Việt Nam Mao Sơn Thượng Thanh Tôn Đàn - 越南茅山上清宗壇

Việt Nam Mao Sơn Thượng Thanh Tôn Đàn - 越南茅山上清宗壇 Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Việt Nam Mao Sơn Thượng Thanh Tôn Đàn - 越南茅山上清宗壇, Religious organisation, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Chánh.

Thần hệ Thới Thượng Đạo Đức giáo hạ Thanh tĩnh Chánh Nhứt bất nhị pháp môn Hằng sơn ngộ Đạo tiên Thánh Tôn sư Mao Sơn chánh tôn Sứ nghi phụng hành Tam Sơn Phù Pháp Tôn sư Tam Mao Chơn Quân môn hạ Thỉnh pháp Đệ tử Trì Văn, tự Tử Thiện, hiệu Sách Tịch.

"ĐẠO-SĨ" GIẢN NGHĨA---   Đạo-sĩ, là tên gọi chỉ chung cho tu-sĩ Đạo-giáo. Ngày xưa còn có các danh xưng "Huình-Quan...
22/08/2026

"ĐẠO-SĨ" GIẢN NGHĨA

---

Đạo-sĩ, là tên gọi chỉ chung cho tu-sĩ Đạo-giáo. Ngày xưa còn có các danh xưng "Huình-Quan", "Võ-Khách, "Phương-Sĩ", "Thuật-Sĩ", "Ẩn-Sĩ", "Chơn-Nhơn", "Đạo-Nhơn", "Võ-Y", "TỬ-Dương",... Người nam gọi là "Kiền-Đạo", tức tượng trưng cho Giời, là chỉ cái tánh-chất thuần dương. Người nữ gọi là "Khôn-Đạo", tức tượng trưng cho Đất, là chỉ cái tánh-chất thuần Âm. Gọi chung là "Đạo-Trưởng" vậy!

Người tu Đạo, hành Đạo, phụng Đạo, lấy "Đạo" làm mưu cầu tối cao, làm mục đích hướng tới. Kẻ "học" cái "Đạo" ấy, gọi là "Đạo-sĩ". Dựa theo Thới Tiêu Lãng Thơ Kinh dạy: [Người giữ lấy mà làm theo cái 'Đại-Đạo', nên có hiệu là Đạo-sĩ. Bởi vì tâm tánh sửa đổi theo Đạo, chỉ có duy nhứt mỗi 'Đại-Đạo', đi theo 'Đại-Đạo' mà làm. Vì thế gọi là "Đạo-sĩ"]

Thới Thượng Thới Chơn Khoa Kinh cũng giậy: [Phàm cái thuở sơ khai mở mang, Thánh-Chơn Tiên-Nhơn đều dạy cho Đạo-khí, lập Pháp mà truiền thừa, cùng giòng Thới-Thượng, gọi là Học-Sĩ. Kẻ lấy Đạo mà làm, thời gọi là Đạo-sĩ. Lấy việc Đạo mà làm, mới gọi là Đạo-sĩ. Như thế, "Đạo-sĩ", là những kẻ coi "Đạo" là việc chuiên nhứt vậy].

"CHÁNH-NHỨT" GIẢN NGHĨA---   Chính-Nhất hay Chánh-Nhứt 正一 là tên gọi tắt của Chánh-Nhứt Minh-Uy Đạo 正一盟威道. Bởi chưng Lão...
22/08/2026

"CHÁNH-NHỨT" GIẢN NGHĨA

---

Chính-Nhất hay Chánh-Nhứt 正一 là tên gọi tắt của Chánh-Nhứt Minh-Uy Đạo 正一盟威道. Bởi chưng Lão-tổ Thiên-Sư được Tiên-nhơn truiền-thụ cho "Chánh-Nhứt Minh-Uy chi Đạo" đặng mà tu-hành, trừ bịnh, giáo-thế, độ-nhơn, vì vậy mà lấy làm tên phái.

Chánh 正, ấy là trái-biệt với Tà 邪. Hể mà cái gì ngay-thẳng, rõ-ràng, chắc-chắn, tuiệt-đối không nghiêng lệch, thích-đáng, thuần-nhứt không pha tạp, thời gọi là "chánh". Nhứt 一, ấy là một, là đứng đầu-tiên, toàn cả, thông-suốt hết cả, mà thống-lãnh muôn-vạn. Nhời biểu rằng "Chánh-tâm khế Đạo 正心契道": phải lấy sự rèn-giũa tâm-tánh mình cho nghiêm-ngặt, ngay thẳng, trang-nghiêm đoan-chánh mà làm cơ-bổn của việc tu-hành. Ngõ hầu mới mong hiểu được, lãnh-ngộ được Đạo-Cả vậy!

Vân-Cấp Thất-Thiêm giải rằng "Chánh, ấy là không Tà. Nhứt, ấy là chẳng tạp." Vân-Cấp nhấn mạnh việc đạo-sĩ phải rèn-giũa tâm-tánh cho tuiệt-Chánh (tuiệt-đối ngay-thuần) thì mới có thể hiệp-nhứt, lãnh-ngộ được Đại-Đạo.

Ngoài ra còn chủ-trương tu-luiện "thủ-Nhứt tồn-Chơn 守一存真" hay "thủ-Nhứt tồn-tâm": thủ-Nhứt chi pháp, tồn-tư thân-Thần 守一之法, 存思身神. "Thủ-Nhứt" là một thuật-ngữ thiền-định xuất hiện từ thời Hớn đến Nam-Bắc trào rất được coi trọng, cũng còn được gọi là "thủ Chơn-Nhứt" hoặc "thủ Tam-Nhứt", được nhiều kinh-điển thơ-tịch như Thới-bình-Kinh, Trang-Tử, Đạo-đức-Kinh,... đề cập.

