HÒA HẢO

HÒA HẢO Hoa Hao Buddhism
P.O.Box 3048
Santa Fe Springs, Ca 90670
[email protected]

Đại Lễ Kỷ Niệm Năm Thứ 87 Ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Phật Giáo Hòa Hảo tại Nam California.Nguyễn Huỳnh Mai Ban Tr...
07/01/2026

Đại Lễ Kỷ Niệm Năm Thứ 87 Ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Phật Giáo Hòa Hảo tại Nam California.
Nguyễn Huỳnh Mai
Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo Miền Nam California long trọng tổ chức Đại Lễ 18 Tháng 5 Kỷ Niệm Năm Thứ 87 Ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo vào lúc 10 giờ 30 sáng Chủ Nhật, ngày 28 tháng 6 năm 2026, tại Hội Quán PGHH, 2114 W. McFadden Ave., Santa Ana, CA.

Được biết có sự hiện diện của Hòa Thượng Thích Minh Mẫn, Viện Chủ chùa Huệ Quang; ông chánh án Nguyễn Trọng Nho và phu nhân Vân Bằng; giáo sư Nguyễn Trung Quân, nguyên Hiệu Trưởng Trường Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ và trường Đại Học Sư Phạm Cần Thơ, ông Khanh Nguyễn, Ủy viên giao tế Hội Đồng Liên Tôn (Công Giáo) và Chánh Trị Sự Ngô Thiện Đức (Cao Đài) đại diện Hội Đồng Liên Tôn VN tại Hoa Kỳ, giáo sư Nguyễn Thanh Giàu, Hội Trưởng Ban Trị Sự Trung Ương PGHH, ông Trần Văn Tài, Hội Trưởng và Ban Trị Sự PGHH Miền Nam California; Bác sĩ Võ Đình Hữu, Chủ Tịch Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại, cô Nhiên Nguyễn đại diện ông Derek T.Trần, Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ, một số cơ quan truyền thông và đông đảo tín đồ PGHH cũng như thân hữu.

Về phần truyền thông có ông Phan Đại Nam đài SBTN-TV, cô Trang phóng viên đài Little Saigon-TV, ký giả Lâm Hoài Thạch nhật báo Người Việt, ký giả Thanh Phong nhật báo Viễn Đông, nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên và Jimmy Phocalibolsa9.

Chương trình được bắt đầu bằng lễ chào quốc kỳ Việt Nam, Hoa Kỳ, đạo kỳ PGHH và phút mặc niệm tưởng nhớ các bậc tiền nhân và những nạn nhân của thiên tai tại Venezuela. Ông Trang Văn Mến, Trưởng Ban Tổ chức, chào mừng quan khách và tuyên bố khai mạc. Tiếp theo, ông Lê Hữu Ky phụ trách phần nghi thức tôn giáo và quý vị trưởng lão hành lễ trước ngôi Tam Bảo.

Phần tuyên đọc bài Sứ Mạng của Đức Thầy do chính tay Ngài viết tại Bạc Liêu ngày 18 tháng năm, năm Nhâm Ngọ (1942) với giọng đọc của đồng đạo Từ Duy Khoa . Tiếp theo, cô Nguyễn Hằng Nga đọc Lời Khuyên Bổn Đạo hay còn gọi là Tám Điều Răn Cấm, được trích trong Sấm Giảng quyển 6: Cách tu hiền và ăn ở của một người bổn đạo.

Sau đó, ông Ngô Văn Ẩn, Trưởng Ban Phổ Thông Giáo Lý, trình bày Ý Nghĩa Ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Khai Sáng Nền Đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Ông nhắc lại lời Đức Thầy:

Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,
Đức Di Đà truyền mở đạo lành,
Bởi vì Ngài thương xót chúng sanh,
Ra sắc lệnh bảo ta truyền dạy.

Ông nói tiếp: “Đoạn này, Đức Thầy nói người đời này, muốn tu tỉnh rất may gặp Đức Di Đà sắc lệnh cho Ngài ra đời khai mở mối đạo, thì cứ mạnh mẽ tin tưởng để quy đầu theo Phật Pháp

Ngài ra đời trong thời kỳ này, với mục đích thi hành năm khoản chánh như sau: 1- Báo tin ngày tận diệt sẽ tới. 2- Đưa các thiện căn đến kỳ đại hội Long Hoa 3- Đánh thức các linh hồn đã gieo rắc các thiện duyên cùng Ngài ở nhiều tiền kiếp. 4- Phò trợ Thánh Vương. Và thứ 5- Chấn hưng Đạo Phật.”

Không khí bỗng trầm lắng, thiêng liêng và xúc động khi đến phần diễn ngâm Sấm giảng của Đức Huỳnh Giáo Chủ, bài Dặn Dò Bổng Đạo do hai đồng đạo Nguyễn Sum và Hoa Lưu phụ trách.

Ông Nguyễn Trung Quân đã nêu cao tinh thần yêu nước, bàn bạc trong toàn bộ Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Đức Thầy và cơ duyên khi được đi nghe Đức Thầy thuyết giảng khi mới 7 tuổi. Bài nói chuyện của giáo sư Quân đã nhận được rất nhều tiếng vỗ tay nồng nhiệt. Khi ông dẫn chứng những câu giảng và những câu thơ tuyệt diệu của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Tiếp theo là phần diễn ngăm Sấm Giảng bài Diệu Pháp Quang Minh, do giọng ngâm truyền cảm của hai nữ đồng đạo Trần Mỹ Hạnh và Nguyễn Kim.

Nhân dịp ngày Đại Lễ năm 87 trong không khí cỡi mợ thân tình, hai vị quan khách đặc biệt là Chánh Án Nguyễn Trong Nho và bác sĩ Võ Đình Hữu đều có lời phát biểu chân tình đầy cảm phục đối với vị giáo chủ trẻ tuổi của tín đồ PGHH. Chánh Án Nguyễn Trong Nho đề nghị trong tương lai nên tổ chức một buổi hội thảo nêu cao tinh thần và nói lên sự ưu tư của Đức Thầy, một người đã cho ông tình yêu nước mãnh liệt . Bác sĩ Võ Đình Hữu ca ngợi Đức Thầy thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng để bảo vệ đất nước.

