng chú-thích, Phật-giáo cũng giải-nghĩa, Đạo-giáo cũng giải-bình.

Ở thiên Thượng, chủ-yếu giải-thích mối quan-hệ giữa Đạo Trời và các mối quan-hệ tương-quan của con người; thiên Trung thảo-luận về các đạo-lí làm cho đất nước được giầu mạnh và nhơn-dân an-lạc; thiên Hạ lại nói về các chiến-thuật binh-pháp, quân-sự.

2. Đạo-Đức kinh 道德經:
Bổn nầy quá nổi-tiếng rồi nhỉ, tôi lười nói, mọi người cứ gõ từ khóa trên Google sẽ ra rất nhiều kết-quả.

3. Nam-Huê kinh 南華經:
Tương tự Đạo-Đức kinh, Nam Huê kinh hoặc Nam-Hoa kinh cũng rất nổi tiếng ở Việt-Nam, đã có nhiều dịch-giả phiên-dịch và sách giấy, mọi người có thể tìm hiểu, đọc, hoặc mua sách trên các sàn thương-mại điện-tử. Tôi không nói thêm.

4. Huình-Đình kinh 黄庭經:
Huình-Đình kinh hay Hoàng-Đình kinh, Huình-Đình Nội-Kiểng kinh 黄庭內景經, Huình-Đình Ngoại-Kiểng kinh 黄庭外景經,... là kinh-điển đặc-trưng của Thượng Thanh phái, sau nầy dĩ nhiên cũng là đặc-hữu của Mao-Sơn phái. Tương-truiền kinh nầy do Đạo-Quân truiền cho Ngụy Phu-Nhơn, ngài cũng vì kinh nầy mà lập ra phái mới lấy tên là Thượng-Thanh phái. Và có bối-kiểng lịch-sử rõ ràng nên cũng được xác-định niên-đại là xuất-hiện cuối thời Đông-Hớn.

Huình-Đình kinh là một bộ kinh quan-trọng cho quá-trình tu-luiện Nội-Đơn - nhận-định, giải-thích và huờn-chỉnh cơ-cấu nguơn-lí tu Nội-Đơn. Nội-dong của kinh nầy nhận-định cơ-thể con người là một võ-trụ thu nhỏ, có đầy đủ các tầng cõi, Thần-Tiên. Ở mỗi cơ-quan dù là to nhứt hay nhỏ nhứt lại cũng đều có một vị Thần-Tiên cai-quản, cũng như kể rõ tên họ, đặc-điểm của các vị Thần ấy. Ngoài ra còn hướng-dẫn cách tu-trì kinh nầy, các biện-pháp an thần định tâm, diệt dục, tịch cốc,... để con người có thể đắc Đạo thành Tiên.

5. Văn-Thủy kinh 文始經:
Cũng gọi là Văn-Thủy Chơn-kinh 文始真經, Quan Doãn Tử 關尹子, Văn-Thủy Chơn-Kinh Ngôn Ngoại Chỉ 文始真經言外旨 (bổn kinh kèm chú-giải). Cũng giống Âm-Phù kinh, tên kinh được đặt theo tên của tác-giả. Ai cũng biết sự-tích về Lão-Tử cưỡi trâu đi ra khỏi của Hàm-Cốc, có một vị quan đã đoán trước và ngăn ông lại mong ông truiền giậy cho chơn-văn, vì thế mà Đạo-Đức kinh ra đời. Vị quan đó tên là Doãn Hỉ 尹喜, tự Công Văn Công 文公 (có sách lại nói là Công Độ 公度 hay Quan Doãn 關尹), hiệu là Doãn Văn Tử 尹文子, Văn-Thủy 文始, sau được tôn xưng là Văn-Thủy Chơn-Nhơn 文始眞人.

Sau khi được truiền cho Đạo-Đức kinh, ông đã giải-thích các sự huiền-lí trong kinh và các sở-đắc riêng của mình, chép lên tổng cộng 9 cái Giản, đặt tên là Doãn Quan Tử, đời sau gọi là Văn-Thủy Chơn Kinh. Kinh gồm 9 thiên: Vũ 宇, Trụ 柱, Cực 極, Phù 符, Giám 鑒, Chủy 匕, Phủ 釜, Trù 籌, Dược 藥, nội-dong chủ-yếu giải thích về vũ-trụ quan và tâm-tánh luận.

