Thư Viện Phật Việt

Thư Viện Phật Việt Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông. (Huyền Không - 1949)
(1)

(TT. Thích Nhuận Châu): Phật sở hành tán (Buddhacarita; 佛所行讃; T.192) là một trong những kiệt tác sớm nhất của thi ca Phậ...
05/26/2026

(TT. Thích Nhuận Châu): Phật sở hành tán (Buddhacarita; 佛所行讃; T.192) là một trong những kiệt tác sớm nhất của thi ca Phật giáo Sanskrit, do Bồ-tát Mã Minh (Aśvaghoṣa; 馬鳴, khoảng thế kỷ I–II Stl.) trước tác theo thể loại đại sử thi (mahākāvya). Tác phẩm gồm 28 phẩm, thuật lại toàn bộ cuộc đời Đức Phật Gotama từ đản sinh, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân cho đến nhập niết-bàn và phân chia xá-lợi. Với nghệ thuật thi ca tinh luyện cùng chiều sâu triết học, tác phẩm không chỉ phản ánh lý tưởng giải thoát của Phật giáo mà còn là dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học Sanskrit cổ điển.

Tác giả Mã Minh (Aśvaghoṣa) được xem là một trong những đại thi hào đầu tiên của Ấn Độ trước thời Kālidāsa, đồng thời là luận sư có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử tư tưởng Phật giáo. Ngài xuất thân từ truyền thống Bà-la-môn tại Sāketa (Ayodhyā), về sau quy y Phật giáo và nổi tiếng với khả năng biện luận, giáo hóa và sáng tác thi ca. Ngoài Phật sở hành tán (Buddhacarita), ngài còn được biết đến qua các tác phẩm như Tôn-đà-lợi Nan-đà (Saundarananda) và Hí khúc Xá-lợi Tử (Śāriputraprakaraṇa).

Bản Hán dịch hiện lưu hành trong Đại Chính tạng do Tam tạng pháp sư Đàm-vô-sấm (Dharmakṣema; 曇無讖) dịch vào đời Bắc Lương, mang số hiệu T.192.

Nay nhân mùa Phật đản, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu phần đầu của tác phẩm, tức phẩm 1, “Phật đản sanh”, mô tả sự thị hiện ra đời của Đức Phật trong văn phong sử thi trang nghiêm và giàu chất thi ca của truyền thống kāvya Ấn Độ. Qua ngòi bút của Mã Minh (Aśvaghoṣa), sự đản sinh của bậc Giác giả không chỉ là một sự kiện lịch sử của nhân loại, mà còn được trình bày như sự xuất hiện của ánh sáng trí tuệ giữa thế gian đầy khổ đau và vô minh. Những mô tả về hoàng hậu Māyā, điềm lành đản sinh, thiên giới hoan hỷ và phẩm tính siêu xuất của Thái tử Tất-đạt-đa (Siddhārtha) đều được diễn tả bằng ngôn ngữ thi ca tinh luyện, phản ánh lý tưởng cao đẹp về một bậc Đại giác ngộ xuất hiện vì lợi ích của chư thiên và loài người.

Chúng tôi sẽ trình bày phần Việt dịch từ bản Hán của Đàm-vô-sấm (T.192) và đối chiếu 12 śloka đầu tiên của nguyên tác Sanskrit, nhằm làm nổi bật những yếu tố căn bản liên hệ đến thời gian, địa danh, nhân danh và các thuật ngữ văn hóa xuất hiện trong văn bản Phạn ngữ. Việc đối chiếu trực tiếp với nguyên tác Sanskrit là điều cần thiết, bởi khi chuyển dịch sang Hán văn, nhiều danh xưng và khái niệm đã được phiên âm hoặc diễn dịch theo truyền thống văn hóa Đông Á, đôi khi trở nên khó nhận diện đối với độc giả hiện đại. Thông qua việc đối chiếu Phạn–Hán–Việt, chúng tôi mong góp phần phục hồi phần nào bối cảnh văn hóa và ý nghĩa nguyên sơ mà tác giả Mã Minh (Aśvaghoṣa) muốn truyền đạt trong tác phẩm sử thi Phật giáo đặc sắc này.
_________
https://thuvienphatviet.com/thich-nhuan-chau-duc-phat-dan-sanh-qua-phat-so-hanh-tan-cua-ma-minh/
_________
Nguồn ảnh: Phước Nhẫn

(HT. THÍCH ĐỨC THẮNG): Đức Thế tôn đã thị hiện đản sinh nơi cõi Ta-bà đầy dẫy ô trược, tại vườn Lâm-tỳ-ni. Ngài xuất hiệ...
05/18/2026

(HT. THÍCH ĐỨC THẮNG): Đức Thế tôn đã thị hiện đản sinh nơi cõi Ta-bà đầy dẫy ô trược, tại vườn Lâm-tỳ-ni. Ngài xuất hiện với đại nguyện của một vị Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ, bước đi bảy bước vững chãi trên bảy đóa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất và tuyên bố: “Trên trời dưới đất, ta là bậc tôn quý duy nhất, đã giải thoát sinh tử, không còn tái sinh đời sau.”

Với sự thị hiện đản sinh này, Ngài đã trực diện năm sự ô trược của thế gian đó là: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược. Tuy vậy, tất cả những ô trược ấy không thể ngăn trở tâm chí của bậc Đại trượng phu, không thể làm chùn bước chân của bậc Xuất trần thượng sĩ, cũng không thể ngăn cản đại nguyện từ bi rộng lớn của Bồ-tát Tất-đạt-đa trong những chặng đường: Xuất gia tầm đạo, Thành chánh quả và Chuyển vận Pháp luân, giáo hóa chúng sinh.