Sau cùng là cô Nhiên Nguyễn, đại diện Dân biểu Liên bang Hoa Kỳ Derek T. Trần. Cô Nhiên Nguyễn có vài lời về chủ trương và đường lối hoạt động của Dân biểu Derek Trần và, thay mặt Dân biểu Derek Trần, cô trao cho ông Hội trưởng Trần Văn Tài Bằng Tưởng Lục của Quốc hội Hoa Kỳ.

Trước khi bế mạc, ông Nguyễn Đắc Thành, Phó Hội Trưởng Nội Vụ, thay mặt ban tổ chức trân trọng cảm tạ quý thân hữu và những đồng đạo đã góp sức để buổi lễ thành công tốt đẹp. Sau hết là buổi cơm chay thân mật do đoàn phụ nữ Phật Giáo Hòa Hảo khoản đãi với nhiều món cơm chay thanh khiết rất ngon miệng, đượm tình đồng đạo và đồng hương nơi xứ người.

Xin đọc thêm kinh sách, hình ảnh tin tức tại
http://hoahao.org
http://tuoitrephatgiaohoahao.com
http://nguyenhuynhmai.com

HÂN HOAN NGÀY ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ KHAI SÁNG NỀN ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO. (18-5 ÂL) PHAN THANH NHÀN Đạo Phật Giáo Hòa Hảo do...
06/23/2026

HÂN HOAN NGÀY ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ KHAI SÁNG NỀN ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO. (18-5 ÂL)
PHAN THANH NHÀN
Đạo Phật Giáo Hòa Hảo do Đức HUỲNH GIÁO CHỦ khai sáng từ năm Kỷ Mão (1939) trong dòng lịch sử cận đại của dân tộc, một nền đạo quy nguyên Phật pháp, không chuộng hình tướng lễ mễ, cốt yếu hướng về tâm, chủ trương nhập thế tích cực, phù hợp với phong hóa nhân sinh.

Vừa học hết bậc Tiểu học thì đau ốm liên miên nên Ngài phải rời nhà trường về nhà dưỡng bịnh. Bịnh tình của Ngài không có một lương y nào trị được. Cho đến năm 1939, sau khi hướng dẫn thân phụ đi viếng các am động miền Thất Sơn và Tà Lơn (vùng núi non linh thiêng hùng vĩ), Ngài tỏ ra đại ngộ và chính thức mở Đạo.

Bắt đầu là công việc chữa bịnh. Ngài có học thuốc với ai đâu, thế mà Ngài chữa đâu hết đó. Ngài chữa lành được các chứng bịnh hiểm nghèo với các phương pháp thật đơn giản là chỉ dùng lá cây, nước lã, giấy vàng, khiến các bác sĩ Tây y, các Đông y, các phù thủy có tiếng chữa các bịnh tà đều phải kinh dị.

Song song với việc chữa bịnh, Đức HUỲNH GIÁO CHỦ thuyết pháp thao thao bất tuyệt. Nhiều văn gia, thi sĩ, cũng như trong giới luật gia đến chất vấn đều công nhận Ngài là bậc siêu nhân. Đây là lời nhận định của ông Nguyễn Xuân Thiếp tức thi sĩ Việt Châu: “Con người đó thật kỳ dị. Mỗi ngày ngồi xe hơi đi mấy trăm cây số, diễn thuyết hai ba nơi, mỗi nơi nói thao thao bất tuyệt trong hai ba giờ giữa trời trước một đám đông nông dân hàng ngàn người, ai nấy im phăng phắc như nuốt từng lời một, có kẻ khóc mướt nữa. Có lần đương diễn thuyết thì trời đổ mưa, Thầy Tư (tức Đức HUỲNH GIÁO CHỦ) vẫn nói mà dân chúng vẫn đứng nghe dưới mưa. Lần nào diễn thuyết xong rồi cũng lên xe đi nơi khác liền, không thấy mệt nhọc, vẫn ung dung làm thơ. Mà ăn rất ít, toàn đồ chay. Sinh lực sao mà dồi dào thế! Sức lôi cuốn, thôi miên quần chúng sao mà mạnh thế”.

Văn chương của Đức HUỲNH GIÁO CHỦ rất bình dân, nhưng hàm súc, hấp dẫn với lối truyền giáo bằng thi ca là thích hợp nhất cho quần chúng đa số là nông dân ít học, vì dễ nghe, dễ nhớ, đơn cử một vài vần thơ sau đây: “Non sông rực rỡ chói ngời, Mãnh gương Phật đao soi đời cổ kim” và “Theo đòi gương phẩm Thích Ca, Dốc đem tâm trí tìm ra đao mầu” (Thu Đã Cuối) hay “Giúp đời đừng đợi trả ơn, Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng” (Sám Giảng Q3) hoặc “Đạo Vô Vi của Phật ân cần, Nối theo chí Thích Ca ngày trước” (Giác Mê Tâm Kệ)


Đức HUỲNH GIÁO CHỦ viết không cần giấy nháp và cũng để cho người đời thấy rằng Ngài là bậc siêu phàm, dù cho sự học ngoài đời chỉ hết tiểu học, nhưng mà các bài Sấm Thi của Ngài dùng rất nhiều từ Hán Việt, từ Phật học, chứng tỏ một trình độ Phật học cao, một sự vận dụng kho từ Hán Việt phong phú. Giáo pháp của Đức HUỲNH GIÁO CHỦ là siêu thượng nhưng không kém phần thực tế, có thể áp dụng cho bất cứ không gian và thời gian trên cõi đời nầy. Ngài là một nhà cách mạng tôn giáo vĩ đại; vì trước khi Ngài ra đời khai Đạo, Phật Giáo Việt Nam bị đình đốn, sai lạc và đao Phật thế giới chưa nói tới việc canh tân. Ngài chủ trương cắt bỏ những nghi thức phiền toái không đi đúng theo căn nguyên của Đức Phật Thích Ca Thế Tôn. Những nghi thức vô bổ cùng những hình thức lễ bái bề ngoài không phải là giá trị và ý nghĩa thực sự của tôn giáo. Không có sự tin tưởng và thực hành một cách mù quáng. Mọi vật đều được trình bày và mở rộng ra để người tín đồ tự do lựa chọn và phán đoán. Họ được tự do nghiên cứu và tìm hiểu những lời dạy dỗ của vị Thầy và đồng thời họ cũng được tự do hỏi để hiểu thấu đáo những điều gì họ còn nghi ngờ.