---

Nay chỉ nói trước về Ngũ đại Kinh-điển. Còn phần Tứ phẩm Diệu kinh bài sau sẽ giảng.

ÂM NAM ÂM NỮ, DƯƠNG NAM DƯƠNG NỮ TRONG THÁI-TUẾ.---  *Bài viết chỉ đề-cập đến bổn-mạng trong pháp hóa-giả...
22/01/2026

ÂM NAM ÂM NỮ, DƯƠNG NAM DƯƠNG NỮ TRONG THÁI-TUẾ.
---

*Bài viết chỉ đề-cập đến bổn-mạng trong pháp hóa-giải Thái-Tuế, không đề-cập đến các phương-diện khác.
Không biết trên mạng có các tài-liệu nầy không, tuy nhiên cách trích tài-liệu và lựa các luận-điểm luận-cứ như trong bài là chất xám riêng biệt do Thanh Nguyên Các tự lấy từ sở-học của mình mà sắp xếp, biên-soạn, phiên-dịch, chớ trên mạng không có. Nếu ai chia-sẻ cả bài hoặc có dẫn nguồn thì cứ việc thoải mái. Còn mà cái ngữ nào mà ăn-cắp bài viết quen thói ăn-cớp quen tay ăn-chực quen mồm thì Thanh Nguơn xin gửi lời nhắn là nên ăn-cắp vào buổi trưa ấy. Chớ kẻo sớm muộn gì thì cũng bị trời đánh thánh đâm mưa lâm râm mày chết đuối ăn chuối thì sặc mồm chớ tiêu chảy thì hết giấy! 🙂
- - -

Trong pháp âm-dương mệnh-lí cũng như các bố-cục tử-vi, bói toán, tướng mệnh,... xưa nay vẫn hay đề cập đến các thuật-ngữ “âm nam âm nữ, dương nam dương nữ”. Có lẽ nhiều người chưa biết, bửa nai bổn các huởn huởn nên biên vài giòng giải-thích chơi vậy!

Âm nam, âm nữ, dương nam, dương nữ là 4 hình-thức phân-loại bổn-mạng của con người, nghe thì có vẻ nó quan-trọng huiền-bí chớ thực-chất cũng chỉ là một nhận-định khái-quát ngắn gọn, để tiện cho việc phân-loại giải-pháp cho thuận-tiện hơn thôi, chớ cũng hổng có gì. Ví dụ nếu khi nhắc đến lá số tử-vi của một người, sẽ có rất nhiều thông tin được liệt-kê ra như là tên tuổi, giới-tánh, tứ trụ, bát tự, địa chỉ, cân lượng, chủ mệnh, chủ thân, bổn-mạng,... Vậy thì, nếu phân-tích ra thì sẽ có rất nhiều lượng thông-tin cần liệt-kê, đề-cập và giảng giải, đặng mà ứng-dụng vào trong các tràng-hiệp khác nhau, tuy nhiên sẽ kéo theo việc nói dai nói dài, lượng thông-tin quá nhiều ồ ạt đến một lúc dễ khiến người xem lẫn khách hàng bị rối não, không kịp tiếp-thu kiến-thức. Khi đó, các thuật-ngữ được nhắc đến sẽ giúp người xem nắm bắt được thông-tin cần-thiết mọt cách nhanh gọn lẹ: nhu-cầu của khách hàng là gì? Ta cần bám vào thông-tin nào, bỏ phần nào, khoanh vùng ở đâu để lựa và lọc thông-tin cần-thiết theo nhu-cầu của khách? Cái nào cần lấy? Cái nào dư, bỏ?
Lúc bấy giờ, phân loại âm/dương nam/nữ sẽ phát-huy tác-dụng!