Theo Đạo-đức-Kinh lí-luận, "Nhứt" ở đây là nghĩa của "Đạo", mà ở trong thân ta là "Tinh" [Khí Thần]. Giử và luiện cái "Nhứt" nầy có thể khiến con người khoẻ mạnh không bệnh, tiêu-trừ đi các tai-hoạ cũng như hoá-giải ách-nạn, thanh-lọc cơ-thể, [câu] thông [với] Thần [linh] [đón] tiếp [Thánh] Chơn, khiến cho mình được sống lâu trở thành Tiên.

Sau Nam-Bắc trào, tư-tưởng nầy còn được giải rộng ra mà có thêm các ý mở. Giử lấy cái "Nhứt" ấy không cho nó tạp-nham bừa-bãi lộn-xộn ra. Chỉ có "bất nhị pháp-môn" thì mới thuần mới nhứt đặng, bằng không sẽ dễ gây ra đa chiều, nhiễu sự, mâu-thuẫn, lạc lối, sai lệch. "Tồn" ngãi là có, còn, tồn-tại, hiện-hửu. "Tư" ấy là nghĩ đến, nhớ đến không quên. Dựa trong Huình-đình-Kinh nhận-định cơ-thể con người là một võ-trụ thu nhỏ, bên trong ta có rất nhiều vị Thần cư-ngụ, mỗi Thần ngự tại một bộ-phận/cơ-quan/tế-bào mà chủ-quản. Phải luôn nghĩ-nhớ đến mà giữ thân khẩu ý cho được trong-sạch từ thân-tâm.

Lấy "thanh-tĩnh" làm mục-tiêu "nội-luiện", sửa đổi bên trong. Kết-hiệp với "ngoại-luiện" là Phù-Lục và Trai-Tiếu mà đạt đến kiểng-giới "dữ-Đạo hiệp-Chơn 與道合真", "dĩ Chánh hiệp-Đạo, tòng-Nhứt vi tôn 以正合道,从一为宗" (nhờ Chánh mà được cùng-gộp với Đạo, lấy Nhứt làm tôn-chỉ đi theo). Đó mới là mục-đích của Đạo-giáo tu-hành vậy!

VĂN-HÓA THƯỜNG-THỨC: ĐOAN-NGỌ THỦY- - -   "Đoan-Ngọ thủy" nghĩa là "nước của ngày Đoan-Ngọ". Nó cũng có tên là "Ngọ-thời...
17/06/2026

VĂN-HÓA THƯỜNG-THỨC: ĐOAN-NGỌ THỦY
- - -

"Đoan-Ngọ thủy" nghĩa là "nước của ngày Đoan-Ngọ". Nó cũng có tên là "Ngọ-thời thủy" - nước giờ Ngọ. Mỗi ngày đều có buổi trưa, nhưng chỉ có nước vào buổi trưa ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch mới được gọi là “Ngọ-thời thủy” hay “thuần-Dương thủy”, “cực-Dương thủy”, "Âm-Dương thủy",... Bởi chưng do sự lưu thông của năng-lượng dương thuần-khiết của Trời Đất đạt đến đỉnh điểm vào ngày nầy, khiến cho nguồn nước được lấy ở thời-gian nầy sẽ có một loại năng-lực và năng-lượng kì-diệu hơn hẳn vậy!

Ghi chép sớm nhứt về nước thuần-Dương được tìm thấy trong sách “Tỏa-Toái Lục” của nhà giáo-dục Ôn-cách-Vu thời Tống, trong đó viết rằng “tắm bằng nước giếng lấy vào buổi trưa ngày mùng 5 tháng 5 sẽ ngăn ngừa được bệnh tật trong một năm.” Trong sách “Thảo-mộc Cương-mục”, danh-y Lí-thời-Trân cũng đề-cập: “Trung-y [y-học cổ-truiền Trung-Quấc] nhận-định rằng nước hứng vào buổi trưa ngày Đoan-Dương có độ bền cao, không dễ bị hỏng và có thể sử dụng được cả năm chỉ với một mẻ nước.”

Trong quan-niệm tôn-giáo, Đoan-Ngọ thủy cũng được cho là có tác-dụng thanh-tẩy nhà cửa và loại bỏ các thứ uế-khí, chướng-khí, âm-khí trong nhà. Vì vốn dĩ, tết Đoan-Ngọ được tổ-chức vào giữa những tháng hè nóng bức, là thời-điểm để xua đuổi các thứ ôn-dịch bệnh-tật tai-họa. Quan-trọng hơn, đây cũng là dịp toàn-dân vệ-sanh tổng-quát toàn-bộ nhà cửa, dọn dẹp các nguồn bệnh-dịch xung quanh (bụi cây, vũng nước, sân vườn, cầu cống,...) đặng mà phòng-chống bệnh-tật. Sau ngày Đoan-Dương, thời-tiết bắt-đầu trở nên nóng và khô, tạo điều kiện thuận-lợi cho muỗi và vi-khuẩn sanh-sôi. Trong cuộc-sống hàng ngày, chúng ta cũng nên chú-ý đến các vấn-đề vệ-sanh cá-nhơn và sự sạch sẽ của môi-tràng nhà cửa để tránh nhiễm-trùng và bệnh-tật. Đây là cách đơn-giản nhứt để cầu an, cầu phước, giữ gìn sức-khỏe của mỗi chúng ta.