Đức HUỲNH GIÁO CHỦ khẳng định cốt lõi giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo chính là giáo lý của Đức Phật Thích Ca. Phật Giáo Hòa Hảo tự nhận là kế tục của đạo Phật: “Ta thừa vưng sắc lịnh Thế Tôn, Khắp hạ giái truyền khai Đạo pháp. Tùy phong hóa dân sanh phù hạp, Chấp bút thần tả ít bổn kinh” (Diệu Pháp Quang Minh) hay “Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh, Nên truyền ban cho chúng sanh tường”, “Đạo Vô Vi của Phật ân cần, Nối theo chí Thích Ca ngày trước” và “Ta là kẻ vô hình hữu ảnh, Ẩn xác phạm gìn đạo Thích Ca” (Giác Mê Tâm Kệ).


Đức HUỲNH GIÁO CHỦ theo đúng châm ngôn “Ngôn hành hiệp nhứt”, nói gì làm vậy. Ngài không chỉ rao giảng giáo lý mà toàn bộ cuộc sống của Ngài là hiện thân của giáo lý đó. Ngài giảng hòa hiếu mà thực sự Ngài sống hòa hiếu, vì vậy lời giảng và cuộc sống hòa hiếu của Ngài đã đi sâu vào lòng quần chúng, nên họ cũng muốn sống hòa hiếu như Ngài. Về hòa hiếu Ngài tự thố lộ: “Gẫm xác trần còn cách cội thung, Đâu có được giũ mùng quạt gió. Cơn mừng vui nào ngờ lũ ó, Vội bay ngang rồi xớt đi luôn. Chữ ngậm ngùi lụy ngọc ứa tuôn, Nào phải giống chim muôn điểu thú. Lìa quê hương quên câu nghĩa cũ, Bởi xác phàm hấp thụ đã lâu. Cuộc lung tung rối rắm trời Âu, Nên còn ngại bước đường trở gót” (Nang Thơ Cẩm Tú) hay “Nghĩ mình chọn kiếp con hoang, Quê hương rày đã dậm tràng sơn xuyên. Tổ đường còn một cành huyên, Từ đường hôm sớm luống phiền chờ trông. Hai em thiểu trí thơ đồng, Chị đà an phận theo chồng đàng xa. Từ mang một tấm áo dà, Mùi thiền đã thắm ơn nhà lợt phai. Sống sanh ra phận râu mài, Một đời một Đạo đến ngày chung thân. Tuy là xa cách cố nhân, Nơi đời tríu mến sớm gần cửa không. Từ bi buộc chặt cõi lòng, Còn ơn cúc dục để hòng mai sau” (Tự Thán).


Dù xa quê hương, nhưng khi Tết đến Ngài cũng không quên chúc phúc tông gia. Ngài nói: “Ngày Tết đến, nương mực viết thay lời, trước kính bái tông đường, sau chúc mừng ông bà đặng muôn điều hạnh phúc. Sau có hai bài thơ xin ông xem chơi cho rõ điều tâm sự”, là bài thi Đức Thầy gởi ông Mười (chú Đức Ông): “Xuân đến chúc mừng tuổi thúc ông, Đàng xa không thể viếng môn tông. Câu thơ cao hứng thay bầu rượu, Bài phú vui mừng thế chậu bông. Đạo đức gắng công nên cách mặt, Văn chương rèn chí chẳng phai lòng. Ơn nhà tạm gác sau nầy trả, Xin bớt đau lòng bớt ngóng trông” và “Trước đã đem thân hiến Phật đài, Chắc rằng sẽ được buổi trùng lai. Ra công khai hóa vì nhân chủng, Nhọc sức mở mang bởi cốt hài. Sanh đấng nam nhi toan xử thế, Sống làm hiền triết nghĩa gồm hai, Thuận hòa trăm họ đời an lạc, Chừng ấy xe tiên thế dép giày.” (Nhà thương Chợ Quán, tháng Chạp năm Canh Thìn).


Là người trên thế gian nầy, dù là tín đồ hay không tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, ai lại không muốn sống hiếu thuận với tổ tiên, ông bà, cha mẹ; ai lại không muốn sống hài hòa với mọi người trong làng nước, láng giềng. Đức HUỲNH GIÁO CHỦ lấy tự thân mình làm gương sáng giáo dục cho người khác, cho nên mỗi tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đều theo gương sáng Đức Tôn Sư của mình. Họ đều thực hành thuyết Tứ Đại Trọng Ân, sống hòa hiếu với mọi người trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Mỗi tín đồ, họ cũng là nhà truyền giáo không chỉ bằng lời nói mà bằng cuộc sống cả đời của họ, cuộc sống hằng ngày của họ. Nhờ giáo pháp thích thời đó mà chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài thu phục được hàng triệu tín đồ ở miền Nam nước Việt và ảnh hưởng càng ngày càng thêm rộng ra. Đây là điểm thành công vượt trội của Phật Giáo Hòa Hảo.