Đầu tiên, ta nói sơ qua về âm - dương:

Vì đây vốn là quan-niệm thường dùng của người phương Đông nên tất nhiên, nó cũng không thoát khỏi các tín-lí của dân bổn-địa. Người Á Đông chúng ta vốn chú trọng âm - dương, coi âm - dương là lẽ cơ-bổn bắt nguồn của võ-trụ nầy, vạn vật đều cấu-tạo và phát-triển từ âm - dương cả: “...Đạo sanh nhứt, nhứt sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn-vật...”; “...Thái-Cực sanh Lưỡng-Nghi, Lưỡng-Nghi sanh tứ-Tượng…” - kinh Diệc. Và kinh Diệc cũng nhận-định bằng câu chốt: “nhứt âm nhứt dương chi vị Đạo” - Chu Diệc, Hệ Từ thượng.

Như vậy, hầu hết các sự vật sự việc trong đời sống, trong võ-trụ nầy đều được diễn-giải bằng khái-niệm âm - dương, từ chữ viết cho đến văn hóa, y học, ca hát, luật lệ, cây cỏ, trời đất,... và dĩ nhiên, số học và con người cũng vậy.

Trong số học, chúng ta có 9 số tự-nhiên từ 1 đến 9, trong đó 9 là số lớn nhứt. Từ sau đó (10, 11, 12, 13,...) chỉ là các tổ-hợp được kết-hợp từ các số cũ lặp lại tăng dần. Thì, ứng theo lẽ, các số lẻ tượng trưng cho dương, chẵn là âm; phía bên trái là dương, phải là âm; trên là dương, dưới là âm; nóng là dương, lạnh là âm; động là dương, tĩnh là âm; nam là dương, nữ là âm;...

Qua đó, ta thấy nam nữ vốn đã tự phân-biệt âm - dương rồi. Tuy nhiên, cái âm - dương trong bổn-mạng nầy nó khác với âm - dương trong khái- niệm đó. Không phải hể cứ đờn ông là sẽ dương nam, đờn là luôn là âm nữ. Mà ta có cả âm nam và dương nữ nữa. Rứa, ri lại là dư lào?

Đối với tứ-trụ con người, xưa nay ta dựa vào Can - Chi để nhận-định. Hệ-thống lịch-pháp cũng dựa vào Can - Chi để tính-toán. Chia ra thành hai loại : Thiên Can (gồm 10 đơn vị Can) và Địa Chi (gồm 12 đơn-vị Chi):
- 10 Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quí. Theo thứ-tự cũng lần lượt từ 1 đến 10.
- 12 Chi: Cũng gọi là Thập nhị Địa Chi hay Thập nhị Sanh Tiêu, ở Việt-Nam thì quen thuộc hơn với khái-niệm là mười hai con giáp. Bao gồm Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Theo thứ-tự cũng lần lượt từ 1 đến 12.

Lịch pháp tính-toán: cứ mỗi 1 can sẽ kết-hiệp với 1 chi để ra một tổ-hợp nhận-định, hết thì lặp lại. Ví dụ đầu tiên là can Giáp, chi Tí, hợp thành Giáp Tí, dùng cho tên tuổi, bổn mạng, năm tháng ngày giờ,... Nếu năm 1 là năm Giáp Tí thì sang năm 2 sẽ là Ất Sửu, năm 3 là Bính Dần, từ đó mà tính tới (mọi người tự tính thử đi, ví dụ năm 2024 là Giáp Thìn, 2025 là Ất Tị, 2026 là Bính Ngọ, vậy các năm 2027, 2028, 2029, 2030 sẽ là các năm gì?). Và 10 Can cộng 12 Chi nầy nó sẽ cho ra tất cả là 60 tổ-hợp. Tức là, cứ mỗi 60 đơn-vị sẽ là một chu-kì, mãn thì lại trở về đầu: 1, 2, 3, 4,... 59, 60, 1, 2, 3… chớ tuiệt đối không có 59, 60, 61, 62,...

Đây gọi chung là Lục Thập Giáp Tử, hay Lục Thập Huê Giáp, nghĩa là “một chu-kì có 60 tổ-hợp. Thành thử ta hay nghe “1 Giáp bằng 60 năm”; “60 năm là một giáp”; “giáp vòng”;... là do vậy!
* Lưu ý, một Giáp trong “Huê Giáp/Giáp Tử” khác với “một con giáp” hay “tuổi anh em cách nhau một giáp” - giáp nầy là chu-kì của Địa-Chi, một giáp bằng 12 (vì chỉ có 12 Địa-Chi, 12 con giáp thôi).

