Chùa Bà Châu Đốc Núi Sam

Chùa Bà Châu Đốc Núi Sam Thời đi

Tọa lạc dưới chân núi Sam ở thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, miếu Bà Chúa Xứ từ lâu đã là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng miền Tây, mỗi năm đón khoảng 2 triệu lượt khách hành hương.

08/05/2019
Chuỗi hạt được các du khách đi Chùa Bà Châu Đốc mua nhiều, sản phẩm luôn nằm trong tình trạng cháy hàngCHUỖI VÒNG TAY TH...
09/04/2018

Chuỗi hạt được các du khách đi Chùa Bà Châu Đốc mua nhiều, sản phẩm luôn nằm trong tình trạng cháy hàng

CHUỖI VÒNG TAY THẤT CHÂU TINH ĐÁ NÚI LỬA - 8MM
590.000 ₫

Làm từ đá núi lửa

Màu đen tự nhiên

Có nhiều tác dụng trong trị liệu

Kích thước hạt: 8-9mm

Chuỗi vòng tay thất châu tinh đá dung nham núi lửa với các hạt được làm từ đá dung nham núi lửa ngàn năm, kết hợp với 7 hạt mã não cao cấp được chọn lọc giống như 7 hành tinh trong hệ mặt trời, tạo thành một chuỗi vòng tay độc đáo và có giá trị tâm linh cao.

Chuỗi vòng tay Thất Tinh Dung Nham Núi lửa này tượng trưng cho sự hấp thụ năng lượng của vũ trụ, giúp cho người đeo trở nên tự tin hơn và an tâm hơn.

Đá dung nham núi lửa có hình dạng bên ngoài đen sẫm và óng ánh, dễ bị nhầm lẫn với đá thiên thạch. Nhìn bên ngoài cũng khó phân biệt mà phải sử dụng các thiết bị xét nghiệm đắt tiền thì mới giám định được chính xác.

Theo người Ấn Độ, đá núi lửa có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Theo họ, loại đá này giúp làm tiêu tán những “nút thắt năng lượng”. Nhiều nhà trị liệu còn dùng loại đá này để nạp năng lượng cho cơ thể. Họ thường đặt các mảnh đá núi lửa dọc theo trục cơ thể để làm cân bằng năng lượng theo đường kinh lạc.

Với những tràng hạt và chuỗi hạt hay mặt dây chuyền làm từ đá núi lửa, các nhà trị liệu tin rằng nó có tác động tích cực đến dạ dày và ruột, kích thích tốt các hoạt động của thận, giữ cho huyết áp được ổn định và củng cố khả năng miễn dịch.

P/s: Chuỗi hạt đã trì chú tụng niệm trong chùa bà Châu Đốc

CHÙA TÂY AN NÚI SAM CHÂU ĐỐCTên thường gọi: Chùa Phật ThầyChùa tọa lạc ở ngã ba núi Sam, phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc...
05/03/2018

CHÙA TÂY AN NÚI SAM CHÂU ĐỐC

Tên thường gọi: Chùa Phật Thầy

Chùa tọa lạc ở ngã ba núi Sam, phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Chùa cách thị xã khoảng 5km, nằm trong quần thể di tích nổi tiếng ở An Giang là chùa Tây An, chùa Phước Điền (chùa Hang), lăng ông Thoại Ngọc Hầu và miếu bà Chúa Xứ. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Về hai chữ Tây An, có nhiều ý kiến giải thích khác nhau. Có ý kiến cho rằng chữ Tây An thể hiện các yếu tố tạo nên chùa: vật liệu từ Trấn Tây, Tây Thành và xây cất trên đất An Giang. Có ý kiến lại cho Tây An là ngôi chùa ở phía Tây thành An Giang. Ý kiến khác cho rằng Tây An là an bình cho miền Tây Nam đất nước, ước muốn vùng đất mới được khai phá, từ nay dân sẽ vĩnh viễn an cư lạc nghiệp.

Chùa được Tổng đốc Doãn Uẩn cho xây dựng vào năm 1847. Năm 1861, chùa được ngài Nhất Thừa tổ chức trùng tu chánh điện và hậu tổ. Kể từ đời Phật thầy Minh Huyên trụ trì đến nay, chùa đã trải qua 7 đời truyền thừa.

Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Kiến trúc chùa ngày nay được tôn tạo dưới thời Hòa thượng Bửu Thọ vào năm 1958. Ngài cho xây 3 ngôi cổ lầu, mặt tiền chùa và sửa lại chánh điện, tạo nét kiến trúc phương Đông kết hợp với kiến trúc Ấn Độ. Từ năm 1993 đến nay, Thượng tọa trụ trì Thích Huệ Kỉnh (đương nhiệm Phó Trưởng ban Trị sự kiêm Ủy viên Kinh tế Tài chánh Phật giáo tỉnh An Giang) đã tổ chức trùng tu và xây mới nhiều công trình phục vụ khách hành hương đến chùa mỗi năm mỗi đông hơn. Chùa còn là cơ sở có nhiều đóng góp cho công tác từ thiện xã hội tại địa phương.