Lệ cổ cũng truiền lại, tới ngày Đoan-Dương thì mọi người đua nhau đi hái các thứ lá xung quanh nhà, gọi là “lá mùng năm”, về mà treo ở trước cửa/cổng nhà có thể trừ-tà, hóa-sát, cầu bình-an, xua đuổi côn-trùng, hoặc chữa bệnh, phòng bệnh. Theo dân-gian, bất cứ loại lá nào hái đúng vào giờ Ngọ ngày nầy đều được xem là lá thuốc. Nhưng trên thiệt-tế, người ta chỉ quen hái một số lá nhứt-định ở các vùng rừng núi hoặc trồng tại nhà. Các loại lá thường được dùng là ngải-cứu, cỏ xương-bồ, cành xương rồng, lá ổi, bạc-hà, tía tô, cỏ lau,... Mỗi loại lá có công-dụng khác nhau hoặc có thể kết-hiệp dùng như một bài thuốc, là tổng-hiệp các loại thảo-dược đặc-hữu có mùi thơm ngát, tác dụng thanh-nhiệt, mát gan, bổ huiết, an thần, lợi tiểu, ăn ngon ngủ ngon… Ngoài ra, việc treo lá cũng tùy-ý. Có nơi thì chỉ cột chung lại thành một bó rồi treo lên. Hoặc có nơi sẽ có tục bó các thứ lá lại thành hình-tượng bổn-mạng của năm, tỉ-dụ như năm Tí thì kết bó lá thành hình con chuột, năm Sửu thì kết thành hình trâu,...

Tục-ngữ Trung-Quấc có câu “Ngọ thời thủy ẩm nhứt chủy, giảo-hảo bổ-dược cật tam niên” (Đoan Ngọ một ngụm nước ngon, ba năm thuốc bổ hãy còn kém xa) nói về tác-dụng kì-diệu của nước thuần-Dương. So với nước thông thường, nước nầy có vị tinh-khiết, êm dịu hơn hẳn, lại giữ được lâu hơn mà không bị hỏng, đặc-biệt rất thích-hiệp để pha trà hoặc tắm mình, hoặc tẩy-uế đãng-uế gia-đình. Tương-truiền, các loại thuốc viên được bào-chế bằng nước Đoan-Dương có thể giúp tiêu-trừ độc-tố âm cũng như chữa-trị các bệnh nhiễm độc một cách hiệu-quả hơn hẳn thuốc thường.

Cách lấy nước Đoan-Dương cũng rất dễ, cứ việc dùng bất-kì thứ gì (nhưng ngày xưa các cụ ưa dùng đồ sứ, và bự, vì trữ nước cả năm nên ưu-tiên dùng vật đựng không gây ô-nhiễm nguồn nước) để hứng nước vào giờ Ngọ (từ 11h đến 13h trưa) ngày mùng 5 tháng 5 là được, nếu là nước tự-nhiên (nước giếng đào, nước nguồn sông nguồn suối, nước khe rừng,... nói chung là các nguồn nước ngọt, không dùng nước biển) thì càng tốt. Hứng nhiều hay ít tùy nhu-cầu mỗi người, sau đó lại đặt giữa trời nắng mà phơi thêm tầm 2-4 khắc nữa là được. Nhỡ như hôm đó gặp mưa thì cũng không sao, nước vẫn có tác-dụng như thường.

Nước đó sau khi thâu-hoạch xong sẽ được đặt cạnh ban thờ trong nhà, hoặc hướng chánh-Bắc, hoặc hướng Đông-Nam để cất. Có thể gác thêm một ít cành ngải xung-quanh để đuổi côn-trùng. Rồi tùy vào nhu-cầu (tắm rửa; lau dọn tẩy-uế nhà cửa; tịnh-đàn; chữa bệnh;,...) mà sẽ được trích ra sử-dụng dần dần.

"Ai ơi vững chí đợi tin hồngChỉ một con đò, mấy khúc sôngĐò pháp chở ai qua sông nghiệpĐò lòng đưa khách đến trời trong....
01/06/2026

"Ai ơi vững chí đợi tin hồng
Chỉ một con đò, mấy khúc sông
Đò pháp chở ai qua sông nghiệp
Đò lòng đưa khách đến trời trong..."

NGÀY 12 THÁNG 4 NÔNG-LỊCH: HUIỀN-TRUNG ĐẠI PHÁP-SƯ GIÁNG-HẠ TRẦN-PHÀM.---   "Huiền-Trung Đại Pháp-Sư" là một danh-hiệu k...
28/05/2026

NGÀY 12 THÁNG 4 NÔNG-LỊCH: HUIỀN-TRUNG ĐẠI PHÁP-SƯ GIÁNG-HẠ TRẦN-PHÀM.
---

"Huiền-Trung Đại Pháp-Sư" là một danh-hiệu khác của Thái-Thượng Lão-Quân. Trong 81 hóa-thân (Lão-Quân bát-thập-nhứt hóa) của Ngài xuống nơi trần-gian, nếu Lão-Tử có thánh-đản là rằm tháng 2 thì thân ứng-hóa "Huiền-Trung Đại Pháp-Sư" lại vào ngày 12 tháng 4 giáng-trần. Linh-Bửu cổ-phái còn tôn-xưng danh-hiệu Ngài là "Thông-Huiền Thiên-Sư" vậy!

Dù là Thông-Huiền Thiên-Sư, hay Huiền-Trung Đại Pháp-Sư, hay Thái-Thượng Lão-Quân, hay Đạo-Đức Thiên-Tôn, hay Thần-Bửu Quân,... đều là chỉ chung một vị: ngôi Sư-Bửu cao-quí, Tam-Thanh đồng ứng-hóa, một trong ba vị thần tối-cao của Đạo-giáo.