Quay trở lợi vấn-đề. Âm nam, âm nữ, dương nam, dương nữ, thực-chất là cách nói rút-gọn của các thông tin phía trên. Eo ôi đấy, anh chị em thấy chưa, tôi gõ cái bài nầy trên Word, font chử Times New Roman, cỡ chử 15, và nó đi tận 3 trang để nói rõ (thực chất là chỉ mới sơ-lược thôi) về các khái niệm nầy. Vậy thì, khi ứng-dụng, chỉ cần nghe “tên Nguyễn Văn A, bát tự #%$@ #$ #!~, bổn mạng !@ #$, chủ mệnh $^**&, âm nam.” là ta sẽ biết ngay một đống thông-tin bên trên, đấy thấy nó có rút gọn và tiện lợi đến là thế nào chưa?! :))))

Tiếp tục, ta biết: thực-chất cái gọi là âm nam âm nữ, dương nam dương nữ nó chỉ là dựa theo năm sanh Can - Chi để xác-định. Trong sách Phú Chú của Lộc Lạc Tử thời Tống có giải: dương nam âm nữ,... được xác-định theo thời-gian đứa trẻ ra đời, hể ra đời vào năm nào thì xem âm - dương của năm đó mà nhận-định.

Tức là, trong 10 Thiên Can, thì các Can ở số lẻ là dương, chẵn là âm. Tương tự, Địa Chi cũng vậy. Để tôi biên ra luôn cho mọi người thuận-tiện đỡ mắc công “xi nghĩ”:
- Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm (thứ-tự tương-ứng 1, 3, 5, 7, 9) là Can dương.
- Ất, Đinh, Kỉ, Tân, Quí (thứ-tự tương-ứng 2, 4, 6, 8, 10) là Can âm.
+ Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất, (thứ-tự tương-ứng 1, 3, 5, 7, 9, 11) là Chi dương.
+ Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi (thứ-tự tương-ứng 2, 4, 6, 8, 10, 12) là Chi âm.

Rằng, nếu đứa trẻ sanh ra năm Giáp Tí, thì xét theo công-thức, bổn-mạng nó được nhận-định là “dương nam”, nếu là con gái thì sẽ là “dương nữ”.

Nếu đứa trẻ sanh năm Kỉ Dậu, xét theo công-thức, nếu đờn ông thì bổn-mạng nó được nhận-định là “âm nam”, đờn bà thì “âm nữ”.
Đấy, cứ vậy mà tính tới, anh chị em có tư-duy đặng chưa?

Vả, đặc biệt, là theo tổ-hợp hình thành, Can dương sẽ luôn kết-hiệp với Chi dương, Can âm luôn cùng Chi âm. Không có Can dương Chi âm (và ngược lại). Ấy là bởi các tổ hợp chúng ta luôn thấy có năm Giáp Tí (dương dương), năm Ất Sửu (âm âm), năm Tân Tị (âm âm), năm Bính Ngọ (dương dương). Chớ không hề có năm Giáp Sửu (dương âm), năm Ất Tí (âm dương), năm Nhâm Hợi (dương âm),... Nên thực-chất, chỉ cần biết được đặc-tánh của 1 Can (hoặc Chi) là sẽ nhận-định được ngay bổn-mạng người đó thuộc âm hay dương liền.

Vậy, âm nam, âm nữ, dương nam, dương nữ dùng để làm gì?
Để làm biếng!
Đùa đấy! 🙂

Trong pháp hóa-giải Thái-Tuế, dựa theo Hóa-Giải Thái-Tuế Khoa-Nghi Hợp-Tập (tài liệu riêng của nhà chị đó các em, không truiền cho người ngoài đâu) và Đạo-Giáo Phù-Chú (do tôi biên soạn, năm ngoái có in ra thành sách nhưng chỉ in 3 quiển, tặng cho 3 người thôi, không bán) có hướng dẫn chú-thích: bùa chú cũng có chia ra âm - dương (dĩ nhiên, xời! :)) ) và được thể-hiện khác nhau-với ý nghĩa, cách dùng, khoa-nghi, qui-trình họa phù khác nhau. Trong đó, bùa Thái-Tuế cũng có hai loại là âm phù và dương phù:
- Thái-Tuế “dương phù”: thì dùng giấy vàng mực đỏ mà vẽ, mực đỏ chỉ được dùng chu-sa mà pha thành. Ngày … giờ … vẽ bùa, dành cho âm nam, âm nữ mang bên mình.
- Thái-Tuế “âm phù”: dùng giấy vàng mực đen mà vẽ, có thể dùng các thứ mực Tùng Yên, Huy Mặc, Đường Mặc,... tùy ý. Ngày … giờ … vẽ bùa, dành cho dương nam, dương nữ mang bên mình.