Với tâm kiên trì, nguyện lực trí tuệ và sức mạnh đại bi, Ngài đã tuyên thuyết chánh pháp, khai mở con đường để hóa giải sự tranh chấp của thời đại; đưa chúng sanh thoát khỏi tri kiến tà vạy, và lối học xa rời nhân bản; diệu dược Phật pháp đã bảo hộ tâm ý của chúng sanh không bị nhiễm đắm tham sân si, kiêu mạn, cùng tư tưởng ích kỷ, chấp ngã và phân biệt nhị nguyên, thiên về siêu thực hay hiện thực vật chất,…

Với tâm kiên trì, với nguyện lực trí tuệ và sức mạnh đại từ bi ấy, mỗi bước chân của Đức Thế Tôn đều là bước chân an lạc; mỗi ánh nhìn của Ngài là sự biểu hiện từ Pháp thân, hiển lộ đức tính bất động và từ bi; mỗi Báo thân của Ngài kết thành hoa trái trang nghiêm cho cuộc sống; và mỗi Ứng thân của Ngài, tùy theo căn cơ và quốc độ, đều nhằm nhiếp thọ chúng sinh, khiến xả tà quy chánh, bỏ vọng về chân, lìa ngu si tà kiến mà tiến đến phương trời trí tuệ vô biên.

Kính bạch chư Tôn đức và thưa quý Phật tử.

Phật đản Phật lịch 2570 năm nay lại trở về trên khắp địa cầu, với tất cả niềm hỷ lạc của người con Phật trên khắp năm châu. Trong giây phút thiêng liêng mầu nhiệm của ngày khánh đản đức Từ tôn, toàn thể Phật giáo đồ chúng ta cùng quán niệm:

Nhìn về quê hương Việt Nam: dù đất nước đã chấm dứt chiến tranh hơn 50 năm qua, nhưng chiến tranh miệng lưỡi vẫn còn tiếp diễn; sự nghèo đói và bất công xã hội vẫn chưa được hóa giải thấu đáo. Hận thù có phần gia tăng, còn nỗi sợ hãi của muôn dân vẫn chưa có phương dược hữu hiệu để chữa trị trong đời sống hằng ngày.

Nhìn ra thế giới bên ngoài, chiến sự giữa Ukraine và Nga chưa đến hồi kết thúc thì những căng thẳng và xung đột giữa Hoa Kỳ-Israel và Iran tiếp tục gia tăng, chiến tranh kinh tế với nhiều diễn biến tinh vi, khiến thế giới vốn đã nhiều biến động lại càng căng thẳng thêm lên. Vũ lực nối tiếp vũ lực, lòng tham tiếp nối lòng tham, hận thù chồng chất hận thù, si mê và tà kiến không ngừng sinh khởi. Không bên nào chịu nhường nhịn, ai cũng nêu cao chính nghĩa về phía mình. Nhưng thực chất, tất cả đều là những hành động khởi lên từ tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn và tà kiến. Hệ quả là người dân vô tội phải gánh chịu khổ đau: sinh ly tử biệt, nhà tan cửa nát, màn trời chiếu đất; tất cả bởi những cuộc chiến khốc liệt với các loại vũ khí ngày càng tân kỳ và tàn phá nặng nề.

Lại nữa, trong bối cảnh xã hội đang phát triển và ứng dụng mạnh mẽ nền văn minh trí tuệ nhân tạo (AI), bộ mặt thế giới biến đổi nhanh chóng, khiến thực-giả khó phân, chánh-tà khó biện. Điều này dễ làm con người trở nên thụ động, thậm chí có nguy cơ bị gạt ra bên lề; cơ hội đó tạo điều kiện cho những kẻ xảo trá lợi dụng để thỏa mãn tham dục, nguy hiểm hơn là con người đánh mất sự tự chủ, tự tín nơi chính mình.

Phật giáo từ chối mọi sự ủng hộ chiến tranh, vì Phật giáo vốn yêu chuộng hòa bình. Phật giáo từ chối mọi hành động tàn hại, vì Phật giáo vốn trân quý sự sống. Phật giáo từ chối mọi hư ngôn, vì Phật giáo vốn tôn trọng sự thật.

Để cúng dường Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570, Tăng Ni, Phật tử chúng ta nguyện nỗ lực với tâm kiên trì, với nguyện lực trí tuệ và sức mạnh đại từ bi, thực hành Bát chánh đạo: nguyện nuôi dưỡng nhận thức đúng, suy nghĩ chân chánh, lời nói chân thật, hành động thiện lành, mưu sinh theo lời Phật dạy, siêng năng dứt ác làm lành, nhớ nghĩ chân chánh, tu tập thiền định đúng chánh pháp, để chuyển hóa “ngũ trược ác thế” trong đời này thành “năm sự thanh tịnh” , góp phần xây dựng hòa bình cho nhân loại.

Trong nguồn pháp lạc của mùa sen nở, hòa chung niềm hoan hỷ vô biên của hàng triệu tín đồ trên khắp thế giới hướng về ngày thị hiện của bậc Chánh Biến Tri, nhân danh Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất kính chúc chư Tôn đức Tăng-già nhị bộ và toàn thể đồng bào Phật tử các giới một mùa Phật đản: Giới thể trang nghiêm, Giới đức thâm mật, Giới hạnh thanh tịnh, Giới quả viên thành.

Nam Mô Vô Ưu Thọ Hạ Thị Hiện Đản Sanh Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
____
Link bài xem trong phần bình luận 👇

(HT THÍCH TUỆ SỸ): […“Một Con Người, này các Tỳ-kheo, xuất hiện thế gian; xuất hiện thế gian vì nhiều tăng ích, nhiều an...
05/14/2026

(HT THÍCH TUỆ SỸ):
[…“Một Con Người, này các Tỳ-kheo, xuất hiện thế gian; xuất hiện thế gian vì nhiều tăng ích, nhiều an lạc cho thế gian; vì thương tưởng thế gian; vì mục đích cứu cánh, vì tăng ích và an lạc của trời và người. Một Con Người ấy là ai? Là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác.”

Một Con Người đã vượt qua tất cả mọi hạn chế của con người, trong hạn chế của tư duy và nhận thức, bị ràng buộc bởi những cảm nghiệm phù phiếm về bản thân và thế giới; bị thúc đẩy bởi khát vọng sinh tồn mù quáng, ám ảnh bởi sợ hãi trước những sức mạnh vô hình luôn luôn đe dọa sự sống và sự chết; trong bóng tối kinh sợ của vô minh và khát ái, không tìm thấy nơi nương tựa an toàn, nhiều người tìm đến nương tựa, cầu khẩn thần núi, thần rừng, thần vườn, thần cây, thần miếu.