Ngôi Sư-Bửu ấy, là người nắm giữ huiền-cơ Đại-Đạo, thống-nhiếp cả âm-dương ngũ-hành, vì thương xót chúng-sanh mà khai-diễn Tam-Động Chơn-Pháp, mở cửa "Chúng-Diệu" - giải-nghĩa "Huiền-Huiền" giúp cho chúng-sanh khải-ngộ thành-Chơn, ân-đức ấy quả-thực cao vời khôn ví.

Hổn-Nguơn Thánh-Kí có chép: "Vào thuở Thiên-Hoàng, Lão-Quân giáng-thế, hiệu là Thông-Huiền Thiên-Sư. Lại có hiệu khác nữa là Huiền-Trung Đại Pháp-Sư."

Dựa trong Đạo-Môn Kinh-Pháp Tương-Thừa Thứ-Tự, quiển-Thượng có giảng: "Thiên-Bửu Quân [tức Nguơn-Thỉ Thiên-Tôn] thuiết 12 bộ Tôn-Kinh, là Động-Chơn Giáo-Chủ. Linh-Bửu Quân [tức Linh-Bửu Thiên-Tôn] lại thuiết 12 bộ Tôn-Kinh, là Động-Huiền Giáo-Chủ. Thần-Bửu Quân [tức Đạo-Đức Thiên-Tôn] cũng thuiết 12 bộ Tôn-Kinh, là Động-Thần Giáo-Chủ. Vì thế mà có 'Tam-Thập-Lục Bộ Tôn-Kinh [36 bộ kinh-điển quí-báu]', hợp-thành Tam-Động Kinh-Văn [Động-Chơn, Động-Huiền, Động-Thần]."

Cũng trong sách nầy, quiển-Hạ lại giảng thêm: "Huiền-Trung Đại Pháp-Sư có 10 [danh] hiệu, một là Vô-Danh Chi-Quân, hai là Vô-Thượng Huiền-Lão, ba là Thái-Thượng Lão-Quân, bốn là Cao-Thượng Lão-Tử, năm là Thiên-Hoàng Đại-Đế, sáu là Huiền-Trung Pháp-Sư, bảy là Cổ Tiên-Sanh, tám là Kim-Khuiết Đế-Quân, chín là Hư-Hoàng Chơn-Nhơn, mười là Thái-Thượng Cao-Hoàng."

Bởi chưng Lão-Quân là ngôi cao-quí tột bực như thế, hiển-hóa như thế, quan-trọng như thế, nên vị-trí cơ-bổn nhứt mà tột-cùng nhứt của Đạo-giáo không thể nào thiếu đặng. Tín-chúng, Đạo-chúng, tín-sĩ, đồ-đệ, đệ-tử, tín-đồ,... của Đạo-giáo khi vừa nhập-môn cũng phải trải qua bước đầu-tiên là "qui-y Tam-Bửu". Ta thấy trong tờ phái qui-y có ghi cụ-thể rằng:
- Đệ nhứt qui-y Thái-Thượng Vô-Cực Đại-Đạo, Vô-Thượng Đạo-Bửu, đương-nguiện chúng-sanh, thường thị Thiên-Tôn, vĩnh thoát luân-hồi.
- Đệ nhị qui-y Tam-Thập-Lục Bộ Tôn-Kinh, Vô-Thượng Kinh-Bửu, đương-nguiện chúng-sanh, sanh sanh thế thế, đắc văn chánh-pháp.
- Đệ tam qui-y Huiền-Trung Đại Pháp-Sư, Vô-Thượng Sư-Bửu, đương-nguiện chúng-sanh, học tối thượng-thừa, bất lạc tà-kiến.

Qui-y ba lần như thế, là chúng ta đương lần lượt "quay về nương-tựa" vào ba ngôi báu [Tam-Bửu] của Đại-Đạo (Đạo, Kinh, Sư ): ngôi đầu-tiên là Đạo-Bửu, tức Nguơn-Thỉ Thiên-Tôn. Ngôi thứ hai là Kinh-Bửu, tức Linh-Bửu Thiên-Tôn. Ngôi thứ ba là Sư-Bửu, tức Đạo-Đức Thiên-Tôn, cũng là Huiền-Trung Đại Pháp-Sư ấy vậy!

Thới-Thanh Bửu-Cáo:
Chí-tâm qui-mệnh lễ
Tùy phương thiết-giáo, lịch kiếp độ-nhơn
Vị Hoàng giả sư, Đế giả sư, Vương giả sư, giá-danh dị-hiệu
Lập Thiên chi Đạo, Địa chi Đạo, Nhơn chi Đạo, ẩn-thánh hiển-phàm
Tổng thiên-nhị-bách chi quan-quân
Bao vạn ức trọng chi phạm-khí
Hóa hành kim-cổ, trước Đạo-Đức phàm ngũ-thiên-ngôn
Chủ ác âm-dương, mệnh Lôi-Đình dụng cửu ngũ số
Đại-bi đại-nguiện, đại-thánh đại-từ
Thới-Thượng Lão-Quân Đạo-Đức Thiên-Tôn!