Phật Giáo Hòa Hảo ra đời với sứ mạng cứu vớt, như lời của Đức HUỲNH GIÁO CHỦ: “Ai ra nâng đỡ sơn hà, Ai ra cứu vớt nước nhà lâm nguy” (Đồng Đảng Tương Tàn), hay “Nghiêng hai vai gánh nặng non sông, Vớt trăm họ lầm than bể khổ” (Diệu Pháp Quang Minh), hay “Đừng làm tàn ác ham gây, Sẽ có người Nầy cứu vớt giùm cho” (Khuyên Người Đời Tu Niệm), hay “Thời kỳ này nhiều quỷ cùng ma, Trời mở cửa Qủy Vương xuống thế. Nên Ta mới ra tay cứu tế, Kẻo chúng sanh bịnh khổ quá chừng” (Giác Mê Tâm Kệ), hay “Cũng nhận được trần hoàn là bể khổ, Dốc tầm đường phóng giải cho thân tâm. Dìu nhơn sanh khỏi chốn mê lầm, Bờ giác ngạn kiên tâm lần bước tới” (trích trong bài thi “Gởi Bác Sĩ Cao Triều Lợi ở Bạc Liêu).


Hãy đọc qua toàn bộ Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Đức HUỲNH GIÁO CHỦ với tấm lòng thiết tha yêu thương nòi giống, yêu thương nhơn loại; chúng ta thấy ở đó những gì cần phải học, cần phải biết, những gì cần cứu vớt. Mà việc trước tiên tự cứu vớt bản thân chúng ta đang chìm đắm trong hôn mê, trong đường danh nẽo lợi, rồi đến cứu vớt dân tộc đang phân hóa do trào lưu tư tưởng tiến bộ Tây phương vào xung đột lẫn nhau.


Trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, những người tỏ ra yêu nước thương nòi là bị thực dân kềm chế hay bắt bớ tù đày. Còn đa số được gọi là dân trí thì mãi mê theo danh lợi lãng quên sự nghiệp tổ tông. Chỉ khối dân quê đông đảo nhứt, thuần phác, giữ được nhiều đức tính dân tộc thì lại dốt nát, sống cơ cực, làm chẳng đủ ăn, không người lãnh đạo. Vậy mà suốt dòng lịch sử, khối dân quê nầy là chủ động cho bao cuộc phục hưng dân tộc bằng cách cung cấp nhân lực, vật lực và tài lực.


Vì lý do đó Phật Giáo Hòa Hảo xuất hiện ngay trong lòng nông dân để giác ngộ họ, giúp họ tiến lên tự giải thoát lấy mình, phóng giải dân tộc rồi góp phần vào việc giải thoát nhơn loại. Cho nên việc đầu tiên phải gây cho họ một lòng tin ở mình bằng cách phát họa cho mọi người một lý tưởng nhơn sinh. Lý tưởng đó Đức HUỲNH GIÁO CHỦ Phật Giáo Hòa Hảo tổng hợp ba luồng tư tưởng lớn là Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo. Tinh thần từ bi bác ái của nhà Phật, tinh thần nhơn ái của Khổng Tử, tinh thần tiêu dao không màng danh lợi của Lão Tử, được phô diễn trong lời vàng tiếng ngọc, khi thì như hiệu lịnh, khi thì như nhắn nhủ khuyên răn, khi thì như cảnh báo được nhìn thấy trong Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Ngài: “Thức tỉnh nhơn dân đang mờ ám, Nên làm thi phú đặng ngâm nga” (Tối Mùng Một). Đức HUỲNH GIÁO CHỦ dùng văn thơ đi thẳng vào lòng người, cho mọi người thấy cảnh khổ não của xã hội Việt Nam và toàn nhân chủng, rồi giác ngộ họ tìm đường giải thoát, đó là chủ trương đại bi và đại giác. Khi con người có giác ngộ rồi, ai nấy đều phải lo làm tròn bổn phận làm người để tự cứu mình, gia đình mình, quốc gia dân tộc mình rồi đến nhơn loại, như Ngài hằng mong: “Biết làm sao gieo Đạo khắp đại đồng, Đưa nhơn loại đi vào vòng hạnh phúc” (Không Buồn Ngủ”, đó là chủ trương đại hành và đại Đạo.


Trong các hạnh thi thiết cứu đời, Ngài nhận thấy chỉ có hạnh Vô úy thí là cao quý nhứt, nếu thực hành được sẽ tạo nên nhiều công đức, sớm hội đủ điều kiện trở nên người hiền. Với các hạnh Tài thí và Pháp thí thì phải tích lũy công đức lâu ngày e không đủ thời giờ để thành người hiền và cơ hoại diệt gần kề. Một cơ hội hiếm có cho người tu hiền ở thời kỳ nầy lập lấy thân danh trong giai đoạn dân tộc Việt Nam đứng lên hy sinh xương máu đấu tranh giành độc lập cho đất nước, “Lập thân danh tuần trải nơi nơi, Chờ thời đại mới là khôn khéo” (Giác Mê Tâm Kệ) và Ngài đã nhận thấy: “Cuộc biến động nay mai nguy ngập, Một hội nầy rán lập thân danh” (Để Chơn Đất Bắc).

Chúng ta may mắn được có chư Phật, Thánh lâm trần dìu dắt trong cơn vận nước suy vong, trao cho chúng ta phương tiện để thực hành hạnh Vô úy thí. Để thực hiện hạnh nầy, Ngài đã phương tiện tạo ra, về mặt quân sự có bộ đội Nguyễn Trung Trực, về mặt chánh trị có Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, vừa tiến công bằng vũ lực, vừa liên kết các phong trào chống Pháp trong nước và tranh thủ kêu gọi sự ủng hộ các phong trào chống thực dân Pháp khắp thế giới. Đức HUỲNH GIÁO CHỦ tuyên bố: “Tôi, một đệ tử trung thành của đao Phật, một chiến sĩ trì chí của phong trao giải phóng dân tộc Việt Nam sẵn sàng cùng đoàn thể mình cương quyết đứng dậy đáp lại tiếng gọi của non sông, cương quyết tranh đấu để bảo vệ quyền lợi chung cho nòi giống (trích báo Quần Chúng ngày 14-11-1944).