Một Con Người đã xuất hiện trong thế giới sinh loại, trong thế giới nhân sinh; trong thời trục định hướng cho lịch sử văn minh nhân loại, định hướng cho tư duy triết học, khoa học, và tôn giáo, từ hai nguồn suối dị biệt Đông Tây, tưởng như không thể có một nền văn minh tổng hợp của nhân loại mà chỉ có thể hợp nhất bằng bạo lực, như con người đã từng quỳ lạy trước các hiện tượng thiên nhiên không thể hiểu, đã tha hóa năng lực tự giác ngộ và tự giải thoát của tự thân, tự tâm để sùng bái các uy lực thần thánh; cuối cùng phát hiện một cá nhân chỉ có khả năng tồn tại an toàn dưới sự lãnh đạo một cá nhân sáng suốt, biết rõ mọi vấn đề, có khả năng khống chế mọi người khác dưới sức mạnh của bạo lực; con người khôn ngoan, bằng năng lực của trí tuệ, biết khống chế mọi người bằng bạo lực, bạo hành, con người ấy được tôn sùng là đấng Nhân chủ. Xã hội con người cần một đấng Nhân chủ, công bằng và sáng suốt; cũng vậy, thiên giới hiển nhiên cũng được ngự trị bởi một Đấng Thiên Chủ, toàn trí và toàn năng, để quan phòng trật tự thiên nhiên và bảo đảm an toàn cho con người trong thế giới sinh vật…]

(GHPGVNTN): THÔNG BẠCH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN Phật lịch 2570 – Dương lịch 2026 Kính bạch: Chư tôn Trưởng lão Hội đồng Giáo phẩm...
05/12/2026

(GHPGVNTN): THÔNG BẠCH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN
Phật lịch 2570 – Dương lịch 2026

Kính bạch: Chư tôn Trưởng lão Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Viện Tăng thống GHPGVNTN,
Chư tôn tịnh đức Tăng-già nhị bộ.
Kính thưa: Chư Thiện hữu tri thức, Quý Phật tử các Đạo tràng, Quý Huynh trưởng, Đoàn sinh GĐPT Việt Nam các cấp.

Cách đây hơn 26 thế kỷ, con đường giải thoát sanh tử khổ đau được hiển bày dưới ánh sáng chân lý mà đấng Chánh biến tri đã tuyên thuyết. Bước chân thị hiện của bậc Chúng trung tôn nơi vườn Lâm-tỳ-ni cách đây 2650 năm đã chấn động tam thiên, thức tỉnh chúng sanh đọa lạc trong ba cõi sáu đường quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng; trưởng dưỡng Giới, Định, Tuệ, và phẩm tính giác ngộ trong đời sống tự giác, giác tha.

Cảm đội ân đức từ bi của đức Thế tôn, kế thừa xứng đáng gia tài Phật pháp của đức Từ phụ, toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam qua nhiều thế hệ đã lập nguyện truyền thừa mạng mạch Phật pháp; làm cho Phật chủng không đoạn mất, chất liệu từ bi, trí tuệ, hùng lực không bị lu mờ giữa thế sự nhiễu nhương. Bằng chí nguyện đó, cách đây 75 năm, tại Chùa Từ Đàm, Cố đô Huế, Phật giáo ba miền Nam – Trung – Bắc hòa hợp, thống nhất thành lập TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM (1951), biểu tượng cho sự thành tựu của phong trào chấn hưng Phật giáo tại quê hương con Lạc cháu Hồng. Thanh âm thống nhất Phật giáo đã cất cao cùng nhạc khúc “Phật giáo Việt Nam”, đồng vọng đến ngày hôm nay với lời tuyên ngôn: “…Phật giáo Việt Nam tất phải được thống nhất. Hơn nữa, họa chiến tranh đang reo rắc khắp nơi, nhân loại lâm vào cảnh lầm than phiền não. Chính là thời Đạo Từ Bi Vô Thượng phải đem Cam lồ mà rưới tắt lửa sân si để xây dựng cảnh thái hòa cho muôn loại…”. Công nghiệp cao cả ấy, được Tăng, Tín đồ Phật giáo Việt Nam gìn giữ qua những dấu ấn: vì Pháp thiêu thân, vì Đạo vong thân của chư Thánh tử đạo trong Pháp nạn 1963; và sự thống nhất Phật giáo trọn vẹn từ lý tưởng đến hệ thống qua sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; còn lưu truyền mãi công hạnh xả thân của Phật giáo đồ Việt Nam để Vận động bình đẳng tôn giáo, Bảo vệ toàn vẹn Hiến chương GHPGVNTN qua công cuộc giải trừ Pháp nạn 1966 – 1967, đến nay đã đi qua 60 năm chan hòa huyết lệ. Tất cả đã trở thành gia tài thiêng liêng mà GHPGVNTN nguyện bảo trì dù phải đối mặt với bao chướng duyên, nghịch cảnh.

Kính bạch Chư tôn đức,
Kính thưa quý vị,

Với tất cả niềm hỷ lạc cúng dường khánh niệm Phật đản sanh PL.2570, tri ân công đức giáo hóa cao dày của Đức Từ phụ, nhớ ơn chư vị Tổ sư, chư Tiền bối hữu công truyền trì mạng mạch, khắc ghi công hạnh hy hiến cao cả của Chư Thánh Tử Đạo Phật giáo Việt Nam; Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Viện Tăng thống GHPGVNTN thành kính thiết lễ CÚNG DƯỜNG PHẬT ĐẢN PL.2570 – DL.2026 vào lúc 8h00 ngày 08 tháng 04 năm Bính Ngọ (nhằm ngày 24 tháng 05 năm 2026) tại Tổ đình Phật Ân, xã Bình An, Tp. Đồng Nai với chương trình như sau:

Ngày 07 tháng 04 năm Bính Ngọ (nhằm ngày 23 tháng 05 năm 2026)
– 15h00 – 16h00 : Huynh trưởng, Đoàn sinh GĐPT VN, Phật tử các Đạo tràng vân tập
– 16h00 – 17h00 : Tiến thí âm linh cô hồn
– 17h00 – 18h00 : Dâng hương hoa tưởng niệm Chư Thánh Tử Đạo
– 18h00 – 19h00 : Pháp thoại
– 19h00 – 21h00 : Văn nghệ cúng dường của Gia Đình Phật Tử Vụ