Ở cổng tam quan có pho tượng Quan Âm Thị Kính. Sách Điển tích văn học – một trăm truyện hay đông tây kim cổ (Mai Thục, Đỗ Đức Hiểu, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 1996) đã giới thiệu Thị Kính nguyên kiếp trước là đàn ông, tu hành sắp thành Phật, nhưng Thích Ca muốn thử lòng, cho đầu thai xuống làm một cô gái nghèo, xinh đẹp, nết na, có chồng là Thiện Sĩ. Một hôm chồng ngủ, Thị Kính đưa dao cắt sợi râu mọc ngược ở cằm, nhưng Thiện Sĩ thức dậy tưởng vợ giết mình nên đuổi nàng về nhà cha mẹ. Bị tiếng oan, Thị Kính giả trai đi tu ở chùa Vân Tự với tên Kính Tâm. Nỗi oan khác lại đến. Thị Mầu, một cô gái quê xinh đẹp, dan díu với một anh lực điền. Làng bắt vạ, Thị Mầu đổ tội cho Kính Tâm và bỏ con cho Kính Tâm nuôi dưỡng. Sau ba năm nhẫn nhục nuôi cháu bé, Kính Tâm lâm bệnh mất. Đức Phật xét Kính Tâm đã tu hành đắc đạo, siêu thăng làm Phật Bà Quan Âm (Quan Âm Thị Kính).

Sau tam quan, có hai con voi: voi trắng 6 ngà, voi đen 2 ngà. Tác giả Nguyễn Hữu Hiệp (Báo Giác Ngộ số 90, ngày 15 – 9 – 1994) cho biết voi trắng là voi Phật dẫn từ tích Hoàng hậu Ma Gia nằm mộng thấy bạch tượng 6 ngà trên lưng chở một vị Bồ tát và sau đó hạ sanh thái tử Sĩ Đạt Ta, tức đức Phật Thích Ca. Còn voi 2 ngà là voi ngự có tên là Ô Long, có công giúp quân đội triều đình dẹp giặc, lúc chết được chôn cất tử tế.

Với diện tích 525m2, chánh điện, nhà giảng và hậu Tổ có khoảng 200 pho tượng Phật, Bồ tát, Hộ Pháp … đa số bằng danh mộc, có giá trị nghệ thuật cao, như bộ tượng Tứ Thiên Vương, bộ tượng Bát Bộ Kim Cang … Chùa còn có nhiều hoành phi và câu đối do các nghệ nhân ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX chạm trổ công phu.

Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Tượng đức Phật A Di Đà tôn trí ở bàn cao nhất. Phía dưới và hai bên có các tượng đức Phật Thích Ca, tượng Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Đại Thế Chí, Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Địa Tạng, Bồ tát Chuẩn Đề, Ca Diếp, A Nan, Hộ Pháp, Tiêu Diện, Bát bộ Kim Cang, Tứ Thiên Vương, Thập Bát La Hán, Thập Điện Minh Vương…

Phía sau chùa có nhiều tháp mộ, trong đó, đáng chú ý nhất là mộ ngài Minh Huyên (1807 – 1856). Ngài là người được nhân dân trong vùng kính trọng và tôn xưng là Phật thầy Tây An. Ngày 12 tháng 8 (âm lịch) hằng năm là ngày giỗ Phật Thầy, khách hành hương và bà con trong vùng đến lễ bái rất đông.

Chùa là ngôi danh lam bậc nhất ở An Giang và Nam Bộ. Hằng năm, có hàng vạn du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái.

Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Chùa Việt Nam - Xưa và Nay

TUYỆT CẢNH CHÙA HANG NÚI SAM - CHÂU ĐỐCNằm ở phía Tây núi Sam, cách cụm di tích chùa Tây An, miếu Bà Chùa Xứ, lăng Thoại...
05/03/2018

TUYỆT CẢNH CHÙA HANG NÚI SAM - CHÂU ĐỐC

Nằm ở phía Tây núi Sam, cách cụm di tích chùa Tây An, miếu Bà Chùa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu khoảng 1km, chùa Hang hay còn gọi là Phước Điền tự (ở TP. Châu Đốc) được Bộ Văn hóa, Thông tin (nay là Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia vào năm 1980. Đây là danh thắng nổi tiếng, với phong cảnh tuyệt đẹp, thanh tịnh…

Nằm ở phía Tây núi Sam, cách cụm di tích chùa Tây An, miếu Bà Chùa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu khoảng 1km, chùa Hang hay còn gọi là Phước Điền tự (ở TP. Châu Đốc) được Bộ Văn hóa, Thông tin (nay là Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia vào năm 1980. Đây là danh thắng nổi tiếng, với phong cảnh tuyệt đẹp, thanh tịnh…

Chùa Hang nằm trên triền núi, cách mặt đất khoảng 300m. Đường lên núi tuy dốc cao và hơi đứng, nhưng rất dễ đi bởi những bậc thang được xây bằng đá khối. Để tiện cho du khách tham quan, lễ phật, phía bên phải đường lên chùa có bố trí sơ đồ hướng dẫn 44 điểm trong khuôn viên chùa, như: Chánh điện; tây phương tam thánh điện; đường hang dũng mãnh; linh sơn điện; từng bước nở hoa sen; hồ liên trì hải hội; sân tiên; tàng kinh các… Do không quen leo núi, nhiều du khách, phật tử đứng nghỉ mệt, hít thở không khí trong lành. Tranh thủ lúc nghỉ chân, nhiều bạn trẻ tạo dáng chụp hình selfie bên những đóa huỳnh liên vàng rực rỡ.

Năm 1980, chùa Hang (Phước Điền tự) được công nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia

Trong hoa viên chùa có hồ hoa súng, xung quanh trồng nhiều loại hoa tạo nên không gian xanh, xen lẫn những đóa hoa trắng, vàng, đỏ... Nơi đây có am thờ tượng Phật Di Lặc, tượng Quán Thế Âm Bồ Tát và 4 vị hộ pháp đứng nhìn về phía dưới chân núi. Phía trước chùa có 2 ngôi bảo tháp màu sắc sặc sỡ, hài hòa, chạm khắc công phu, đứng uy nghi trên triền núi. Phía dưới là bảo tháp của hòa thượng Thích Huệ Thiện, phía trên là bảo tháp của bà Thợ (người có công lập chùa) được xây dựng năm 1899. Trước bảo tháp của bà Thợ là mộ thầy Phán Thông (tên thật là Nguyễn Ngọc Cang), người có công trùng tu chùa lần đầu tiên.