Một bức tranh thủy-lục vẽ kiểng Ngọc-Hoàng Đại-Đế tuần-du thiên-hạ. Niên-đại tranh được xác-định là thời Minh (cũng có m...
06/03/2026

Một bức tranh thủy-lục vẽ kiểng Ngọc-Hoàng Đại-Đế tuần-du thiên-hạ. Niên-đại tranh được xác-định là thời Minh (cũng có một vài bản khác vẽ y chang tranh nầy, tuy nhiên vẽ sau Minh, áng tầm thời Thanh). Tuy nhiên tranh gốc (hoặc nguơn-mẫu) của bức nầy mô-tả Ngọc-Hoàng mặc thức trang-phục thời Tống, với chi-tiết đặc-hữu là trên cổ áo của Ngài có đeo Phương-Tâm Khúc-Lĩnh.

Nhưng, điều làm tôi chú-ý đến bức tranh nầy là. Tuy tranh vẽ Hạo-Thiên Kim-Khuiết Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Đại Thiên-Tôn Huiền-Khung Cao Thượng-Đế, là ngôi cao-quí tột bực, là Vua của vua, là Trời của trời, vạn vật trên thế-gian võ-trụ nầy đều bởi tay Ngài cai-quản. Không ai lớn bằng Ngài, không ai trên hơn Ngài, không ai có thể sánh bằng Ngài. Vậy mà, toàn bộ các sức-phục của Ngài không thêu rồng vẽ rồng. Trên đó chỉ toàn là các con Mãng mà thôi. Nhìn kĩ vào xem, soi kĩ vào xem, mấy cái con đó chỉ có 4 móng vuốt.

Tức là gì? Tức là ông tác-giả của bức tranh nầy, không biết vì lí-do gì (chắc do sợ bị trào-đình gõ đầu) nên chỉ dám vẽ con rồng 4 móng (gọi là con Giao hoặc con Mãng, là biến-thể thứ-cấp của Rồng) chớ không dám vẽ Rồng 5 móng.

Theo qui-chế xưa, chỉ có một mình Thiên-Tử mới được dùng các thức trang-phục, đồ vật,... có Rồng (5 móng). Bà con của vua, các quan lại cao-cấp thì dùng Mãng (4 móng), quan cấp-thấp hơn và đền chùa,... thì chỉ được thêu/vẽ/dệt 3 móng. Nếu có ai tự ý tiếm quiền, vượt quiền, dùng huê-văn họa-tiết Rồng 5 móng thì phải tội chém đầu. Con Rồng 5 móng chỉ có ên vua được dùng thôi (trừ khi vì quá được ưu-ái sủng-ái mà đích-thân vua ban cho, cho phép ai đó được dùng Rồng 5 móng).

Nực cười thay, vua tự xưng mình là Con của Trời (Thiên-Tử) nhưng xài Rồng. Còn đích-thân ông cha mình (Trời) thì lại chỉ được dùng Mãng 4 móng.

Bôi bác quá trời quá đất. Thậm-chí một số pháp-y pháp-phục của đạo-sĩ thời Thanh (cùng với nhiều thời khác nữa) còn được thêu Rồng 5 móng.

Dị á mà,
là,
Ngọc-Hoàng,
mà lại,
chỉ dẽ,
con
Mãng!

:)))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))

Bạn biết gì chưa? Ừ tất nhiên là chưa rồi. Có ai nói đâu mà biết. Để giờ tôi nói cho! 😶   Dựa theo Cao-Thượng Thần-Tiêu ...
03/03/2026

Bạn biết gì chưa? Ừ tất nhiên là chưa rồi. Có ai nói đâu mà biết. Để giờ tôi nói cho! 😶

Dựa theo Cao-Thượng Thần-Tiêu Ngọc-Thanh Chơn-Vương Tử Thơ Đại-Pháp, quiển Hạ, Thanh-Vi Thần Liệt Bí Pháp, có ghi-nhận một mẫu-thức Thập-Tự Thiên-Kinh khác so với mẫu mà chúng ta thường thấy hiện nay.

Tức là, Thập-Tự Thiên-Kinh ngoại trừ thức chử khải (九天應元雷聲普化天尊), chúng ta cũng thường thấy một bổn Vân-Triện phù (ảnh số 1). Tuy nhiên ngoại trừ 2 mẫu nầy, vẫn còn một mẫu khác cũng thuộc thức Vân-Triện phù, nhưng lại ít phổ-biến hơn (hay thậm-chí là không phổ-biến, xưa nay tôi chưa thấy ai dùng), thức nầy của các đạo-sĩ Thanh-Vi phái (ảnh 2).

Ừ thì chưa thấy ai dùng nên bây giờ tôi sẽ dùng vậy. Tôi tự khắc, tự chế-tác, tự tế-luiện thành pháp-khí riêng vậy! 😌🤟

Mùng 9 tháng Giêng, kính chúc thánh-đản Ngọc-Hoàng Thượng-Đế!---Khể thủ kiền-thiềng bái Hạo-ThiênHạo-Thiên kim nhựt phó ...
25/02/2026

Mùng 9 tháng Giêng, kính chúc thánh-đản Ngọc-Hoàng Thượng-Đế!
---
Khể thủ kiền-thiềng bái Hạo-Thiên
Hạo-Thiên kim nhựt phó kinh diên
Kinh diên lí diện kim-quang hiện
Quang hiện không-trung bửu châu huiền
Châu huiền bích lạc trào Nguơn-Thỉ
Nguơn-Thỉ thuiết-pháp độ quần Tiên
Quần Tiên dõng-dược lễ Thới-Thượng
Thới-Thượng Di-La Vô-Thượng Thiên
Hương cúng-dàng
Ngọc-Hoàng Xá-Tội Đại Thiên-Tôn!

