25/01/2026
ĐẠO-GIÁO TRI-THỨC - NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN.
---
Hôm trước trong khi phát trực-tiếp, có một bạn (Sùng Hy) hỏi tôi về các bổn kinh-điển cần đọc tham-khảo thêm, và tôi cũng có nhắc qua với sư cô Thich-Nu-Sung-Minh về hai khái-niệm: “Ngũ đại Kinh-điển” và “Tứ phấm Diệu kinh”. Nay hưởn nên giảng qua một ít cho mọi người hản tường.
---
A. NGŨ ĐẠI KINH-ĐIỂN 五大經典:
Đây là một thuật-ngữ chung, bao quát 5 bộ tài-liệu cốt lõi của tư-tưởng Đạo-giáo. “Đại 大” ở đây nghĩa là “lớn”, ý chỉ vị-trí và nội-dong của 5 pho sách nầy chiếm vị-trí rất quan-trọng trong giáo-lí của Đạo-giáo, mà thực chất là Đạo-gia vậy.
Ở sở học của Thanh Nguyên Các khi được cụ Độ-sư giảng giải, được nhận-định rằng: “Nếu Đạo-giáo thực-hành bằng đạo-thuật, nhờ đạo-thuật mà đạo-sĩ mới có thể hiểu rõ, đi đến và có được ‘Đạo’ (đắc Đạo) thì kinh-điển rất mực quan-trọng, bởi chưng trong Tam-Bửu của Đạo-giáo thì có ngôi Kinh-sư, tức là kinh-điển vậy.
Và, như đã biết, Đạo-giáo vốn bắt nguồn từ Đạo-gia mà thành. Ở thuở ban đầu, Đạo-gia là một hệ-phái chủ trương học-thuật, học-thuiết, triết-lí, chớ không phải một tôn-giáo. Nó chưa mang các sắc-thái phân cấp, nghi-lễ, cầu cúng, bùa chú,... nhiều mà chủ-yếu là một tư-tưởng triết-học thôi. Sau đó qua quá-trình hình-thành và phát-triển, mới xuất-hiện nên Đạo-giáo. Lúc bấy giờ, Đạo-giáo là một tôn-giáo, tức là nó có hệ-thống phân-chia cấp bực cũng như các nghi-thức, nghi-lễ, giới-luật, bùa chú, mang âm-hưởng huiền-bí ma-mị, nghiêm-ngặt,...
Như vậy, ở Đạo-gia thì còn là tư-tưởng triết-học, ta có Ngũ đại Kinh-điển là các giáo-lí trọng-tâm, phần nhiều là các lí-thuiết chuiên giảng về học-thuật hay tư-tưởng. Nếu dùng thuật-ngữ ‘đạo-thuật’ để nhắc, thì Ngũ-đại Kinh-điển thuộc phần ‘Đạo’, tức là mục-đích các kinh nầy hướng dẫn con người tu Đạo, luiện Đạo thông qua sự tu-dưỡng của bổn-thân.
Rồi sau khi Đạo-giáo xuất hiện, thì mới có thêm khái-niệm Tứ phẩm Diệu kinh. Nếu Ngũ đại Kinh-điển là ‘Đạo’, thì Tứ phẩm Diệu kinh là ‘Thuật’, vì nó đã mang sắc-thái tôn-giáo, hướng dẫn các khái-niệm và nghi-lễ cầu cúng, bùa chú, nhân-quả,... chớ không còn đơn thuần là tư-tưởng học-thuật của Đạo-gia nữa!”
Vậy thì, Ngũ đại Kinh-điển bao gồm 5 bộ kinh “lớn”, “nổi tiếng” như sau:
1. Âm-Phù kinh 陰符經:
Âm-Phù kinh, hay còn gọi đầy đủ là Hoàng-Đế Âm-Phù kinh 黃帝陰符經 hay Huình-Đế Âm-Phù kinh, Hiên-Viên Huình-Đế Âm-Phù kinh 軒轅黃帝陰符經. Tương-truiền bộ kinh nầy do Hiên-Viên Hoàng-Đế viết ra, nên mới được đặt tên như vậy. Nội-dong khá ngắn chỉ có vài trăm chử, chia làm ba thiên Thượng - Trung - Hạ, sau nầy được chú-thích giảng-giải bởi rất nhiều dịch giả và tôn-giáo khác nhau, Nho-giáo cũng chú-thích, Phật-giáo cũng giải-nghĩa, Đạo-giáo cũng giải-bình.