Ngài tuyên thuyết: “Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau, Quyết dứt cà sa khoác chiến bào. Đuổi bọn xâm lăng, gìn đất nước, Ngọn cờ độc lập phất phơ cao” (Quyết Rứt Cà Sa) hay: “Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa, Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha. Đền xong nợ nước thù nhà, Thiền môn trở gót Phật Đà nam mô” (Tặng thi sĩ Việt Châu). Trong nhà Phật có từ ngữ “thân giáo” là lấy tự thân làm gương sáng mà Đức HUỲNH GIÁO CHỦ là ngọn đuốc soi đường cho nhơn dân bá tánh thiệt hành hạnh Tứ Ân, hòa vận mình vào vận mệnh của dân tộc.

Ngài tha thiết kêu gọi thanh niên tráng sĩ rường cột của nước nhà, hăng hái cùng nhau đứng lên giết giặc giành lại tự do, hãy noi theo chí hướng của các bậc anh hùng tiền bối: “Hãy tỉnh giấc hỡi muôn ngàn tráng sĩ, Nhìn thời xưa hùng vĩ nước ta. Bắc Nam một giải san hà, Mồ hôi giọt máu ông cha tài bồi. Trải qua cũng lắm hồi vận bĩ, Rồi anh em tráng sĩ đứng lên. Liều mình đục pháo xông tên, Liều mình giết giặc xây nền tự do” (Gọi Đoàn Tráng Sĩ). Ngài biểu hiện ý chí chiến sĩ bằng hạnh sống chung với binh sĩ, ngày ngày có mặt trong cơ ngũ, cùng ăn chung, cùng nghỉ chung với chiến sĩ, không phân biệt cấp bậc tớ Thầy. Ngài cũng băng đồng lội nước xông pha vào đường tên mũi đạn, không có một cử chỉ nào cách biệt với anh em quân nhân. Sự tăng trưởng con số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo nhanh chóng không phải chỉ ở nội dung giáo lý dễ hiểu, dễ thực hành mà còn ở tác phong của người truyền giáo nói và làm đi đôi.
Chủ trương cách mạng của Phật Giáo Hòa Hảo khắp các mặt ngấm ngầm đề ra, mà vị cứu thế muốn dùng văn thơ đi thẳng vào lòng người. Chúng ta thấy Phật Giáo Hòa Hảo với chủ trương chấn hưng tôn giáo, cải tiến tâm lý quần chúng, cải thiện xã hội, để gây một tin tưởng lớn vào lòng người ở tương lai.


1- CHẤN HƯNG TÔN GIÁO: Đức HUỲNH GIÁO CHỦ ra đời trước là mở cơ giáo độ để chấn hưng Chánh pháp của Đức Phật Thích Ca, vì từ ngày bặt truyền Y Bát đến nay, chơn pháp của Phật bị người đời làm sai lạc tinh nghĩa mà thành ra một ngày một suy đồi. Do đó mà hôm nay Ngài xuống trần để hoàn thành sứ mạng chấn hưng Phật pháp như Ngài cho biết: “Ta thương đời len lỏi xuống trần, Đạo Vô Vi của Phật ân cần. Nối theo chí Thích Ca ngày trước” (Giác Mê Tâm Kệ) hay: “Phận tớ xác phàm tớ sẽ vưng, Cúng dường cho Phật, Phật đành ưng. Dù cho phải chịu nhiều cay đắng, Cũng nguyện Đạo mầu sẽ chấn hưng” (Hiến Thân Sãi Khó).

Phật Giáo Hòa Hảo chú trọng đến việc suy đồi của đạo Phật ở trong nước diễn ra trong các chùa chiền hay trong hàng ngũ tăng đồ mà chúng ta có thể thấy được trong Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Đức HUỲNH GIÁO CHỦ như Ngài thống trách: “Cả ngàn năm nhơn tâm xao xuyến, Sao tu hoài chẳng thấy ai thành. Bởi chữ tu liền với chữ hành, Hành bất chánh người đời mới nói” (Giác Mê Tâm Kệ). Tình trạng suy thoái của Phật Giáo một phần là do những tu sĩ thiếu học thức, thiếu thực hành đã chỉ dẫn sai lạc nhưng phần khác cũng do hoàn cảnh xã hội và trình độ hiểu biết của dân chúng khi đó nữa.

Nguyên nhân sâu xa đi sai lạc Chánh Pháp là vì: “Rừng kinh kệ ít người hay chữ, Qúa mắc mỏ bởi chưng Phạn ngữ. Nên người đời khó kiếm cho ra, Mõ chuông bày, đọc tụng ó la. Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa lý” (Giác Mê Tâm Kệ). Trong dân gian, nhiều người đi chùa chỉ hiểu mơ hồ rằng nếu năng tới lui lễ bái, dâng cúng lễ vật, tiền bạc thì được phước, ngược lại thì gặp tai ương. Hầu như phần đông không hiểu rằng cốt tượng, chuông mõ chỉ là hình tướng giúp cho con người dễ tập trung tư tưởng mà suy gẫm về nền giáo lý nhà Phật, chỉ là để nhắc nhở mọi người tu khỏi xao lãng việc tu hành. Nó chỉ là phương tiện chớ không phải là cứu cánh.