Tương truyền, chùa Hang do bà Thợ (tên thật là Lê Thị Thơ, sinh năm 1818, Mậu Dần) lập nên. Sau khi lập gia đình, do cảnh đời ngang trái, bà Thợ từ bỏ cuộc sống đời thường, nương tựa nơi cửa phật tại Tây An tự, xin quy y với pháp danh Diệu Thiện. Sau thời gian tu tại chùa Tây An, do nơi đây có nhiều người lui tới, bà Thợ đi tìm nơi yên tĩnh, vắng người để tu hành. Đi về phía Tây núi Sam, bà Thợ gặp một hang sâu, rậm rạp cây cối nên ở lại dựng am bằng tre, lá làm nơi tu hành. Cạnh am bà Thợ tu có một hang núi sâu, bên trong có đôi mãng xà to, hung tợn.

Thế nhưng, từ khi bà Thợ đến tu, hàng ngày được nghe kinh phật nên đôi mãng xà trở nên hiền lành, không hại người và thường đến am bà Thợ nghe kinh, ăn đồ chay, trông chừng thú dữ, kẻ gian, bảo vệ chốn tu hành. Bà Thợ đặt tên đôi mãng xà là Thanh Xà, Bạch Xà. Ngày 15-6, năm Kỷ Hợi (1899), sư nữ Diệu Thiện viên tịch, thọ 81 tuổi. Di ảnh của bà vẫn còn lưu giữ trong chùa với gương mặt phúc hậu, nhân từ. Sau khi bà Thợ qua đời, đôi mãng xà bỗng dưng biến mất.

Du khách lễ phật, khám phá hang trong Phước Điền tự

Để tránh nguy hiểm, hang được lấp kín chỉ còn lối đi vào cửa, sâu khoảng 10m, trông âm u, huyền bí; bên trong thờ Phật A Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí Bồ Tát. Năm 1885, do cảm mến đức độ của sư nữ Diệu Thiện, ông Phán Thông và Nhân dân quanh vùng đã tự quyên góp tiền của, xây dựng lại chùa: Nền lát gạch tàu, cột gỗ căm xe, kèo rui gỗ thao lao, lợp ngói… và mang tên Phước Điền tự, nhưng dân gian vẫn gọi là chùa Hang. Đến năm 1937, Hòa thượng Thích Huệ Thiện (1904-1990) trùng tu chùa lần thứ 2.

Vào đời trụ trì thứ 3, Hòa thượng Thích Thiện Chơn tiếp tục trùng tu, xây dựng hoàn thiện chùa. Hiện nay, mặt tiền chùa và chánh điện đã được xây dựng khang trang. Chính điện được bài trí tôn nghiêm, có hoành phi, liễn đối chạm khắc tinh xảo. Từ sân chùa, khách thập phương có thể nhìn cảnh núi non, ruộng đồng bát ngát. Bên cạnh các gian thờ tự, chùa còn các công trình khác dành cho du khách nghỉ chân hoặc làm nơi tu học và sinh hoạt của các sư.

Sau khi lễ phật, tham quan chùa, nhiều du khách, phật tử chọn “Sân tiên” làm nơi nghỉ chân lý tưởng để tận hưởng không gian thoáng đãng, ngắm nhìn đất trời bao la. Bồng con gái 4 tháng tuổi trên tay, anh Nguyễn Văn Thật (ở TX. Hồng Ngự, Đồng Tháp) cho biết: “Đây là lần thứ 4, anh và gia đình chọn chùa Hang là điểm đến cho cả nhà vào dịp lễ, tết, rằm lớn. Vì nơi đây có không gian thoáng mát, thanh tịnh. Trước là đi chùa lễ phật, sau là đi cúng Bà Chúa Xứ để cầu gia đạo bình an, hạnh phúc, trúng mùa, được giá; rồi dạo một vòng chợ Châu Đốc mua sắm”.

Vừa giơ tay tận hưởng gió trời, vừa tạo kiểu chụp hình, bạn Phan Mai Trang (22 tuổi, ở TP. Long Xuyên) chia sẻ: “Lần đầu tiên em đến đây. Nhận xét của em chỉ một chữ: Tuyệt! Cảnh đẹp, chùa đẹp với nét cổ kính, không gian thanh tịnh, thoáng mát. Đứng ở chùa có thể thấy ruộng đồng mênh mông, bát ngát; những ngôi nhà, con đường xa xa trông nhỏ xíu... Có thể nói, ngoài miếu Bà Chúa Xứ núi Sam thì đây là điểm du lịch tâm linh lý tưởng cho mọi người khi đến TP. Châu Đốc”.

Theo Thu Thảo (Báo An Giang)

THẤT SƠN - MIỀN ĐẤT CỦA CÁC ĐẠO SĨ Cổ nhân nói "Sơn bất tại cao, hữu tiên tất linh" - Núi không cần cao, có tiên thì lin...
05/03/2018

THẤT SƠN - MIỀN ĐẤT CỦA CÁC ĐẠO SĨ

Cổ nhân nói "Sơn bất tại cao, hữu tiên tất linh" - Núi không cần cao, có tiên thì linh. Có thể nói ngoài địa thế được thiên nhiên ưu đãi thì bóng dáng những "ông đạo" và giai thoại ly kỳ của họ đã làm cho vùng Thất Sơn của Châu Đốc, An Giang trở thành linh địa.