Ngày 08 tháng 04 năm Bính Ngọ (nhằm ngày 24 tháng 05 năm 2026)
– 6h30 – 7h30 : Trang nghiêm Đạo tràng – Phật tử vân tập
– 7h30 – 8h00 : Cung nghinh Chư tôn đức Tăng, Ni quang lâm
– 8h00 – 10h00 : Cử hành nghi thức cúng dường khánh đản

Niệm Phật cầu gia bị
Chào Phật giáo kỳ – Phút tưởng niệm
Bạch trình lý do – Thông qua chương trình
Giới thiệu Chư tôn đức chứng minh, quan khách tham dự
Tuyên đọc Thông điệp Phật đản PL.2570 của Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Viện Tăng thống GHPGVNTN.
Tuyên đọc Thông điệp Phật đản 2570 của Liên Hiệp Quốc
Niêm hương bạch Phật
Cử chuông trống Bát nhã – Phút nhập từ bi quán
Dâng hoa cúng dường
Nghi thức cúng dường Phật đản 2570
Cảm tạ
– 10h00 – 11h30 : Cung thỉnh Chư tôn đức và kính mời đạo tràng Phật tử thọ trai
– 11h30 – 12h00 : Cung tiễn Chư tôn đức hồi quy bản vị – Hoàn mãn.

Để Phật sự được thành tựu, Viện Tăng Thống có lời khuyến tấn:

– Chư tôn đức Tăng, Ni trụ trì các tự viện, Ban hộ tự các trụ xứ, BHD GĐPTVN các cấp trong và ngoài nước: cung thiết Lễ đài, thọ trì Pháp bảo tôn kinh, tổ chức các khóa huân tu công đức, thực hiện các chương trình hành hương tưởng niệm, văn hóa, văn nghệ, phước nghiệp sự,… trong suốt tuần lễ Phật đản để cúng dường Đức Từ tôn, hồi hướng công đức báo tứ trọng ân, phổ cập pháp giới chúng sanh âm siêu dương thái;

– Quý Phật tử các Đạo tràng, Huynh trưởng, Đoàn sinh GĐPTVN các cấp trên Thế giới tôn trí lễ đài, cờ Phật giáo, đèn hoa tại tư gia, phát nguyện thọ trai, trì kinh, tham dự các khóa tu, phụng hành chư thiện pháp, hộ trì Phật sự tại các trụ xứ, thành tâm cúng dường khánh đản Đức Thế tôn;

– Nhiếp sự vụ Thanh niên kết hợp với Chư Tăng Chùa Phật Ân, điều động GĐPT vụ để tổ chức Đại lễ cúng dường Phật đản của Viện Tăng thống được viên mãn.

Kính bạch Chư tôn đức,
Kính thưa quý vị

Bằng tất cả lòng thành kính dâng lên đức Từ phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chúng con thành tâm cung thỉnh Chư tôn đức, trân trọng kính mời quý Phật tử hoan hỷ quang lâm chứng minh, tham dự buổi lễ và đồng nhất tâm cầu nguyện: Phật nhật tăng huy, Pháp luân thường chuyển, Thế giới hòa bình, Chúng sinh an lạc.

Kính nguyện hồng ân Tam bảo gia hộ Chư tôn đức: quảng tác phước huệ, phổ lợi hà sa.
Kính chúc toàn thể quý Phật tử cùng gia quyến thân tâm thường lạc, vạn sự cát tường.

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát.

Phật Ân Tự, Phật lịch 2569,
ngày 25 tháng 03 năm Bính Ngọ (11/05/2026)
Thừa ủy nhiệm Hội đồng Giáo phẩm Trung ương
Chánh Thư ký Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống
(ấn ký)
Tỷ-kheo Thích Đức Thắng
_________
Link: https://thuvienphatviet.com/ghpgvntn-thong-bach-dai-le-phat-dan-pl-2570-dl-2026/

Nguyên Không: Nhà Thơ Phạm Thiên Thư đã viễn du cùng bụi đỏ (1940-2026)-----------------------------Tin từ gia đình cho ...
05/07/2026

Nguyên Không: Nhà Thơ Phạm Thiên Thư đã viễn du cùng bụi đỏ (1940-2026)
-----------------------------

Tin từ gia đình cho hay, nhà thơ lớn với ngôn từ như suối hiền đã ra đi vào lúc 16g15 phút ngày 7 Tháng Năm 2026, tại nhà riêng ở đường Hồng Lĩnh, Phường Hòa Hưng, Sài Gòn (Quận 10 trước đây). Linh cửu sẽ được quàn ở chùa Vĩnh Nghiêm (Phường Xuân Hòa, Quận Phú Nhuận cũ) từ ngày 8 Tháng Năm 2026.

Từ khoảng một năm nay, sức khỏe của ông yếu dần, không còn sức ngồi cafe để tiếp người hâm mộ được nữa. Khoảng một tuần trước, ông bắt đầu ngủ nhiều, và bỏ ăn. Ở tuổi 85, nhiều người hay tin, chỉ mong nếu ông có phải ra đi, thì hành trình sẽ nhẹ nhàng như những vần thơ ông để lại cho đời.

Những người yêu âm nhạc biết nhiều đến ông, qua những ca khúc lừng danh mà Phạm Duy đã chuyển soạn, như Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu... quen thuộc thì như Đưa em tìm động hoa vàng

Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ

Nhưng phổ biến nhất trong một giai đoạn, vẫn là Ngày xưa Hoàng Thị. Thi tài của Phạm Thiên Thư kết hợp cùng âm nhạc biến hóa của Phạm Duy, đã góp vào di sản âm nhạc của người Việt những giai điệu da diết và bất tử.

Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Đôi chân mịt mù
Theo nhau bụi đỏ đường mưa

Kể lại mối tình thuở thiếu thời, thi sĩ Phạm Thiên Thư cười, lắc đầu "Mỗi lần tan trường, cô ấy ôm cặp đi trước, tôi lẽo đẽo theo sau. Tóc Ngọ bay bay trên đôi vai gầy nhỏ nhắn. Có những hôm trời mưa lất phất, cô ấy đưa cặp lên che ngang đầu. Tôi thấy thương quá, muốn làm một cử chỉ gì đó như là để chở che nhưng… thở mạnh còn không dám, nói chi là …".