Những bậc chân tu đạo hạnh, những người có thể hướng dẫn tín đồ càng ngày càng hiếm trong khi các kẻ buôn thần bán thánh thì càng ngày càng nhiều. Những tu sĩ Phật Giáo vẫn mơ mộng những chuyện viễn vông, lo cầu an, cầu siêu hay các hình thức mê tín dị đoan, vốn thật ra không hề có trong truyền thống của Phật Giáo. Thay vì thuyết pháp độ sinh, giảng dạy các chân lý cao thượng thì các sư sãi nầy lại mang những hình thức dị đoan ra hù dọa, chiêu dụ tín đồ. Chân lý cao đẹp nhằm đưa đến việc thoát ly sanh tử đã bị các tăng sĩ biến thành một thứ thần quyền với những hứa hẹn hão huyền, các nghi thức cúng kiến cầu đảo, lên đồng nhập cốt, cúng sao giải hạn v. v…

Thấy cái sai trái, Đức HUỲNH GIÁO CHỦ khuyên nên sửa đổi: “Khuyên sư vãi mau mau cải hối, Làm Vô Vi chánh Đạo mới mầu. Đạo Thích Ca nhiều nẽo cao sâu, Hãy tìm kiếm cái không mới có. Ngôi Tam Bảo hãy thờ Trần Đỏ, Tạo làm chi những cốt với hình. Khùng nói cho già trẻ làm tin, Theo Lục Tổ chớ theo Thần Tú” (Kệ Dân). Thế mà người đời có mấy ai giác ngộ sửa sai, “Thấy chúng tăng làm chuyện quái kỳ, Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ” hoặc: “Thấy dương gian lường gạt Thánh Thần, Mà chua xót cho đời Ngươn hạ” (Giác Mê Tâm Kệ). Ngài cảnh báo cho kẻ ưa làm điều dối mị, nếu không lo cải sửa sẽ chịu hậu quả khôn lường: “Đạo Phật vốn ngàn xưa rạng tỏ, Nay lu mờ bị mõ cùng chuông. Thấy chúng sanh đắp Phật bán buôn, Mà tội lỗi ngàn muôn lao lý” (Thiên Lý Ca).

Đức HUỲNH GIÁO CHỦ phê phán việc tu hành của người tu theo đạo Phật đã làm sai lạc đường lối Vô Vi Chánh Pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: “Đồng dẹp bớt âm thanh sắc tướng, Lo chấn hưng Phật pháp mới là” (Khuyến Thiện), Ngài cho chúng sanh thấy: “Theo Thần Tú tạo nhiều chuông mõ, Từ xưa nay có mấy ai thành? Phật từ bi độ tử độ sanh, Là độ kẻ hiền lương nhơn ái” (Kệ Dân), hay: “Phật nào ham tượng cốt phết vàng, Mà Tăng tạo hao tiền bá tánh” và “Phật chẳng qua dụng chữ tín thành, Chớ nào dụng Hương, Đăng, Trà, Qủa” (Giác Mê Tâm Kệ).

Trong việc tu thân xử kỷ, Đức HUỲNH GIÁO CHỦ dạy: “Sự lễ bái không đủ cho ta tỏ ra một tín đồ chân thành của đạo Phật được. Tại sao vậy? Vì Đức Phật chẳng bao giờ ngỏ ý rằng “các người hãy lạy thờ ta cho nhiều rồi ta sẽ độ giúp các người” mà trái lại, Ngài dạy rằng: “Các người nên hiểu biết phận sự con người phải làm gì trong kiếp sống và tìm kiếm chân tánh của mình”. Thiệt hành theo giáo lý của Ngài thì Ngài sẽ hướng dẫn và ủng hộ vậy” (trích “Trong Việc Tu Thân Xử Kỷ”).

Đức HUỲNH GIÁO CHỦ cũng khuyên day: “Thầy cảnh tỉnh giác ngộ điều gì chánh đáng thì khá vâng lời. Cần nhứt ở chỗ giữ giới luật hằng ngày. Còn sự lễ bái là điều phụ thuộc, là món trợ đạo nhắc nhở các trò nhớ phận sự mà làm. Thầy xét trong tam nghiệp, các trò còn mang nặng lắm. Trong đường tu, nương theo tam nghiệp thì khổ não lắm. Chúng sanh tịnh được tam nghiệp mới mong về cõi Phật. Tam nghiệp là: Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, Ý nghiệp (đọc lại trong cuốn Khuyến Thiện). Nhưng Thầy xét lại khẩu nghiệp của các trò nặng nề hơn hết. Hãy lấy gươm trí huệ mà dọn sạch ma lòng, hãy lấy lòng khoan dung mà đối đãi lẫn nhau, hãy lấy lòng bác ái nhân đạo mà cư xử với mọi người, Cần hiểu cái lý vô ngã của nhà Phật. Hãy rán sức thi hành sẽ có Thầy ủng hộ” (trích trong “Lời Khuyên Bổn Đạo”).


Tu là phải hành, mà hành thì phải công trì bái sám. Vậy chúng ta nên biết lối tu hành của nhà Phật, buộc người tu xét nét từng sát na, phải giữ cái tâm cho tụ, không để cho “tâm viên ý mã”, cũng giống như con bươm bướm chờn vờn bay từ hoa nọ đến hoa kia. Đức HUỲNH GIÁO CHỦ dạy: “Khi cầu nguyện đừng cho phạm lỗi, Phải làm tròn các việc vẹn toàn. Dân chớ nên làm bướng làm càn, Trong lúc ấy niệm cho lấy có” (trích “mục Chánh Niệm”). Phương pháp hành Đạo của Đức HUỲNH GIÁO CHỦ dạy có hiệu nghiệm là: “Nghe cạn lời chớ có mờ hồ, Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo” (Giác Mê Tâm Kệ). Khi xem đến Sấm Kinh của Ngài, nên suy nghĩ cạn lẽ để tìm hiểu nghĩa lý cho được rõ ràng chính xác, rồi cố gắng thực hành y theo, chắc chắn sẽ được đắc Đạo.