Du ngoạn non Sam

Ngày trước đọc "Nửa tháng trong miền Thất Sơn" của Nguyễn Văn Hầu thấy tả cảnh vào Thất Sơn thật là trần ai, phải lặn lội qua vô số kênh rạch như Cần Thảo, Cây Dương, Vịnh Tre… chằng chịt. Còn bây giờ, đường vào núi Sam nói riêng và cả vùng Thất Sơn huyền bí nói chung đều được khai thông lên tới đỉnh. Từ thị xã Châu Đốc vào đến chân núi Sam chỉ 5km với con đường trải nhựa thẳng băng, đen nhánh, bóng loáng như dải lụa Tân Châu. Hai bên bờ là đồng lúa bát ngát, thi thoảng ẩn hiện vài ngôi chùa theo phái Tiểu thừa.

Núi Sam là ngọn núi gần nhất, có hình một chú sam biển khổng lồ. So với các rặng núi hùng vĩ ở miền Trung, miền Bắc, núi Sam chỉ đáng gọi là một ngọn đồi vì chỉ cao khoảng trên dưới 240m (có chỗ nói 228m hoặc 310m…). Nhưng "ngọn đồi" này mang cả một di sản với nhiều di tích văn hóa lịch sử nổi tiếng cấp quốc gia như miếu Bà Chúa Xứ, Tây An cổ tự, Sơn lăng Thoại Ngọc Hầu, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, chùa Hang cùng bao thắng cảnh khác.

Núi Sam có tên chữ là Vĩnh Tế Sơn do Vua Minh Mạng ban cho lấy tên của bà Châu Thị Tế - chánh thất của Thoại Ngọc Hầu, khi ông chỉ huy đào xong con kênh nối liền từ Châu Đốc đến tận Hà Tiên từ năm 1819 đến 1824. Trước đó, núi Sam là vùng đất trọng yếu của quân thứ An Giang đạo (tương đương cấp quân khu ngày nay) vì địa thế hiểm trở, giáp biên giới Campuchia, từ trên đỉnh có thể bao quát cả vùng Châu Đốc.

Trong bia Vĩnh Tế Sơn, Thoại Ngọc Hầu có nói: "Địa giới Châu Đốc xưa kia là khu vực của Phiên man, nhờ triều đình khai thác cõi Nam, mới cho đất ấy nhập vào bản đồ… Phía sau đồn có núi, mà lời tục thường quen gọi núi Sam. Nơi đây chầm ao, rừng rú mênh mông rậm rạp… Đến nay, ánh sáng sớm sương tan, bóng chiều tà ráng rọi, cây rậm rạp khoe xanh, cỏ là đà phô thắm. Bụi sạch trên đường, lên cao ngắm nghía, dòng sông trải lụa, khách đi qua buông chèo nhàn ngoạn, tay trỏ non xanh cùng nói với nhau: Đây là núi Vĩnh Tế, do vua ban tên đó!…".

Con đường chạy lên đỉnh núi Sam được làm khá rộng, có thể đi bằng xe máy. Bên triền núi rải rác những am, cốc lẩn khuất trong hốc đá lưa thưa mấy cụm hoàng mai, phượng vĩ. Qua Bạch Vân tịnh xá, từ đỉnh núi có thể quan sát khắp thị xã Châu Đốc, Thất Sơn, tỉnh Tà Keo của Campuchia, đồng lúa thẳng cánh cò bay hai bên bờ kênh Vĩnh Tế… Người dân cho hay, vào mùa nước nổi hằng năm, nhiều khi cả vùng đồng lúa bao la bị nhấn chìm trong nước bạc, núi Sam như một hòn đảo lơ lửng giữa mênh mông.

Với địa thế hiểm yếu, hoang sơ xưa kia, vừa có đồng bằng trồng trọt, vừa có núi rừng sát biên giới nên nhiều sĩ phu yêu nước của phong trào Cần Vương chọn vùng núi Sam và Thất Sơn nơi đây làm căn cứ chuẩn bị lực lượng chống Pháp hoặc chờ cơ hội nổi dậy như Thủ Khoa Huân, Phan Xích Long, Trần Văn Thành, Trương Gia Mô, Huỳnh Mẫn Đạt, Doãn Uẩn…

Ông Nguyễn Văn Hầu có kể về chuyến đi Thất Sơn 7 ngày của chí sĩ Phan Bội Châu để gặp gỡ nhà sư yêu nước Trần Nhựt Thi (nghi là bí danh của hòa thượng Phi Lai, tức Ngô Lợi). Trước khi ra đi, Trần Nhựt Thi có ân cần dặn cụ Phan: "Phàm muốn làm việc gì bí mật, có bàn bạc với nhau, chỉ nên ở giữa trời xanh ngày trắng, hoặc ở đồng trống đường to, không nên ở chỗ đêm khuya nhà kín. Bởi trong đêm khuya nhà kín, tai mắt mình không thể phóng được xa, chỉ làm thêm cho cơ hội những món rình xét".

Mỗi năm có hàng triệu lượt người đến với núi Sam. Thu hút du khách đông nhất là mùa lễ hội vía Bà vào cuối tháng tư âm lịch với trung tâm điểm là miếu Bà Chúa Xứ, có tiếng là linh hiển. Miếu Bà được xây dựng đầu tiên vào khoảng năm 1820-1825 khi phát hiện ra tượng Bà trên đỉnh núi Sam. Theo nhà khảo cổ học người Pháp Malleret thì tượng Bà Chúa Xứ là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật thời trung cổ, thuộc loại tượng thần, được tạc theo dáng người ngồi, vật liệu bằng đá sa thạch, có giá trị nghệ thuật cao.