Nhưng với tư cách là một nhân sĩ Phật giáo, Phạm Thiên Thư cũng để lại những tác phẩm độc đáo thi hóa kinh Phật, chẳng hạn như bộ Kinh Hiền Ngu (Damamuka Nidana Sutra), với 12.000 câu thơ lục bát, có một không hai trong thi ca Việt Nam. Danh mục thi hóa kinh của ông còn có như Kinh Ngọc (Kinh Kim Cương), Kinh Thơ (Kinh Pháp Cú)...

Ca ngợi nội dung và ngôn từ trong Kinh Hiền Ngu, Hòa thượng Thích Giác Toàn có viết "Qua những vần thơ đẹp, tác giả đã khéo léo đưa tư tưởng Phật giáo vào tác phẩm của mình: Khổ, không, vô ngã… Tôi nghĩ đây là tác phẩm về Đạo, về đời, xoa dịu những u uất, khổ đau để khuyến khích người ta đi tiếp đường đời bằng thái độ ung dung tự tại trong ý nghĩa chữ Không…."

Năm 1964, đi tìm chốn riêng của mình, nhà thơ Phạm Thiên Thư đi tu, lấy pháp danh là Tuệ Không, sau mười năm ông về làm cư sĩ, và lại ngồi lặng lẽ nhìn cuộc đời, suy ngẫm trong thế giới ồn ào chung quanh, mà đôi khi bị đánh thức bởi tiếng gọi, ông giật mình, chỉ nhìn và cười.

Phạm Thiên Thư đạt rất nhiều giải thưởng thi ca, nhưng giải thưởng lớn nhất của ông là sự hâm mộ và kính trọng của nhiều thế hệ người Việt, đi qua năm tháng vẫn không hề hao gầy. Ông thật sự đã đóng góp vào việc tạo nên khung trời tiếng Việt với những ngôn từ đẹp, thanh thoát đến lạ thường.

Đặc biệt là màu sắc trong thơ tình của ông là riêng một cõi, không lẫn được với ai. Nhận định về thơ của Pham Thiên Thư, nhà văn Võ Phiến có viết "“Tình yêu của ông (Phạm Thiên Thư) thật tội nghiệp. Không phải nó tội nghiệp nó đáng thương vì ông bị hất hủi, bị bạc tình, bội phản, vì ông gặp cảnh tuyệt vọng v.v… Không phải thế. Tội nghiệp là vì bên cạnh các mối tình vời vợi của ông lúc nào cũng thấp thoáng cái ám ảnh của kiếp sống mong manh, của cuộc thế vô thường, của cảnh đời hư ảo.”

------------
* "bụi đỏ", một ý trong câu thơ "ai mang bụi đỏ đi rồi", nằm trong ca khúc Ngày Xưa Hoàng Thị do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.

Sự kiện đức Phật đản sanh là một trong những sự kiện quan trọng trong lịch sử Phật giáo và văn hóa Ấn Độ cổ đại. Theo tr...
05/04/2026

Sự kiện đức Phật đản sanh là một trong những sự kiện quan trọng trong lịch sử Phật giáo và văn hóa Ấn Độ cổ đại. Theo truyền thống, đức Phật Thích-ca Mâu-ni (Siddhartha Gautama) đản sanh vào khoảng năm 624 trước Tây lịch (theo Phật giáo Nam truyền) hoặc năm 563 trước Tây lịch (theo Phật giáo Bắc truyền) tại vườn Lâm-tì-ni (Lumbini), nay thuộc Nepal. Sự kiện này gắn liền với truyền thuyết về bảy bước hoa sen và lời tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, báo hiệu sự xuất hiện của một bậc giác ngộ vĩ đại. Lễ Phật đản không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn là dịp để tưởng nhớ và học tập giáo lý từ bi, trí tuệ của Người, đồng thời khẳng định ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáo trong lịch sử nhân loại.

Thời khắc đức Phật đản sanh, ngoài truyền thuyết bảy bước hoa sen và lời tuyên bố “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” nói trên, còn có nhiều truyền thuyết khác được ghi lại trong kinh điển Phật giáo và văn hóa dân gian, nổi tiếng như có hai dòng nước ấm và lạnh tắm cho Thái tử, các vị thiên thần và Long Vương đón chào, cây vô-ưu (Aśoka) nghiêng cành che mát, đất trời rung động, hoa sen nở khắp nơi, ánh sáng rực rỡ chiếu tỏa… báo hiệu một sự kiện phi thường. Những truyền thuyết này không chỉ mang tính huyền thoại mà còn nhấn mạnh ý nghĩa tâm linh về sự xuất hiện của một bậc giác ngộ, bậc vĩ sẽ đem lại con đường giải thoát cho nhân loại.

(Thích Nhuận Giác: Những điềm lành khi Đức Phật đản sanh trong A-tì-đạt-ma Thi thiết túc luận)
______
Link đọc toàn bài trong phần bình luận👇

Gia Đình Phật Tử không chỉ là một Tổ Chức độc đáo của Phật Giáo Việt Nam; mà còn là một Tổ Chức duy nhất của Phật Giáo T...
04/22/2026

Gia Đình Phật Tử không chỉ là một Tổ Chức độc đáo của Phật Giáo Việt Nam; mà còn là một Tổ Chức duy nhất của Phật Giáo Thế Giới, đã hàng ngũ hóa được Thanh, Thiếu, Đồng Niên... [...]