Ở thiên Thượng, chủ-yếu giải-thích mối quan-hệ giữa Đạo Trời và các mối quan-hệ tương-quan của con người; thiên Trung thảo-luận về các đạo-lí làm cho đất nước được giầu mạnh và nhơn-dân an-lạc; thiên Hạ lại nói về các chiến-thuật binh-pháp, quân-sự.
2. Đạo-Đức kinh 道德經:
Bổn nầy quá nổi-tiếng rồi nhỉ, tôi lười nói, mọi người cứ gõ từ khóa trên Google sẽ ra rất nhiều kết-quả.
3. Nam-Huê kinh 南華經:
Tương tự Đạo-Đức kinh, Nam Huê kinh hoặc Nam-Hoa kinh cũng rất nổi tiếng ở Việt-Nam, đã có nhiều dịch-giả phiên-dịch và sách giấy, mọi người có thể tìm hiểu, đọc, hoặc mua sách trên các sàn thương-mại điện-tử. Tôi không nói thêm.
4. Huình-Đình kinh 黄庭經:
Huình-Đình kinh hay Hoàng-Đình kinh, Huình-Đình Nội-Kiểng kinh 黄庭內景經, Huình-Đình Ngoại-Kiểng kinh 黄庭外景經,... là kinh-điển đặc-trưng của Thượng Thanh phái, sau nầy dĩ nhiên cũng là đặc-hữu của Mao-Sơn phái. Tương-truiền kinh nầy do Đạo-Quân truiền cho Ngụy Phu-Nhơn, ngài cũng vì kinh nầy mà lập ra phái mới lấy tên là Thượng-Thanh phái. Và có bối-kiểng lịch-sử rõ ràng nên cũng được xác-định niên-đại là xuất-hiện cuối thời Đông-Hớn.
Huình-Đình kinh là một bộ kinh quan-trọng cho quá-trình tu-luiện Nội-Đơn - nhận-định, giải-thích và huờn-chỉnh cơ-cấu nguơn-lí tu Nội-Đơn. Nội-dong của kinh nầy nhận-định cơ-thể con người là một võ-trụ thu nhỏ, có đầy đủ các tầng cõi, Thần-Tiên. Ở mỗi cơ-quan dù là to nhứt hay nhỏ nhứt lại cũng đều có một vị Thần-Tiên cai-quản, cũng như kể rõ tên họ, đặc-điểm của các vị Thần ấy. Ngoài ra còn hướng-dẫn cách tu-trì kinh nầy, các biện-pháp an thần định tâm, diệt dục, tịch cốc,... để con người có thể đắc Đạo thành Tiên.
5. Văn-Thủy kinh 文始經:
Cũng gọi là Văn-Thủy Chơn-kinh 文始真經, Quan Doãn Tử 關尹子, Văn-Thủy Chơn-Kinh Ngôn Ngoại Chỉ 文始真經言外旨 (bổn kinh kèm chú-giải). Cũng giống Âm-Phù kinh, tên kinh được đặt theo tên của tác-giả. Ai cũng biết sự-tích về Lão-Tử cưỡi trâu đi ra khỏi của Hàm-Cốc, có một vị quan đã đoán trước và ngăn ông lại mong ông truiền giậy cho chơn-văn, vì thế mà Đạo-Đức kinh ra đời. Vị quan đó tên là Doãn Hỉ 尹喜, tự Công Văn Công 文公 (có sách lại nói là Công Độ 公度 hay Quan Doãn 關尹), hiệu là Doãn Văn Tử 尹文子, Văn-Thủy 文始, sau được tôn xưng là Văn-Thủy Chơn-Nhơn 文始眞人.
Sau khi được truiền cho Đạo-Đức kinh, ông đã giải-thích các sự huiền-lí trong kinh và các sở-đắc riêng của mình, chép lên tổng cộng 9 cái Giản, đặt tên là Doãn Quan Tử, đời sau gọi là Văn-Thủy Chơn Kinh. Kinh gồm 9 thiên: Vũ 宇, Trụ 柱, Cực 極, Phù 符, Giám 鑒, Chủy 匕, Phủ 釜, Trù 籌, Dược 藥, nội-dong chủ-yếu giải thích về vũ-trụ quan và tâm-tánh luận.
---
Nay chỉ nói trước về Ngũ đại Kinh-điển. Còn phần Tứ phẩm Diệu kinh bài sau sẽ giảng.