Mé đối diện miếu Bà là ngôi chùa cổ Tây An nổi tiếng, nằm trên ngã ba núi Sam từ Châu Đốc vào. Chùa do Tổng đốc An Giang là Doãn Uẩn lập từ năm 1847, sau được các hòa thượng Nhất Thừa, Thế Mật trùng tu và nổi danh trong thiên hạ khi Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên về đây ẩn tu. Chùa Tây An mang phong cách kiến trúc cổ truyền dân tộc kết hợp với kiến trúc nghệ thuật Ấn-Hồi. Chùa theo Phật giáo Bắc tông, dòng thiền Lâm Tế, trong chùa có hơn 11.000 pho tượng mang giá trị nghệ thuật và tôn giáo cao.

Cũng nằm bên sườn đông núi Sam là khu lăng mộ Thoại Ngọc Hầu cổ kính. Hai nhân vật miền Trung có ảnh hưởng hết sức to lớn trong tâm thức của người dân miền Tây Nam Bộ là Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại. Cả cuộc đời của Nguyễn Văn Thoại gắn liền với sự nghiệp khai phá mở cõi vùng biên ải và nằm lại muôn đời ở núi Sam. Ông vốn người Tiên Phước, Quảng Nam, từ năm 1817 chỉ huy đào kênh Thoại Hà nối liền Đông Xuyên (Long Xuyên ngày nay) đến Rạch Giá dài hơn 30km, rồi đào kênh Vĩnh Tế từ Châu Đốc tới Hà Tiên dài gần 100km, rộng hơn 36m và sâu 2,9m. Cho đến nay, hai con kênh này vẫn chiếm vị trí quan trọng trong việc giao thương và phát triển nông nghiệp.

Trước khi qua đời vào năm 1829, Thoại Ngọc Hầu đích thân chỉ huy xây dựng sơn lăng. Muốn lên lăng phải qua 9 bậc thang đá ong dài cả trăm mét vào sân lăng rộng lớn có tiểu đình, dựng bản sao bia Thoại Sơn, đại bác, tượng nai, hổ… Phần mộ Thoại Ngọc Hầu nằm giữa khuôn lăng, bên trái là mộ bà chính thất Châu Thị Tế, bên phải là mộ bà thứ thất Trương Thị Miệt. Phía chân mộ có bi ký và 5 tấm bia bằng đá sa thạch đã mòn chữ. Hai bên lăng chính còn có khoảng 50 ngôi mộ khác cũng được xây bằng vôi và ô dước. Đó là phần mộ của những dân binh tử nạn khi đào kênh Vĩnh Tế được Thoại Ngọc Hầu cho tìm mang về cải táng.

Đạo sĩ vùng linh địa

Giỏi bùa chú, trừ dịch bệnh, võ nghệ cao cường, hành hiệp trượng nghĩa là hình ảnh lâu nay tạo nên danh tiếng "đạo sĩ Thất Sơn". Thực ra, những "đạo sĩ" này không phải là giáo đồ của Đạo giáo hay Lão giáo kiểu Trung Hoa xưa. Họ không đọc những Đạo đức kinh, Huỳnh Đình kinh hay Thái bình kinh là những kinh điển của Đạo giáo. Những người tu hành trong hàng trăm am, miếu ở núi Sam và Bảy Núi đều theo Phật giáo pha trộn tín ngưỡng dân gian. Những đạo giáo thuần túy Nam Bộ nơi đây từ Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo đến những đạo đặc biệt khác như đạo Dừa, đạo Trần, đạo Ớt, đạo Nằm, đạo Tịnh… đều ra đời và phát triển trên cơ sở nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Tây An cổ tự dưới chân núi Sam chính là nơi hành đạo đến những ngày cuối đời của Phật thầy Tây An - người sáng lập ra đạo phái yêu nước Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông tên thật Đoàn Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh, sinh năm 1807 ở Tòng Sơn, Sa Đéc. Sinh ra trong một gia đình nông dân, từ nhỏ ông đã nuôi chí lớn, mê đọc kinh sách.

Năm 1849 mất mùa đói kém, dịch bệnh lan tràn, trộm cướp khắp nơi, Đoàn Minh Huyên đi khắp nơi vừa giảng đạo, vừa chữa bệnh bằng thuốc Nam và bùa chú, cứu chữa nhiều người đã khỏi bệnh. Dân chúng gọi ông là "Phật sống". Ông nhận đệ tử, phát giấy nhập đạo (lòng phái), gọi tên đạo là Bửu Sơn Kỳ Hương và có bài thơ truyền tụng: "Bửu ngọc quân minh thiên Việt nguyên/ Sơn trung sư mạng địa Nam tiền/ Kỳ niên trạng tái tân phục quốc/ Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên". Bửu sơn tức là núi quý báu, tức là Thất Sơn; Kỳ hương tức là mùi thơm lạ. Theo đó, sau thời mạt pháp, hội Long Hoa sẽ thành lập và cõi thiên đường hiện ra tại Thất Sơn.

Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương lấy tứ đại trọng ân làm nền tảng, gồm: Ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào, nhân loại. Giáo đồ lấy đạo Phật làm căn bản, không xuống tóc mặc cà sa, không thờ tượng cốt, chỉ treo tấm vải đỏ (trần điều), không ăn chay, không gõ mõ tụng kinh. Vật phẩm dâng cúng chỉ dùng hương hoa và nước lã đơn sơ. Chỉ cần giảng và nghe giáo lý chứ không cần ghi chép...

Ngoài việc truyền đạo, Đoàn Minh Huyên đưa đệ tử đến vùng đất phía tây Thất Sơn và Láng Linh dựng chùa, lập trại ruộng, khẩn hoang lập ấp. Thực dân Pháp nghi ngờ Đoàn Minh Huyên hoạt động chính trị, tập hợp loạn đảng nên ông bị Tổng đốc An Giang bắt giam. Sau đó ông được thả ra, nhưng bắt buộc ông phải chính thức xuất gia thọ giới theo nghi lễ của Phật giáo và tu tại Tây An cổ tự dưới núi Sam để dễ kiểm soát.