Năm 1951, Đại hội Phật giáo toàn quốc họp tại Huế; Tổng Hội Phật giáo Việt Nam được thành lập do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ, cư sĩ Mai Thọ Truyền làm Tổng Thư kí. Tổng hội này có các uỷ viên như uỷ viên tăng sự, uỷ viên hoằng pháp, v.v… trong đó có uỷ viên GĐPT do Võ Đình Cường phụ trách. Cũng vào các ngày 24, 25, 26 tháng 4 năm 1951, Tổng Trị sự triệu tập Đại hội đầu tiên bàn về Gia đình Phật tử tại chùa Từ Đàm (Huế) gồm đại biểu của 8 tỉnh miền Trung và các đại diện chính thức của Gia đình Phật Hoá phổ miền Bắc và miền Nam. Mục đích của Hội nghị là báo cáo về tình hình sinh hoạt, phát triển của Gia đình Phật Hoá phổ tại các vùng, miền và các tỉnh; trao đổi kinh nghiệm xây dựng Gia đình, tổ chức Đoàn Đội liên hệ với tổ chức Phật giáo địa phương; thảo luận nội quy và danh xưng). Tại Đại hội này, danh xưng của tổ chức được đổi là “Gia đình Phật tử”. Hội nghị vạch ra bản nội quy cho GĐPT với mục đích: “Huấn luyện thanh thiếu và đồng niên Phật tử về phương diện trí dục, đức dục và thể dục trên nền tảng Phật giáo, để đào tạo thành những người Phật tử chân chính”. Từ đó, GĐPT chính thức ra đời, có quy chế, cấp hiệu, phù hiệu riêng và có cơ cấu tổ chức từ trung ương đến địa phương.

Thoát thai từ biến cố lịch sử, những nhu cầu bức thiết của xã hội, nhân sinh, những trăn trở của người con Phật chân chính trước xã hội hỗn loạn, Phật pháp suy đồi, bị ngộ nhận, rẻ khinh. Thuận duyên với Phong trào chấn hưng Phật giáo đang là trào lưu lớn mạnh trong toàn vùng.Thúc đẩy bởi tinh thần từ bi, trí tuệ và dũng mãnh. Lý tưởng GÐPT được ấp ủ, hình thành. Các tổ chức giáo dục thanh niên Phật giáo ra đời, hệ thống hóa thành một tổ chức khoa học, tiến bộ, bắt kịp trào lưu xã hội, tiến triển và trưởng thành đủ bản lĩnh nhận lãnh sứ mệnh đối với bản thân và xã hội. Từng giai đoạn hình thành, bằng chánh kiến, chánh tư duy, thiết lập chánh nghiệp, tương hợp trong mỗi trạng huống xã hội, chứng minh bản lĩnh vô úy của chính mình. Từng bước tiến lên tồn tại và trưởng thành vượt qua mọi xu thế chính trị, mọi thế lực nhất thời. Nhiếp phục xã hội, kể cả những kẻ không đồng tình với chúng ta vì lẽ này hay lẽ nọ. Bằng niềm tự hào quá khứ đó, cộng với tình trạng GÐPT hiện nay, trăn trở về một tiền đồ GÐPT là nỗi bức xúc không chỉ mỗi riêng ai. Nhìn lại quá khứ – thiết lập hành trang thích hợp cho con đường đi tới âu cũng là việc đáng làm, dù trễ còn hơn không. Bức xúc trước tình trạng xã hội và nhân sinh lúc bấy giờ, mong ước có một thế hệ Phật tử đầy đủ chính tín; những con người chân chính sống trong một xã hội chân chính là mong ước cháy bỏng trong lòng mọi người con Phật có trách nhiệm và có lương tâm.

Gia Đình Phật Tử không chỉ là một Tổ Chức độc đáo của Phật Giáo Việt Nam; mà còn là một Tổ Chức duy nhất của Phật Giáo Thế Giới, đã hàng ngũ hóa được Thanh,

Thích Tâm Nhãn: Những vị tông sư luật học thời cận đại—Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những ...
04/17/2026

Thích Tâm Nhãn: Những vị tông sư luật học thời cận đại

Nhân ngày húy nhật của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những vị tông sư hoằng truyền luật học Phật giáo thời cận đại, tôi trích đoạn trong tác phẩm lịch sử của tôi đang viết chưa hoàn thiện, có nhắc đến công trạng của ngài, như dâng lên tấm lòng tưởng niệm đến bậc Long tượng Phật giáo.

Năm 2017, thầy Tuệ Sỹ gợi ý cho tôi viết lịch sử dấu vết tông Luật của Phật giáo, được truyền thừa tại Việt Nam từ xa xưa đến cận đại, tôi bắt tay viết vào rằm tháng 7 năm ấy, cho đến nay vẫn còn dang dở. Ở Việt Nam hiện nay, các giới đàn tổ chức cho Tăng ni thọ giới, giới pháp họ thọ lãnh thuộc tông luật Pháp tạng bộ, y cứ trên hệ luật Tứ phần. Tuy nhiên, nhiều Tăng ni thọ giới xong không biết mình thuộc tông nào, bởi vì lịch sử truyền thừa ít có người nhắc tới hay chưa được viết thành thư tịch rõ ràng… Khi tôi viết, tôi lần dấu vết truyền thừa của tông Pháp tạng bộ, tác phẩm chỉ mới đi nửa chặng đường. Tâm nguyện của tôi rất muốn sớm được hoàn thành, và viết đến thời cận đại, để ghi danh các vị tông sư có công hoằng truyền Luật tạng mà hậu thế ít biết hoặc không biết nhiều. Thời gian đã 7 năm, công tẩn mẩn vẫn chưa có dấu chấm kết. Song vừa rồi, tôi nghiên cứu tông Hóa địa bộ hệ luật Ngũ phần, xem có truyền thừa tại Việt Nam hay không, sẵn tiện tôi khởi niệm kết hợp tóm tắt ý chính sự truyền thừa cả hệ luật Tứ phần và Ngũ phần, kể luôn các vị tông sư hoằng truyền tông Luật thời cận đại, cho độc giả tri tường.
[…]