Qua dẫn chứng vài lời khuyên dạy trên đây, chúng ta thấy không có sự mâu thuẩn với hai câu: “Tu không cần lạy cần quỳ, Ngồi đâu cũng sửa vậy thì mới mau” (Sám Giảng Q3). Hai câu nầy đủ để nói lên hết cái cách mạng về tu hành của Phật Giáo Hòa Hảo; thiết tưởng chúng ta không nên quá dài dòng cho lắm, e làm giảm cái cô đọng và bao quát của hai câu gồm mười bốn chữ nầy. Tu là sửa đổi chính mình chứ không phải hoàn tất các nghi thức bên ngoài một cách máy móc. Chỉ khi mình đã hiểu được mình, ý thức được chính mình cũng như các hành động tư tưởng của mình một cách chân chính thì khi đó mình mới có thể phát tâm giúp đỡ những người khác được.

Mục đích con đường đạo là làm sao có thể giữ được trạng thái ung dung tự tại như thế trong mọi hoàn cảnh, từ chốn cô tịch vắng lặng cũng như trong những hoàn cảnh ồn ào náo nhiệt. Giữ sao cho tâm không rung động trước cảnh vui cũng như cảnh buồn, thuận duyên cũng như nghịch duyên, do đó người tu phải chấp nhận thử thách cái thế giới đầy phiền toái để xem khả năng chịu đựng và hành trì nhẫn nhục thế nào! “Rán nhẫn trăm phần dầu khó nhẫn” và “Chữ Nhẫn lời truyền Phật, Thánh, Tiên” (Nhẫn Đợi Thời Cơ), cũng như “Ai chưởi mắng thì ta giả điếc, Đợi cho người hết giận ta khuyên. Chữ nhẫn hòa ta để đầu tiên, Thì đâu có mang câu thù oán. Việc hung ác hể vừa tháp thoáng, Chữ từ bi ta diệt nó liền. Sự oán thù đáp lại chữ hiền, Thì thù oán tiêu tan mất hết” là lời chỉ dạy của Đức HUỲNH GIÁO CHỦ trong quyển “Giác Mê Tâm Kệ”.

Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Đức HUỲNH GIÁO CHỦ được truyền tụng, gây tin tưởng cho kẻ đang chịu nhẫn nại là được phước về sau. Chịu đựng ở đây không có nghĩa là ngồi một chỗ mà chờ ngày tận hế, nhưng phải nhập thế, phải sốt sắng lo làm ăn và lo tu hiền, làm tròn bổn phận đối với tổ tiên cha mẹ, đối với đất nước, đối với Tam Bảo, đối với xã hội. Là tín đồ thì ai cũng thuộc ít nhiều về lời giảng dạy để khi gặp trường hợp khó khăn về sinh kế, về thiên tai thì đem ra mà dẫn chứng, để lấy lòng tin.

2- CẢI TIẾN TÂM LÝ: trong thời kỳ Pháp thuộc, dân Việt Nam bị băng hoại, con người bon chen theo danh lợi, ích kỷ, giả dối, không chí hướng và nhất là không nghĩ đến giống nòi, mà chỉ nghĩ “Sớm lo lòn cúi, chiều ăn ngủ, Nào biết liệu toan gỡ nợ nần” (Rứt Cái Ngu Đần) Bởi vậy, việc cấp thiết là thức tỉnh và hun đúc họ có một tinh thần “tri hành hợp nhứt”.

Về phương diện tu hành, Ngài thức tỉnh người mê mau trở lại con đường chân chính, làm cho họ có một đức tin trong sạch soi sáng bằng trí tuệ, mới khỏi mắc vào mê tín dị đoan, hầu vững bước tiến: “Cảnh tỉnh người mê về cõi ngộ, Dạy răn kẻ tục vượt nê hà” (Chuyển Pháp Luân). Phải có ý thức về bổn phận đối với tổ tiên, đối với đất nước, nuôi chí hướng kiên cường: “Một phen nợ nước lâm đền, Đạo làm thần tử cho bền chí trai. Thừa cơ xoay trở gót hài, Vung gươm Thần Thánh dẹp loài cẩu phiên” (Nợ Nước) hay: “Sống làm sao vẹn chữ tu mi, Sống vùng vẫy râu mày nam tử” (Nang Thơ Cẩm Tú). Luôn luôn vững lòng chặt dạ “Rèn lòng giữ dạ sắt đinh”, không vì lời phê phán bất chánh của kẻ tiểu nhơn gièm pha mà bỏ việc dở dang “Dầu ai mua oán chác hờn mặc ai”, mà phải kiên định lập trường: “Đấng anh hùng dựng nên thời thế, Sá chi loài trùng dế nhỏ nhen” (Nang Thơ Cẩm Tú).

“Đời Đạo liên quan rạng chói ngời”, mà muốn được như vậy, cần phải mở mang trí tuệ mới mong hiểu biết mối Đạo mình đang theo, đem hiểu biết giác ngộ mà làm việc đời. Cần phải đọc Kinh Sử, lấy bài học của người xưa làm kinh nghệm cho công việc hằng ngày, công việc ngày nay không thể tách rời khỏi dòng lịch sử được, nếu ta muốn tạo lập sự nghiệp của Thánh Hiền, cho đất nước: “Đời phải biết suy kim nghiệm cổ, Thông cơ đồ dựng nghiệp Thánh Hiền” (Nang Thơ Cẩm Tú).

Đức HUỲNH GIÁO CHỦ khuyên tín đồ của Ngài phải đem cái ý chí kiên cường ra mà rèn luyện tình cảm: “Phải điêu luyện khối tinh thần cho mạnh mẽ đặng tự lập con đường rõ ràng duy nhất của mối Đạo mình đang theo đuổi để lấy đó làm cương mục mà bài trừ những thành kiến, cố chấp thói quen, sự chần chờ, lòng ham muốn, tánh kiêu ngạo, tật đố, gièm xiểm, dua nịnh, ích kỷ, tự tâm, sự mê đắm trong bể dục tình và sự phiền não nó làm cho náo loạn cõi lòng” (trích “Trong Việc Tu Thân Xử Kỷ”). Vậy phải hiểu rõ vấn đề tình cảm cũng là quan trọng. Nếu không làm chủ được tình cảm mà để cho nó phóng túng thì dẫu cho kế hoạch có hay ho thế nào cũng không giúp ích gì cho ta.