Nghĩa là, thiệt-tế người bổn-mạng nầy tức là bị khuiết cái kia, mới cần phải mang bùa có tánh-chất đối-nghịch để bổ-sung, hóa-giải. Thế nên âm nam âm nữ phải mang dương phù, dương nam dương nữ phải mang âm phù. Khi cần tư-vấn hoặc đăng-kí lễ bái hoặc thỉnh bùa Thái-Tuế, đạo-sĩ chỉ cần nhìn vào các thông-tin ngắn gọn như tên tuổi, bổn-mạng, âm - dương,... là sẽ biết ngay người nầy nên dùng pháp nào, cần cái gì, nên đeo cái gì, nên làm bùa ra sao,... vậy. Nhanh gọn lẹ!

LUẬN ĐẠO - ĐẠO GIÁO NHẬP MÔN 600 CÂU HỎI ĐÁP---   Sách do tác giả Lưu-Diệp chủ-biên, Trung-Quấc Phụ-Nữ Xuất-Bản Xã ấn-hà...
01/01/2026

LUẬN ĐẠO - ĐẠO GIÁO NHẬP MÔN 600 CÂU HỎI ĐÁP
---
Sách do tác giả Lưu-Diệp chủ-biên, Trung-Quấc Phụ-Nữ Xuất-Bản Xã ấn-hành ngày 1 tháng 1 năm 2012. Số-hiệu ISBN 978-7-5127-0171-7. Tổng cộng 500 ngàn chữ. Tài-liệu do Thanh Nguyên Các lược dịch. Khi chưa có sự đồng ý của dịch-giả, vui lòng không tự ý sao chép/ăn cắp bài viết!

---

Chương 2: Giải-thích một số danh-từ thuật-ngữ Đạo-giáo.

- PHƯƠNG-SĨ 方士:
Phương-sĩ hay cũng gọi Phương-Thuật sĩ 方術士, Hữu phương chi sĩ 有方之士, Thuật-sĩ 術士,... là danh-từ chung chỉ những người tu-hành, tu-luiện, sở-hữu các pháp luiện-đơn, truy cầu tràng-sanh bất tử, tu Tiên thời cổ-đại, có thể coi đây là thuật-ngữ sớm nhứt chỉ đạo-sĩ. Trước khi Đạo-giáo xuất hiện thì người tu Tiên được gọi là phương-sĩ, ví dụ như Phương-sĩ Từ Phúc. Sau nầy khi Đạo-giáo phát triển thì không còn gọi phương-sĩ nữa mà đổi sang gọi là đạo-sĩ. Cũng cho thấy, đây là một danh-từ có niên-đại rất xa xưa, những nhơn-vật trong truiền-thuiết cổ-đại như Tây-vương-Mẫu, Đông-vương-Công, Tố-Nữ,... đều được coi là phương-sĩ.

Dựa theo Sử-Kí Tư-mã-Thiên, thiên Thỉ-Hoàng Bổn Kỉ có đoạn:
“- Trước đây ta thu các sách trong thiên-hạ, sách nào không dùng được thì bỏ đi, sai triệu-tập tất cả những người có văn-học và những phương-sĩ, thuật-sĩ rất đông muốn làm cho thiên-hạ thái-bình...”
Hoặc như trong Cao-Đường-phú của Tống-Ngọc thời Tần có câu: “Hữu phương chi sĩ, Tiện Môn Cao Khê. Thượng Thành Úc Lâm, Công Lạc Tụ Cốc. 有方之士,羨門高溪。上成鬱林,公樂聚谷” (Như các hữu phương chi sĩ kia: Tiện Môn, Cao Khê, Thượng Thành, Úc Lâm, Công Lạc, Tụ Cốc) Trong bài phú nầy phản-ánh người đương-thời gọi là “hữu phương chi sĩ”, còn Tiện Môn, Cao Khê,... là tên riêng của những phương-sĩ đó.