Ngày nay, dưới chân núi Sam, bên chùa Tây An còn lưu giữ mộ phần của Phật thầy. Ngôi mộ san bằng, không đắp nấm như lời dạy của ông trước khi viên tịch vào năm 1856 sau 7 năm giảng đạo.

Ảnh hưởng của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương rất mạnh ở Nam Bộ. Trừ đạo Cao Đài, những giáo phái sau này ở Nam Bộ đều chịu tác động của Bửu Sơn Kỳ Hương. Khi triều đình Huế đầu hàng thực dân Pháp, hầu hết các tín đồ của đạo đều tham gia vào cuộc kháng chiến, trong đó có Nguyễn Trung Trực - người đốt cháy tàu chiến "Hy vọng" của Pháp trên sông Nhật Tảo, Trần Văn Thành - tức đức Cố quản, người lãnh đạo khởi nghĩa tại vùng Láng Linh - Bảy Thưa ở An Giang…

Tứ Ân Hiếu Nghĩa hay đạo Lành là đạo mạch tiếp nối của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tại Thất Sơn. Người sáng lập tên thật là Ngô Viện, húy là Lợi, sinh năm 1831 tại Bến Tre. Thầy Ngô Lợi tự học kinh sách và năm 20 tuổi đã viết Bà La Ni kinh, rồi lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa năm 36 tuổi (1876), tự xưng là đức Bổn sư. Thầy Ngô Lợi đưa các tín đồ tới vùng An Lộc, An Giang dựng chùa rồi vào vùng Thất Sơn khai hoang lập trại ruộng. Tứ Ân Hiếu Nghĩa thờ trần điều, thờ Phật, Sơn thần và trăm quan cựu thần liệt sĩ. Pháp môn tu hành của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là: Trì niệm theo Thiền tông; xử sự theo Nho giáo; Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo; ấn quyết, thần chú theo Mật tông.

Về giáo lý thì như Bửu Sơn Kỳ Hương, lấy Tứ đại ân làm trọng, không ăn chay trường và cũng hạn chế sát sanh. Từ năm 1881 trở đi, thực dân Pháp nhiều lần đem quân đàn áp, triệt đạo, đốt chùa, bắt nhiều tín đồ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đày ải. Năm 1888, thầy Ngô Lợi bị bắt nhưng trốn thoát nhờ sự che chở của dân chúng và viên tịch tại núi Tượng 2 năm sau đó. Sau hơn 140 năm hình thành và phát triển, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có khoảng 80.000 tín đồ, sống rải rác ở nhiều tỉnh, thành Nam Bộ.

Còn nhiều, rất nhiều giai thoại về những "ông đạo" nổi tiếng ở Thất Sơn như Đơn Hùng Tín (Luông Tín) luyện thành công phu "đao thương bất nhập"; Lê Văn Mưu lập ra đạo ông Trần ở Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu); hai đại đệ tử của Phật thầy Tây An là Tăng Chủ và Đình Tây, có thể bắt cá sấu thành tinh, hàng phục cọp dữ. Hay đạo sĩ Bảy Do luyện võ ở núi Cấm, lập Nam Cực đường, thu phục dân chúng mưu đồ đánh Pháp. Năm 1917, bị Pháp bắt giam tại khám Lớn Sài Gòn, rồi bị đày ra Côn Đảo, ông đã cắn lưỡi tử tiết vào năm 1926, khi mới 45 tuổi.

(Theo ANTG)

ĐI NÚI SAM VÍA BÀ, CẦU ĐƯỢC VÀ THẤYNgày cuối tuần, tại khu du lịch Núi Sam (Châu Đốc - An Giang), hàng ngàn người dắt nh...
03/03/2018

ĐI NÚI SAM VÍA BÀ, CẦU ĐƯỢC VÀ THẤY

Ngày cuối tuần, tại khu du lịch Núi Sam (Châu Đốc - An Giang), hàng ngàn người dắt nhau mang theo hương đăng trà quả… và cả tấm lòng thành viếng, cúng các vị thánh hiền đang được thờ phụng trong nhiều chùa miếu lăng tẩm. Người đông đúc trong nắng nóng tháng 4 nhưng không đến mức ngột ngạt hay bực bội khi lọt vào khuôn viên miếu Bà Chúa Xứ.

Ngày cuối tuần, tại khu du lịch Núi Sam (Châu Đốc - An Giang), hàng ngàn người dắt nhau mang theo hương đăng trà quả… và cả tấm lòng thành viếng, cúng các vị thánh hiền đang được thờ phụng trong nhiều chùa miếu lăng tẩm. Người đông đúc trong nắng nóng tháng 4 nhưng không đến mức ngột ngạt hay bực bội khi lọt vào khuôn viên miếu Bà Chúa Xứ.

Bước qua hàng rào “cò mồi” bán nhang đèn đang léo nhéo ngoài cổng miếu, chúng tôi rảo bước vào sân Miếu Bà. Nhang khói lan tỏa, mâm cúng đầy bàn, mỗi người mỗi vẻ hướng về tượng bà Chúa Xứ cầu mong. Một cụ bà nhíu mặt vì khói cay nói vừa đủ nghe “bà linh thiện phụ độ cho con cháu mạnh khỏe, quốc thái dân an…”, rồi bà vuốt tóc bước ra nhường chỗ cho người khác. Tâm linh quả cũng cần có trật tự và sự biết điều nhất định!

Từ sáng đến tối hàng trăm người đốt hàng mã áo mão kim ngân… khấn cầu nghi ngút.