Cung chúc
Thới-Thượng Khai Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Kim-Khuiết Vân Cung Cửu Khung Ngự Lịch Vạn Đạo Vô-Vi Đại Thông-Minh-Điện Hạo Thiên Kim Khuiết Chí Tôn Ngọc-Hoàng Xá-Tội Đại Thiên-Tôn Huiền Khung Cao Thượng-Đế.

Ngự Bệ-Hạ
Thánh-thọ vô cương!

ĐẠO-GIÁO TRI-THỨC - NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN VÀ TỨ PHẨM DIỆU KINH.--- B. TỨ PHẨM DIỆU KINH:   Hôm trước đã nói qua...
30/01/2026

ĐẠO-GIÁO TRI-THỨC - NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN VÀ TỨ PHẨM DIỆU KINH.

---

B. TỨ PHẨM DIỆU KINH:

Hôm trước đã nói qua về Ngũ đại Kinh-điển, nay ta nói đến Tứ phẩm Diệu kinh. Tứ phẩm Diệu kinh là tên gọi chung dành cho 4 bộ kinh quan-trọng trong tu-trì hằng ngày của mỗi đạo-sĩ. Ngũ đại Kinh-điển thì thường được tự-do nghiên-cứu tùy vào thói quen/sở thích của mỗi người, không ai ép buộc đốc thúc cả. Tuy nhiên Tứ phẩm Diệu kinh thì lại khác, đây là công-khóa hằng ngày của mọi đạo-sĩ trong toàn bộ Đạo-giáo đều dùng, bắt buộc phải học. Khi đạo-sĩ đăng-kí thụ Giới thụ Lục thì sẽ có một phần kiểm-tra khảo-hạch xem đã thuộc lòng chưa, đã rồi thì mới cho nhận Giới nhận Lục.

1+2: Tảo - Vãn Công-Khóa kinh 早晚功課經:
Tảo 早 là giấc sáng sớm mới thức dậy, Vãn 晚 là đêm muộn khi chuẩn bị đi ngủ. Nếu như Phật-giáo có bộ “kinh Nhật Tụng” để tu-sĩ đọc hằng ngày, Cao-Đài có “kinh cúng Tứ Thời” để tín-đồ trì lễ,... thì Đạo-giáo cũng có Tảo - Vãn kinh. Tùy vào mỗi tôn-phái khác nhau mà sẽ có sự sắp-xếp biên-soạn, đặt tên kinh khác nhau.

Có thể gọi chung là Tảo - Vãn Công-Khóa Kinh, Thới-Thượng Huiền-Môn Nhựt Tụng Tảo - Vãn Công-Khóa Tiên Kinh 太上玄門早晚功課仙經, hoặc phân biệt rạch ròi hai thời: Tảo Đàn Công-Khóa Tiên Kinh 早壇功課仙經 và Vãn Đàn Công-Khóa Tiên Kinh 晚壇功課仙經. Hoặc tùy theo phái mà đặt tên: Long Hổ Sơn Chánh-Nhứt Nhựt Tụng Tảo Vãn Khóa 龍虎山正一日誦早晚課; Mao-Sơn Thượng-Thanh Tôn Đàn Tảo - Vãn Công-Khóa Tiên Kinh 茅山上清宗壇早晚功課仙經; Thanh-Vi Hoằng Phạm Đạo-Môn Công-Khóa 清微宏範道門功課;... nói chung đều là các bộ kinh để cho đạo-sĩ trì tụng vào sáng chiều mỗi ngày.

Tảo khóa bắt đầu vào giờ Dần, Vãn khóa thì giờ Dậu. Mà nội-dong bên trong mỗi thời kinh của mỗi phái cũng có sự khác nhau đôi chút. Ví dụ như Chánh-Nhứt phái thì Tảo - Vãn đều 1 nội-dong như nhau, các phái khác thì 2 thời khác biệt. Nhưng thường thì đều theo một motif chung: Hương tán => Bộ hư => Bát Đại Thần Chú => ~3 bài kinh => ~10 bài bửu cáo => ~Thập-nhị nguiện => sám hối => hồi-hướng công-đức => Thổ-Địa chú => qui-y Tam-Bửu (motif tham-khảo, không chánh-xác huờn toàn).

3. Bắc-Đẩu kinh 北鬥經:
Tên gọi đầy đủ là Thới-Thượng Huiền Linh Bắc-Đẩu Bổn-Mệnh Dươn Sanh Chơn-Kinh 太上玄靈北鬥本命延生真經, cũng gọi Bắc Đẩu Kinh, trích lục Chánh Thống Đạo Tạng - Động Thần bộ.

Trong kinh dạy, Bắc-Đẩu Thất-Tinh là chủ của tạo-hóa, nhơn thần chúa-tể, có thể hồi sanh trú tử, tiêu-tai độ ách. Phàm nhơn mỗi người có ngũ thể, đều thuộc từng vị bổn-mệnh Tinh-Quan chấp chưởng. Vì vậy, nếu có người nào vào ngày Trai giới, hoặc ngày Bắc-Đẩu hạ giáng, hoặc sanh-thần bổn-mạng. Mà có thể thanh-ịnh thân tâm, đốt hương tụng kinh, ngưỡng bái Tinh-Quân sở-thuộc, sắp xếp lễ-vật cúng dàng, tất tội-chướng tự-động tiêu-trừ, phước-thọ đến thân, mãi xa rời các loại tai-họa.

4. Tam-Quan kinh 三官經:
Tam-Quan tức là chỉ Tam-Quan Đại-Đế 三官大帝: Thượng-Nguơn Nhứt Phẩm Tứ-Phước Thiên-Quan Tử-Vi Đại-Đế; Trung-Nguơn Nhị Phẩm Xá-Tội Địa-Quan Thanh-Hư Đại-Đế; Hạ-Nguơn Tam Phẩm Giải-Ách Thủy-Quan Động-Âm Đại-Đế.