Cho đến thời Hớn, danh-từ đạo-sĩ mới chánh-thức xuất-hiện và được phổ-biến rộng rãi đến ngày nay. Tài-liệu dùng từ nầy sớm nhứt là Hớn-Thơ, thiên Ngũ-Hành chí: “Đạo-sĩ thỉ khứ, tư-vị thương. 道士始去,茲為傷” (Đạo-sĩ đã bắt đầu rời đi, ấy bởi do đau buồn vậy!)
Hứa-Man Truiện cũng có câu: “Hành quá Đạo-sĩ Trương-quân-Cự. 行遇道士張君巨” (Gặp qua Đạo-sĩ Trương-quân-Cự).

Kể từ đời Hớn, thuật-ngữ đạo-sĩ bắt đầu xuất-hiện và người ta dùng song song, dần dần thay thế cho phương-sĩ. Đến khoảng đời Tấn thì phương-sĩ ít được dùng và mất hẳn trong các đại-từ nhân xưng và thuật-ngữ danh-từ chung, thỉnh thoảng chỉ được dùng trong một số ít tràng-hiệp nhứt định.

- - -

- HUÌNH-QUAN/HOÀNG-QUAN 黄冠:
“Huình” hay “hoàng” là mầu vàng, “quan” là cái mũ đội đầu. Thời kì đầu khi mới xuất-hiện, vì được ảnh-hưởng bởi các triết-lí quan-niệm tôn-giáo và trào-đình thời bấy giờ nên Đạo-giáo cũng rất tôn-sùng mầu vàng. Các pháp-khí, kiến-trúc, hình ảnh, trang-phục,... ít nhiều cũng thường có mầu vàng xuất-hiện, do thế mà người thế-gian dựa vào mầu sắc các thứ y quan pháp phục của đạo-sĩ mà gọi. Huình-quan cũng trở thành danh-từ riêng chỉ đạo-sĩ giới-tánh nam.

Ví dụ, trong Tam-Động Tu Đạo Nghi, thiên Sơ Nhập-Đạo Nghi viết:
“...Sau khi thông-thạo giới luật đến một mức độ nhứt-định, [họ] tìm phương nhập Đạo, thệ Giới với Tam-Sư, xưng là Trí-Huệ Thập-Giới Đệ-Tử, đội Nhị-Nghi quan, cột dây thao bảy vạt mầu vàng, mặc quần lụa trắng rộng bảy khổ, mang giày xỏ ngón. Tiếp theo được học đến kinh pháp của mười bộ Đại-thừa sâu rộng hơn. Sau khi đã tinh-thông, mới được truiền cho Sơ-Chơn Bát-thập-nhứt Giới. Thụ được Giới nầy rồi, cùng Bảo-Cử Giới Sư bảy vị được gọi chung là Thới-Thượng Sơ-Chơn Đệ-Tử, hiệu là Bạch-Giản Đệ-Tử, đầu gài Thất-Chơn quan, mặc áo bản to mầu vàng, trái 9 phải 10 (vế nầy thì chịu, các cụ chỉ chép 左九右十, chả biết đó là nhắc đến độ dài áo, hay số vạt áo, hay cái gì gì nữa 🙂 ), mặc quần vàng rộng bảy khổ, quây thường mầu trắng, cầm hốt bằng gỗ Đàn-Hương, đi giầy đen…”

---

- NỮ-QUAN 女冠:
Nữ-Quan hay cũng gọi là Nữ-Chơn 女真, vốn là danh-từ riêng chỉ một loại mũ của nữ đạo-sĩ đội vào thời-kì đầu của Đạo-giáo. Sau, thế nhơn cũng lấy đó mà đổi thành danh-từ chung, chỉ chung các đạo-sĩ giới-tánh nữ. Từ Nữ-Quan đã trở thành Nữ-quan, và đối-lập với Huình-quan vậy!

Address

Thành Phố Hồ Chí Minh
Bình Chánh

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Việt Nam Mao Sơn Thượng Thanh Tôn Đàn - 越南茅山上清宗壇 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share