Từ đó cho đến sau này, tại Việt Nam các giới đàn cũng như những vị tông sư truyền thừa đều thuộc tông Pháp tạng bộ. Thời cận đại, nếu kể đến thế hệ thứ nhất truyền thừa luật Tứ phần có Hòa thượng Đôn Hậu (1905-1992), Hòa thượng có biên soạn Cách thức sám hối các tội, luật Tứ phần tỳ-kheo-ni… Thế hệ thứ hai là Hòa thượng Thích Trí Thủ (1909-1984), những tác phẩm Hòa thượng trước tác và chủ biên: Luật tỳ-kheo – Tứ phần hiệp chú (1991) 2 tập, Yết-ma yếu chỉ, Nghi thức quy giới, Nghi thức truyền giới và bố-tát… (thế hệ này kể thêm, ngoài Bắc có Sư Cụ Bình Minh, trong Nam có Trưởng lão Thiện Hòa, Trưởng lão Hành Trụ). Thế hệ thứ ba là Hòa thượng Thích Đỗng Minh (1927-2005), do công trạng của Hòa thượng hoằng truyền và biên dịch luật học nhiều nhất nên mọi người xưng tụng là Tuyên luật sư. Hòa thượng dịch luật Tứ phần, Ngũ phần, Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tỳ-nại-da, …; trước tác Nghi thức truyền giới, “Tỳ-ni, sa-si, oai nghi cảnh sách văn vần”… Thế hệ thứ tư là Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ (1943-), ngài là người có công chấn hưng, truyền dạy luật học trước tình hình giềng mối Tăng-già rạn nứt trong xã hội đương thời. Ngài đã trùng biên, hiệu đính lại những bộ luật mà quý Hòa thượng dịch thuật trước đó như Tứ phần, Ngũ phần, Tứ phần hiệp chú, Yết-ma yếu chỉ… Và dịch thêm những phần Skandhaka (Kiền-độ) của Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ, như An cư sự, Xuất gia sự… Trước tác Du-già bồ-tát giới…

Đến đây chúng ta có thể kết luận, Hòa thượng Trí Thủ có công hoằng truyền tông luật Tứ phần của Pháp tạng bộ thời cận đại, Hòa thượng Đỗng Minh là người đầu tiên truyền dịch luật Ngũ phần của Hóa địa bộ, xem như dấu chân truyền giáo của hai bộ phái này có mặt tại Việt Nam, những người đệ tử cũng như học trò tiếp nối biên tập truyền dạy thì sự kế thừa đó sẽ tiếp diễn đến mai sau. Ví như sự tiếp nối của Hòa thượng Tuệ Sỹ, rồi hậu bối sẽ có người tiếp theo.
__________
Kính mời đọc nguyên bài:

https://thuvienphatviet.com/thich-tam-nhan-nhung-vi-tong-su-luat-hoc-thoi-can-dai/?amp=1

Với lịch sử triết học Phật giáo, nếu Long Thọ đã thành công khi tạo ra một cuộc phục hưng tư tưởng để trở về tinh thần g...
04/11/2026

Với lịch sử triết học Phật giáo, nếu Long Thọ đã thành công khi tạo ra một cuộc phục hưng tư tưởng để trở về tinh thần gốc Duyên khởi, thì Thế Thân đã khai màn kiến tạo cho một cuộc canh tân đối với triết học Phật giáo. Dòng chảy của hệ thống Trung quán và Duy thức mà các thế hệ luận sư về sau đã kế thừa và triển khai thực chất chính là sự mở rộng từ hai tính chất trên. Cả hai chưa từng tách biệt khỏi nền tảng cốt lõi là học thuyết Duyên khởi để phát triển tư tưởng của mình.

Triết học Du-già ra đời trong bối cảnh xã hội Ấn Độ đang trong thời điểm rực rỡ nhất của thời kỳ trung đại dưới vương triều Gupta, được xem là “thời kỳ hoàng kim” trong mọi khía cạnh. Trên phương diện tư tưởng, triết học Duy thức cũng đã trở thành hệ thống nổi bật đại diện cho nền triết học Phật giáo ở giai đoạn này. Trong lịch sử, lập trường Duy thức được khởi xướng bởi Vô Trước qua Nhiếp Đại thừa luận và Du già sư địa luận là hai tác phẩm cương yếu đã đặt nền móng cho sự ra đời của Du-già tông. Tuy nhiên, trong các luận thư của Duy thức học, Tam thập tụng dường như chiếm lĩnh một vị trí trọng yếu. Có lẽ, Thế Thân đã dồn sức để viết tác phẩm này, bởi đây được xem là tác phẩm cuối cùng của ông, khi tư tưởng đã đạt đến độ chín muồi. Việc Thập đại luận sư về sau đã tập trung luận giải Tam thập tụng đủ thấy tầm vóc lịch sử của nó. Trên cơ bản, việc Thế Thân hệ thống Duy thức thực chất cũng nhằm hoàn thiện hóa quy trình nhận thức luận của Phật giáo đặt trên nền tảng thế giới quan Duyên khởi trong một bối cảnh mới.

Nhìn chung, từ thời đại Thế Thân, Duy thức tông chiếm lĩnh vị trí dẫn đạo trong triết học Phật giáo.

(HT Thích Thái Hòa): Giới thiệu A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận_____* Ý nghĩaA-tỳ-đạt-ma Phát trí luận, tên tiếng Phạn là Abhi...
03/26/2026

(HT Thích Thái Hòa): Giới thiệu A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận
_____

* Ý nghĩa

A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận, tên tiếng Phạn là Abhidharma-jñāna-prasthāna sāstra.

A-tỳ-đạt-ma, Hán phiên âm từ Abhidharma của Sanskrit; Abhidhamma của Pāli và dịch là Đối pháp, Đại pháp, Vô tỷ pháp, Hướng, Thắng pháp, Vi diệu pháp…

Đối pháp: Nghĩa là sắc pháp và tâm pháp là đối tượng để trí hướng tới phân tích và liễu ngộ, nên gọi là Đối pháp; Đại pháp là pháp rộng lớn; Vô tỷ pháp là pháp không thể so sánh; Hướng pháp là pháp hướng đến của tuệ; Thắng pháp là pháp thù thắng vi diệu, nên cũng gọi là Vi diệu pháp. Vi diệu pháp là pháp vi diệu, pháp ấy là Tứ Thánh đế.

Pháp Tứ Thánh đế là đối tượng để trí và tuệ xâm nhập, phân tích, nhằm hướng tới Niết-bàn thù thắng.

Nhưng, nghĩa nguyên thủy của A-tỳ-đạt-ma là nghiên cứu phân tích giáo pháp của Phật đã dạy.

Phát trí luận, tiếng Phạn là jñāna-prasthāna śāstra. Jñāna, Hán dịch là trí, prasthāna, Hán dịch là phát; śāstra dịch là Luận.

Vậy, A-tỳ-đạt-ma Phát trí luận là luận Phát trí đối với Thắng pháp hay Vi diệu pháp.

Phát trí luận là luận đầy đủ văn và nghĩa, nên đối với Lục túc luận, Phát trí luận được xem là thân và Lục túc luận được xem là chân của luận Phát trí này.