Đầy đủ tên kinh nầy là Thới-Thượng Tam-Quan Tứ-Phước Xá-Tội Giải-Ách Tiêu-Tai Duơn-Sanh Bửu-Mệnh Diệu Kinh 太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經, hoặc gọi Tam-Quan Kinh, Tam-Quan Cảm-Ứng Diệu Kinh 三官感應妙經, Tam-Quan Bửu Kinh 三官寳經, Thới-Thượng Tam-Nguơn Tam-Quan Đại-Đế Bửu Kinh 太上三元三官大帝寳經,... toàn văn 1 quiển.

Người soạn không rõ, xuất hiện khoảng thời Minh, sau xếp vào Vạn-Lịch Tục Đạo-Tạng quiển 1063, Lệ-bộ.

Tam-Quan Kinh là một trong những bài kinh quan-trọng phải thuộc-lòng trong bước đầu bước vào Đạo. Nội-dong xưng-tán Tam-Quan Đại-Đế, cùng với quiền-năng có thể tứ-phước, xá-tội, giải-ách, tiêu-tai, duơn-sanh, bửu-mệnh cho chúng-sanh ở thế gian của các Ngài. Qui-y kinh nầy, thường-xuiên trì tụng, tất sẽ được tiêu trừ tai-ách, sám-hối tội lỗi, sanh phước định tuệ.

---

* Ngoài ra còn có 1 bộ Lục phẩm Tiên kinh 六品仙經 mới xuất-hiện nữa. Bộ nầy chỉ mới được in gần đây vài năm, do một vị đạo-trưởng thuộc Hiệp-hội Đạo-giáo của nước Đức tự in. Ngoài 4 bộ kinh kể trên, cụ ấy còn cho thêm vào Ngọc Xu kinh và Chơn-Võ kinh vào nữa.

ĐẠO-GIÁO TRI-THỨC - NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN.---   Hôm trước trong khi phát trực-tiếp, có một bạn (Sùng Hy) hỏi ...
25/01/2026

ĐẠO-GIÁO TRI-THỨC - NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN.

---

Hôm trước trong khi phát trực-tiếp, có một bạn (Sùng Hy) hỏi tôi về các bổn kinh-điển cần đọc tham-khảo thêm, và tôi cũng có nhắc qua với sư cô Thich-Nu-Sung-Minh về hai khái-niệm: “Ngũ đại Kinh-điển” và “Tứ phấm Diệu kinh”. Nay hưởn nên giảng qua một ít cho mọi người hản tường.

---

A. NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN 五大經典:

Đây là một thuật-ngữ chung, bao quát 5 bộ tài-liệu cốt lõi của tư-tưởng Đạo-giáo. “Đại 大” ở đây nghĩa là “lớn”, ý chỉ vị-trí và nội-dong của 5 pho sách nầy chiếm vị-trí rất quan-trọng trong giáo-lí của Đạo-giáo, mà thực chất là Đạo-gia vậy.

Ở sở học của Thanh Nguyên Các khi được cụ Độ-sư giảng giải, được nhận-định rằng: “Nếu Đạo-giáo thực-hành bằng đạo-thuật, nhờ đạo-thuật mà đạo-sĩ mới có thể hiểu rõ, đi đến và có được ‘Đạo’ (đắc Đạo) thì kinh-điển rất mực quan-trọng, bởi chưng trong Tam-Bửu của Đạo-giáo thì có ngôi Kinh-sư, tức là kinh-điển vậy.

Và, như đã biết, Đạo-giáo vốn bắt nguồn từ Đạo-gia mà thành. Ở thuở ban đầu, Đạo-gia là một hệ-phái chủ trương học-thuật, học-thuiết, triết-lí, chớ không phải một tôn-giáo. Nó chưa mang các sắc-thái phân cấp, nghi-lễ, cầu cúng, bùa chú,... nhiều mà chủ-yếu là một tư-tưởng triết-học thôi. Sau đó qua quá-trình hình-thành và phát-triển, mới xuất-hiện nên Đạo-giáo. Lúc bấy giờ, Đạo-giáo là một tôn-giáo, tức là nó có hệ-thống phân-chia cấp bực cũng như các nghi-thức, nghi-lễ, giới-luật, bùa chú, mang âm-hưởng huiền-bí ma-mị, nghiêm-ngặt,...

Như vậy, ở Đạo-gia thì còn là tư-tưởng triết-học, ta có Ngũ đại Kinh-điển là các giáo-lí trọng-tâm, phần nhiều là các lí-thuiết chuiên giảng về học-thuật hay tư-tưởng. Nếu dùng thuật-ngữ ‘đạo-thuật’ để nhắc, thì Ngũ-đại Kinh-điển thuộc phần ‘Đạo’, tức là mục-đích các kinh nầy hướng dẫn con người tu Đạo, luiện Đạo thông qua sự tu-dưỡng của bổn-thân.

Rồi sau khi Đạo-giáo xuất hiện, thì mới có thêm khái-niệm Tứ phẩm Diệu kinh. Nếu Ngũ đại Kinh-điển là ‘Đạo’, thì Tứ phẩm Diệu kinh là ‘Thuật’, vì nó đã mang sắc-thái tôn-giáo, hướng dẫn các khái-niệm và nghi-lễ cầu cúng, bùa chú, nhân-quả,... chớ không còn đơn thuần là tư-tưởng học-thuật của Đạo-gia nữa!”