3- CẢI THIỆN XÃ HỘI: Đức HUỲNH GIÁO CHỦ không chỉ chú trọng tới sự suy đồi của Phật giáo mà còn chú trọng tới sự suy đồi của xã hội về nhiều phương diện. Xã hội Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc băng hoại và thối nát; cuộc sống đạo đức theo quan niệm của Khổng giáo không còn giữ được kỷ cương. Cờ bạc, rượu chè, đàng điếm nổi lên khắp mọi nơi, mê tín dị đoan đè nặng lên mọi tầng lớp xã hội.

Phật Giáo Hòa Hảo ra đời dùng quyền uy tinh thần tâm phục mọi người bằng giác ngộ. Với tôn chỉ hành đạo của Phật Giáo Hòa Hảo không đươc uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm. Các thứ vàng mã, thầy bùa, thầy pháp, làm chay đàn, bị xem như những thứ tin nhãm, mê hoặc lòng người làm sai lạc nền chánh tín trong đạo Phật “Dương trần bỏ bớt tánh tham, Đừng chơi cờ bạc đừng làm ác gian” và “Điếm đàng đĩ thỏa chớ gần, Để sau xem thấy non Tần xôn xao” (Sám Giảng Q3) hay : “Xá với phướn là trò kỳ quái, Làm chay đàn che miệng thế gian” và “Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi, Chớ có đốt tốn tiền vô lý” (Kệ Dân), “Lo ăn xài trà rượu xình xoàng, Chừng khổ não phàn nàn căn số”. Những tệ nạn trên đây là những mục tiêu cần thiết để giáo dục họ trở thành người hiền thiện của Phật Giáo Hòa Hảo thực hiện bước đầu tiên.


Đọc Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Đức HUỲNH GIÁO CHỦ, chúng ta thấy những chất liệu mà Ngài lấy ra từ lời của Phật Thánh để xây dựng nền giáo lý cho đạo Phật Giáo Hòa Hảo hoàn toàn Việt Nam, đơn sơ, thuần hậu, không cầu kỳ, không trí thức đến độ kiểu cách, không quá sâu sắc đến độ bí ẩn. Chất liệu đó rút tỉa từ cuộc sống bình dị của người nông dân miền Nam, từ căn bản Khổng giáo, Phật giáo được trộn lẫn vào nhau trong một tinh thần cởi mở tự nhiên. Chúng ta có thể nói rằng Phật Giáo Hòa Hảo là kết tinh trọn vẹn của văn hóa dân tộc vì trong Phật Giáo Hòa Hảo chúng ta thấy được màu sắc Khổng Giáo trong đời sống đạo đức hằng ngày, tín ngưỡng Phật Giáo và thờ cúng Tổ tiên trong sinh hoạt tôn giáo cũng như tình tự quê hương dân tộc trong cuộc sống tình cảm.
Trong lúc nước nhà gặp khó khăn, xã hội băng hoại, lòng người chao đảo chia rẽ, lại thêm bị ảnh hưởng chiến cuộc bên ngoài gây cho nội tình không mấy tốt đẹp cho đất nước làm con người hoang mang sợ sệt. Trong tình cảnh đó Phật Giáo Hòa Hảo ra đời, là một thứ dầu mầu nhiệm nuôi ngọn lửa lòng cho dân Việt. Thế nên dù không ai bảo ai nhưng lòng của mỗi người đều tin tưởng rằng tuy nay nước nhà gặp cơn bĩ cực, nhưng rồi đây sẽ có một ngày tương lai sáng lạng “hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai”.

Một cảnh thái bình được vẽ ra “Trên vua minh chánh cầm cân, Dưới quan liêm tiết xử phân công bình” và “Trên kẻ trí lấy công bình phán đoán, Dưới vạn dân trăm họ được im lìm” (Không Buồn Ngủ). Cái cảnh mà chúng dân lạc nghiệp, muôn nhà thạnh thới, nhơn vật hòa đồng “Cỏ cùng cây điểu thú chim muông, Nhơn với vật hườn lai bổn tánh” (Nang Thơ cẩm Tú), mà ai muốn hưởng được cảnh đó ngay bây giờ phải trau tâm trỉa tánh, tu sửa thân tâm.

Đức HUỲNH GIÁO CHỦ Phật Giáo Hòa Hảo muốn đưa nhơn loại sống cảnh đại đồng “thế giới lân Hòa Hảo” và “gieo Đạo khắp đại đồng”. Nhơn loại không còn hiềm khích lẫn nhau một lòng yêu thương đùm bọc, cùng nắm tay nhau trên đường tiến bộ “Ấy là xong bốn biển hiệp một nhà, Không ganh ghét dứt câu thù hận oán” (Không Buồn Ngủ) và mãi mãi “đi vào vòng hạnh phúc”.

Đức HUỲNH GIÁO CHỦ là bậc quán liễu huyền cơ “toán biết âm dương” đã nhận thấy bước tiến của nhơn loại từ chủ nghĩa cực đoan dần dần biến thành chủ nghĩa xét lại, hóa giải hết mọi xung đột để trở thành chủ nghĩa trung hòa, tránh cho nhơn loại khỏi bị diệt vong. Do đó, Ngài chuẩn bị cho Việt Nam có đủ điều kiện nhận trọng trách vai trò siêu đẳng của mình trong xã hội Thánh đức an lạc ngày mai, vì “Nước Nam Việt Nhằm cõi Trung Ương, Sau sẽ có Phật Tiên tại thế” (Kệ Dân)

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật
Phan Thanh Nhàn (biên soạn 2026)

Address

2114 W McFadden Ave, Santa Ana, CA 92704-2832, United States
Santa Ana, CA
92704-2832

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when HÒA HẢO posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to HÒA HẢO:

Shortcuts

Share