Phát trí luận là luận bàn và luận chứng về phát khởi trí tuệ. Luận này ở chương một, gọi là “Tạp uẩn”, phẩm hai của chương một, gọi là “Trí nạp tức”; chương ba, gọi là “Trí uẩn”, phẩm bốn của chương ba, gọi là “Tu trí nạp tức”; chương tám, gọi là “Kiến uẩn”, phẩm bốn của chương tám, gọi là “Trí nạp tức”.

Đối với Bát kiền độ luận, chương một, gọi là “Tạp kiền độ” phẩm hai của chương một, gọi là “Trí bạt cừ”; chương ba, gọi là “Trí kiền độ”, phẩm ba của chương ba, gọi là “Tri tha tâm bạt cừ” ; phẩm bốn của chương ba, gọi là “Tu trí bạt cừ”; phẩm năm của chương ba, gọi là “Trí tương ưng bạt cừ”. Chương tám, gọi “Kiến kiền độ”, phẩm bốn của chương tám, gọi là “Trí thời bạt cừ”.

Trí, ở đây, bao gồm cả trí hữu lậu[1] và trí vô lậu[2]. Trí hữu lậu và vô lậu sinh khởi là do khả năng tu tập thiền định nhiếp phục và đoạn trừ các loại kiến chấp, các loại phiền não thuộc Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới mà sinh ra.

Trí ở đây là do chứng kiến đối với đế lý và tu tập Tứ Thánh đế khiến phát khởi.

Nói gọn lại: Trí hữu lậu và vô lậu là do hành giả chứng kiến Tứ Thánh đế và tu tập Tứ Thánh đế hiện quán mà trí hữu lậu và vô lậu phát sinh, khiến thấy rõ tính như thật của hết thảy pháp thuộc về Sắc, Tâm, Tâm sở pháp và các pháp thuộc về Bất tương ưng hành, Hữu vi, Vô vi, Hữu học, Vô học… ở trong mọi không gian thuộc Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới; đối với mọi thời gian thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai và đối với hết thảy chủng loại chúng sinh, bao gồm cả phàm và Thánh.
________

[1] Skt: Sāsrava-jñāna. Hữu lậu trí, còn gọi là Tục trí, Thế trí, Thế gian trí, Thế tục trí. Nghĩa là trí đang ở trong phiền não. Hữu lậu trí là chỉ cho sinh đắc tuệ. Nghĩa là tuệ khi sinh ra đã có. Tuệ này cũng quán chiếu các pháp nhân duyên, sinh diệt vô thường, hữu vi, vô vi… nhưng còn mê lầm, không nhận rõ chân lý, nên chưa đủ năng lực dứt trừ phiền não, các lậu hoặc ở trong sinh tử.

[2] Skt: Anāsrava-jñāna. Ấy là trí tuệ chứng kiến Tứ Thánh đế, xả ly hết thảy phiền não, mọi sự hiểu biết không còn có sự lỗi lầm. Đối với Phật giáo bộ phái, chứng kiến Tứ Thánh đế gọi là Vô lậu trí. Trí chứng được Tứ Thánh đế ở Dục giới, gọi là Pháp trí. Trí chứng được Tứ Thánh đế ở Sắc giới, Vô sắc giới, gọi là Loại trí. Vô lậu trí theo Phật giáo bộ phái, cho rằng đến giai vị kiến đạo, mới bắt đầu phát sinh và tăng trưởng dần. Và đối với Thánh giả vô học, trí này chia hai loại, gồm: Tận trí, Vô sinh trí. Tận trí (Kṣaya-jñāna), ấy là trí do đoạn tận phiền não mà thành tựu. Vô sinh trí (Anutpāda-jñāna) hấy rõ các pháp bất sinh, ấy là trí tuệ tột cùng của bậc Thánh giả vô học, xa lìa hết thảy các pháp sinh diệt. Đối với Tứ Thánh đế đã tri khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Và biết rõ không còn khổ để biết, không còn tập để đoạn, không còn diệt để chứng, không còn đạo để tu. Lại nữa: “Biết đúng như thật rằng, ta đã biết khổ, không còn có khổ nào cần phải biết nữa; ta đã đoạn tập, không còn tập nào phải đoạn nữa; ta đã chứng diệt, không còn diệt nào để chứng nữa; ta đã tu đạo, không còn đạo nào để tu nữa. Từ đó, sinh ra trí, kiến, minh, giác, giải, tuệ, quang, quán, gọi là Vô sinh trí”. (A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 3, tr. 376a, Đại chính 26).

Đại thừa Duy thức giải thích Vô lậu trí có hai loại, gồm: Căn bản trí và Hậu đắc trí. Căn bản trí (Mula-jñāna) gọi là chân trí, Như lý trí, Vô phân biệt trí, Thực trí, Chính thể trí. Trí này là thể tính chân thật của trí, trí ấy là trí vô phân biệt, do chứng chân như tính nơi vạn hữu mà sinh khởi. Nhiếp đại thừa luận thích 8, cho rằng: “Trí này là tuệ chính chứng, vì xa lìa mọi hoạt động tìm hiểu, tư duy, tự thân của trí chiếu soi và thích ứng với chân lý, không cần phải khởi dụng phân biệt, nên gọi là trí tuệ chính chứng. Hậu đắc trí (Pṛṣṭha-labdha-jñāna) là trí từ nơi căn bản trí mà sinh khởi, ấy là trí biết rõ nhân duyên hiện khởi. Trí này cũng gọi là Như lượng trí, Quyền trí, Tục trí. Ấy là trí suy xét, chọn lựa… Trí này tu tập đến hàng Sơ địa Bồ tát mới bắt đầu phát khởi và tăng trưởng dần dần lên. (Thế Thân, Nhiếp đại thừa luận thích 8, Đại chính 31. Thân Quang, Phật địa kinh luận 3, Đại chính 26. Thành duy thức luận 10, Đại chính 31).
____
Ảnh: Thiệu Long Thánh Chủng
Kính mời đọc (link) nguyên văn trong phần bình luận 👇

Address

3119 Alta Arden Expressway
Sacramento, CA
95825

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thư Viện Phật Việt posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Thư Viện Phật Việt:

Share