Vậy thì, Ngũ đại Kinh-điển bao gồm 5 bộ kinh “lớn”, “nổi tiếng” như sau:

1. Âm-Phù kinh 陰符經:
Âm-Phù kinh, hay còn gọi đầy đủ là Hoàng-Đế Âm-Phù kinh 黃帝陰符經 hay Huình-Đế Âm-Phù kinh, Hiên-Viên Huình-Đế Âm-Phù kinh 軒轅黃帝陰符經. Tương-truiền bộ kinh nầy do Hiên-Viên Hoàng-Đế viết ra, nên mới được đặt tên như vậy. Nội-dong khá ngắn chỉ có vài trăm chử, chia làm ba thiên Thượng - Trung - Hạ, sau nầy được chú-thích giảng-giải bởi rất nhiều dịch giả và tôn-giáo khác nhau, Nho-giáo cũng chú-thích, Phật-giáo cũng giải-nghĩa, Đạo-giáo cũng giải-bình.

Ở thiên Thượng, chủ-yếu giải-thích mối quan-hệ giữa Đạo Trời và các mối quan-hệ tương-quan của con người; thiên Trung thảo-luận về các đạo-lí làm cho đất nước được giầu mạnh và nhơn-dân an-lạc; thiên Hạ lại nói về các chiến-thuật binh-pháp, quân-sự.

2. Đạo-Đức kinh 道德經:
Bổn nầy quá nổi-tiếng rồi nhỉ, tôi lười nói, mọi người cứ gõ từ khóa trên Google sẽ ra rất nhiều kết-quả.

3. Nam-Huê kinh 南華經:
Tương tự Đạo-Đức kinh, Nam Huê kinh hoặc Nam-Hoa kinh cũng rất nổi tiếng ở Việt-Nam, đã có nhiều dịch-giả phiên-dịch và sách giấy, mọi người có thể tìm hiểu, đọc, hoặc mua sách trên các sàn thương-mại điện-tử. Tôi không nói thêm.

4. Huình-Đình kinh 黄庭經:
Huình-Đình kinh hay Hoàng-Đình kinh, Huình-Đình Nội-Kiểng kinh 黄庭內景經, Huình-Đình Ngoại-Kiểng kinh 黄庭外景經,... là kinh-điển đặc-trưng của Thượng Thanh phái, sau nầy dĩ nhiên cũng là đặc-hữu của Mao-Sơn phái. Tương-truiền kinh nầy do Đạo-Quân truiền cho Ngụy Phu-Nhơn, ngài cũng vì kinh nầy mà lập ra phái mới lấy tên là Thượng-Thanh phái. Và có bối-kiểng lịch-sử rõ ràng nên cũng được xác-định niên-đại là xuất-hiện cuối thời Đông-Hớn.

Huình-Đình kinh là một bộ kinh quan-trọng cho quá-trình tu-luiện Nội-Đơn - nhận-định, giải-thích và huờn-chỉnh cơ-cấu nguơn-lí tu Nội-Đơn. Nội-dong của kinh nầy nhận-định cơ-thể con người là một võ-trụ thu nhỏ, có đầy đủ các tầng cõi, Thần-Tiên. Ở mỗi cơ-quan dù là to nhứt hay nhỏ nhứt lại cũng đều có một vị Thần-Tiên cai-quản, cũng như kể rõ tên họ, đặc-điểm của các vị Thần ấy. Ngoài ra còn hướng-dẫn cách tu-trì kinh nầy, các biện-pháp an thần định tâm, diệt dục, tịch cốc,... để con người có thể đắc Đạo thành Tiên.

5. Văn-Thủy kinh 文始經:
Cũng gọi là Văn-Thủy Chơn-kinh 文始真經, Quan Doãn Tử 關尹子, Văn-Thủy Chơn-Kinh Ngôn Ngoại Chỉ 文始真經言外旨 (bổn kinh kèm chú-giải). Cũng giống Âm-Phù kinh, tên kinh được đặt theo tên của tác-giả. Ai cũng biết sự-tích về Lão-Tử cưỡi trâu đi ra khỏi của Hàm-Cốc, có một vị quan đã đoán trước và ngăn ông lại mong ông truiền giậy cho chơn-văn, vì thế mà Đạo-Đức kinh ra đời. Vị quan đó tên là Doãn Hỉ 尹喜, tự Công Văn Công 文公 (có sách lại nói là Công Độ 公度 hay Quan Doãn 關尹), hiệu là Doãn Văn Tử 尹文子, Văn-Thủy 文始, sau được tôn xưng là Văn-Thủy Chơn-Nhơn 文始眞人.

Sau khi được truiền cho Đạo-Đức kinh, ông đã giải-thích các sự huiền-lí trong kinh và các sở-đắc riêng của mình, chép lên tổng cộng 9 cái Giản, đặt tên là Doãn Quan Tử, đời sau gọi là Văn-Thủy Chơn Kinh. Kinh gồm 9 thiên: Vũ 宇, Trụ 柱, Cực 極, Phù 符, Giám 鑒, Chủy 匕, Phủ 釜, Trù 籌, Dược 藥, nội-dong chủ-yếu giải thích về vũ-trụ quan và tâm-tánh luận.

---

Nay chỉ nói trước về Ngũ đại Kinh-điển. Còn phần Tứ phẩm Diệu kinh bài sau sẽ giảng.

Address

Thành Phố Hồ Chí Minh
Bình Chánh

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Việt Nam Mao Sơn Thượng Thanh Tôn Đàn - 越南茅山上清宗壇 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share