Hầu hết các bàn cúng đều chật nêm với vô số sản vật từ tiền bạc hàng mã đến áo mão, gạo muối, heo quay… tất cả là tấm lòng thành của người hành hương. “Có cúng Bà và tạ ơn, gia đình tôi mới yên lòng. Năm nào cũng vậy chỉ cầu khẩn và mong được Bà phù độ những điều trong khả năng, làm ăn yên ổn, gia quyến mạnh giỏi. Tạ ơn bà cũng là để nhắc nhở mình tốt hơn trong cuộc sống mà” - Anh Hùng, nhà ở quận 3, TP.HCM thành tâm. Sau khi khấn vái, anh rút ra ngoài, vác theo cả con heo quay 12kg mọng đỏ.

Trước khi đi anh còn bỏ vào thùng từ thiện được đặt trong khu chánh điện Miếu Bà nắm tiền lẻ. Rất nhiều người đến hỷ cúng rồi xin lộc bà bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng trên hết vẫn là lòng thành và đức tin. Doanh nhân đại gia có tiền thì cúng heo quay, áo mão, khánh vàng và còn tạ ơn Bà số tiền lên đến bạc triệu. Còn người thu nhập thấp thì cúng bà bằng sản vật cây nhà lá vườn. Tất cả đều như chìm trong miền tâm linh vĩnh hằng...

Tiền cúng bà từ tấm lòng thành được Ban Quản trị ghi vào sổ, xuất giấy xác nhận và cảm ơn, coi như đã góp một phần công sức trùng tu xây dựng khu du lịch tâm linh Núi Sam. Số tiền này năm 2007 thu trên chục tỷ đồng và được gửi vào ngân hàng để sau đó tái đầu tư xây dựng phát triển vùng du lịch tâm linh Núi Sam.

Về tâm linh, với những người dân lành, đi vía Bà Chúa Xứ còn là cách để giải bày nỗi lòng mong được chứng giám chia sẻ. Dù chỉ là bó nhang, quả đu đủ hay bọc gạo vừa mới được xay từ ruộng lúa sau nhà nhưng vợ chồng Bảy Cậu ở Hòa Bình (Chợ Mới, An Giang) vẫn tự tin đặt vào nơi chánh miếu ngang với mâm cỗ xanh đỏ cao ngất cùng bàn. Để rồi “của ít lòng nhiều mong bà chứng giám…” .

Nhiều nông dân áo bà ba dép lê đứng bấm ngón lầm thầm, giây phút hương khói ấy thật linh thiêng, đã không còn ranh giới của giàu với nghèo, già với trẻ hay thành phần xã hội. Tất cả đều thanh thoát thiện tâm, đều ít nhiều tín ngưỡng cầu mong.

Góp hụi đi vía

Những ngày cuối tuần, dù chưa vào chính lễ, nhưng theo ban quản trị lăng miếu Núi Sam, khách hành hương đến miếu bà ngày một đông, từ 30-40 ngàn lượt người. Tám bàn cúng đựợc kê thêm nơi chánh điện lúc nào cũng đầy ắp mâm cúng. Theo thống kê mỗi ngày thứ bảy, Chủ nhật, bá tánh đến cúng trên 200 con heo quay lớn nhỏ, vài tấn gạo, muối, trái cây...

Miếu bà Chúa Xứ dưới chân núi Sam ngày nào cũng dập dìu người vào ra.

Ông Thái Công Nô, Phó trưởng Ban Quản trị lăng miếu Núi Sam nói, năm nay dù tình hình giá cả leo thang, làm ăn khó khăn hơn trước, nhưng khách hành hương vẫn đến đông hơn các năm. Lý giải điều này, nhiều vị khách đi vía bà cho biết, tâm lý chung năm sau thường chuẩn bị lễ quà đi cúng Bà Chúa Xứ cao hơn năm trước.

Vợ chồng chị Hai Sen ngồi nghỉ chân trong khuôn viên miếu bà tâm sự: “Năm nay đi cúng, vợ chồng tôi còn rủ thêm hàng xóm cả chục người rồi bè bạn bà con. Vừa du lịch vừa mong được lộc bà ăn nên làm ra”. Có đoàn đi vía bà cả hội, cả xóm, thuê cùng lúc 2 chiếc xe đò 54 chỗ đông vui. Quan sát một đoàn vía bà đến từ Tây Ninh chúng tôi thấy khá… “hội hè”, long trọng. Dẫn đầu đoàn là 4 người khiêng 2 con heo quay loại trên 40kg, phía sau là 4-5 mâm ngũ quả, áo mão nhang đèn, quần áo chỉn chu tiến vào chánh điện. Cách thức bày biện khấn vái cũng bài bản. Hỏi ra mới biết năm nào bà con cũng chuẩn bị cho chuyến đi cả tháng, trong đoàn mỗi người góp một ít tiền cho chi phí quà cúng và thuê phương tiện đi về.

Hầu hết các đoàn cùng viếng tập thể. Ông Nguyễn Văn Đồng, thành viên quản miếu nói rằng, tiểu thương các chợ, các hội cùng chung ngành nghề hay một khóm ấp làng quê nào đó. Thậm chí có nhóm tiểu thương còn tổ chức góp hụi không tính lãi mỗi ngày vài ngàn ròng rã cả tháng để tổ chức cho chuyến đi du lịch về miền tín ngưỡng này.

Văn hóa du lịch tín ngưỡng có sức hấp dẫn lạ kỳ, có lẽ đó là nhu cầu khá phổ biến khi người dân nói chung vẫn dựa vào tâm linh để gửi gắm lòng thành và đức tin. Có người còn mong được sờ vào tượng Bà rồi vuốt tay lên đầu hoặc xoa lên bức tường phía sau lưng nơi Bà tọa lạc để tĩnh tâm cầu khẩn ước được, có khi là sám hối hứa cải.

Ăn theo tâm linh

Năm nay, trong khu vực miếu Bà Chúa Xứ đã có hàng rào bảo vệ chuyên nghiệp chặn đội quân cò mồi phía ngoài và tóm kẻ xấu trộm cắp bên trong. Khách đã yên tâm hơn khi vào cúng vái vía bà. Ông Tám Trắng, Trưởng Ban quản trị lăng miếu núi Sam nói: “Ban đã đầu tư 200 triệu mua camera quan sát từ xa, thành lập một đội gồm 60 bảo vệ và thuê công ty vệ sĩ cùng tham gia để lập lại trật tự trong khu du lịch...".

Đội quân cò nhang đèn tựa hàng rào gọi khách từ bên trong khu lăng miếu núi Sam.

Đội quân cò nhang đèn tựa hàng rào gọi khách từ bên trong khu lăng miếu Núi Sam.

Thế nhưng, vẫn chưa thể dẹp hết bọn cò mồi bán nhang đèn, chim phóng sinh rồi mê tín dị đoan bói toán gần xa. Đội quân này gây níu kéo nài nỉ phiền hà du khách và lừa gạt. Ngày nào công an cũng bắt nhưng rồi luật pháp chưa đủ sức răn đe, nên đâu lại vào đấy.

Khi chúng tôi vừa vào sân miếu đã có hai chị bán chim phóng sinh hỏi “Thả chim phóng sinh đi anh, bà độ hên lắm!”. Chim phóng sinh 5.000 đồng/con, muốn thả bao nhiêu cũng được nhưng “phải ra khỏi khu vưc miếu bà nếu không… bảo vệ tịch thu”.

Rồi bói toán xin xăm, đồng cốt muôn vẻ. Theo chân một cò bói, chúng tôi vào ngửa tay cho bà Hai xem một quẻ. Nơi hành nghề của bà lọt thỏm trong túp lều thiếu sáng kín cửa. Sau tôi còn vài ba người khách chờ tới lượt để được tốn… 30.000 đồng phí coi bói.

Trong khu vực Núi Sam, ở khóm Vĩnh Tây 1, có nhiều thầy bói trá hình vô công rồi nghề nhưng giỏi miệng lưỡi bùa ngải. Có nhóm thầy bói còn tổ chức đường dây môi giới dẫn đường kẻ tung người hứng lừa gạt khách. Mới đây, nhóm thầy bói của trùm bói toán N.Ng đã bị công an phường núi Sam túm cổ khi xủ quẻ làm bùa trấn tiền của khách lên đến 1,2 triệu đồng.

Những vụ việc như thế vẫn thường diễn ra trong suốt mùa vía từ tháng giêng cho đến hết tháng tư âm lịch. Đi du lịch vía bà xem bói thử thời vận và được thấy bói giải hạn thì còn gì bằng, nhưng không ít người mê tín thái quá đã bị mê hoặc trấn tiền, vậy mà vẫn… thiêu thân.

Lãnh đạo công an phường núi Sam đã lập hồ sơ điều tra, có danh sách tên tuổi địa chỉ vùng làm ăn của trên 60 thấy bói. Tất cả đều đã ký cam kết không làm cái nghề “bói ra ma quét nhà ra rác” nũa, nhưng rồi vẫn tồn tại một loại hình dịch vụ bói chui rất khó dẹp này.

Mùa tâm linh vẫn huyền hoặc với hàng trăm giai thoại của các vị thánh hiền công đã một thời mở mang xây dựng làng quê Vĩnh Tế núi Sam. Bên cạnh cái đẹp với sự tôn thờ trang nghiêm ăn vào máu thịt của thập phương bá tánh là những sạn sỏi chưa thể nhặt hết. Người đi hành hương mùa vía sẽ thanh thản chiêm nghiệm và khám phá ra nhiều điều thú vị ở núi Sam hơn khi không còn cảnh níu kéo ỉ ôi.

VĂN KHẤN CÚNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG LỘC CHÙA BÀ CHÂU ĐỐCVăn khấn cúng miếu bà chúa Xứ núi Sam“Hương tử con lễ bạc tâm thành, c...
03/03/2018

VĂN KHẤN CÚNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG LỘC CHÙA BÀ CHÂU ĐỐC

Văn khấn cúng miếu bà chúa Xứ núi Sam

“Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ.

Cúi xin được phù hộ độ trì. Hương tử con là: Ngụ tại:….

Ngày hôm nay là Ngày….. Tháng….. Năm.

Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được: gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, bách sự cầu được như ý. ……. (Muốn gì cầu xin) Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ, cúi xin được phù hộ độ trì.”

“Ai đi cũng nên xin một BAO LÌ XÌ LỘC BÀ về cho may mắn nha…nói thẳng trong bao có khi là tiền, có khi là tấm áo Bà mặt cắt ra làm lộc

Cách sử dụng lộc Bà như sau:

– Khi rước lộc về nhà, thỉnh lộc bà lên một cái dĩa, sau đó để 4 ly nước suối kế bên, cầm từng ly lên khấn cung nghinh bà về cư gia, cứ mỗi ly nước ta khấn xong ta chế 4 góc nhà.

– Sau đó trân trọng đặt lên bàn thờ ở Mẹ Quan Âm chứ không nên để chỗ thờ Ông Địa như các nhà thường làm. Sẽ khinh thường bà, mà ông địa ông thần tài năm đó cũng không về được khánh.

– Khi đặt lên thì trong 9 ngày phải thay nước và 3 ngày thay trầu cau 1 lần.

– Sau đó ta có thể bỏ bóp hay để bàn thờ nhưng ta nhớ thường xuyên khấn Bà xin độ cho chúng con. Nếu để bàn thờ thì nên đặt thêm quanh bao lộc đó 5 thứ ngũ cốc.

– Cuối năm ngày 23 âm lịch hóa bao lộc này

Address

Angiang

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Bà Châu Đốc Núi Sam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share