Gieo Mầm Ơn Gọi

Gieo Mầm Ơn Gọi Để ơn gọi được triển nở và luôn sống lạc quan mỉm cười với gian nan thử thách.
(9)

HỐI TIẾC - DAY DỨT NHƯNG CŨNG LÀ CƠ HỘICó lẽ ai trong chúng ta cũng từng thốt lên: "Giá như..." ít nhất một lần.Giá như ...
08/07/2026

HỐI TIẾC - DAY DỨT NHƯNG CŨNG LÀ CƠ HỘI

Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng thốt lên: "Giá như..." ít nhất một lần.

Giá như đã can đảm hơn.
Giá như đã dành nhiều thời gian hơn cho gia đình.
Giá như đã nói lời xin lỗi, lời yêu thương, hay dám chọn điều mình thực sự khao khát.

Điều quan trọng là ta sẽ làm gì với sự hối tiếc ấy. Khi biết đối diện bằng sự thành thật và lòng trắc ẩn với chính mình, hối tiếc có thể trở thành một "la bàn nội tâm", giúp ta nhận ra điều gì thực sự quan trọng, điều chỉnh những chọn lựa trong hiện tại và trưởng thành từ những sai lầm của quá khứ.

Thánh I-nhã mời gọi chúng ta tưởng tượng mình đang ở cuối cuộc đời, rồi tự hỏi: "Điều gì mình sẽ tiếc nhất nếu hôm nay không làm?" - Có lẽ, câu trả lời cho câu hỏi ấy chính là điều bạn nên bắt đầu ngay từ hôm nay.

📌 Đọc bài viết để khám phá cách biến "giá như..." thành động lực sống với nhiều tự do hơn, can đảm hơn và ít nuối tiếc hơn.
————————

BUÔN CHUYỆN TRONG ĐỜI TUĐi tu là hành trình người tu sĩ bước theo Đức Kitô trong tình yêu, trong sự hiến dâng và trong đ...
08/07/2026

BUÔN CHUYỆN TRONG ĐỜI TU

Đi tu là hành trình người tu sĩ bước theo Đức Kitô trong tình yêu, trong sự hiến dâng và trong đời sống cộng đoàn. Người tu sĩ được mời gọi trở nên những người mang bình an, xây dựng tình hiệp nhất và làm chứng cho Tin Mừng. Thế nhưng, đôi khi điều làm tổn thương cộng đoàn lại không phải là những biến cố lớn lao, mà chỉ bắt đầu từ một câu nói nhỏ, một lời kể lại, một câu chuyện “vô tình” được truyền từ người này sang người khác đã làm tổn thương trái tim người khác.

Buôn chuyện tưởng như chỉ có ở ngoài đời nhưng ngày nay buôn chuyện như là một bệnh dịch trong đời tu, là một thứ độc dược âm thầm trong đời sống cộng đoàn. Có những câu chuyện được bắt đầu bằng một câu nói cò vẻ rất tế nhị: “Em chỉ nói cho chị biết thôi, đừng kể cho ai nhé…” Và rồi điều được gọi là “bí mật” ấy lại tiếp tục đi qua nhiều người. Một lỗi lầm của chị em, một khuyết điểm của người khác, một chuyện riêng tư, một lời nhận xét về bề trên, một quyết định chưa được hiểu rõ cứ thế được thêm bớt qua mỗi lần kể lại, và dược lan truyền một cách nhanh chóng, có khi đương sự chưa biết nhưng người khác lại biết rõ rành mạch.

Điều đáng sợ là lời nói một khi đã thốt ra thì không thể thu lại được, và người ta cứ thế mà truyền đi. Một câu nói thiếu cẩn trọng có thể làm người khác mất danh dự, một lời nhận xét phiến diện có thể khiến người nghe hiểu sai về một người chị em, một câu chuyện được kể lại nhiều lần có thể biến điều nhỏ thành điều lớn, biến một sự việc chưa rõ ràng thành một “sự thật” trong mắt nhiều người. Và đau nhất là người bị tổn thương đôi khi không hề biết mình đang bị tổn thương bởi những lời nói ở phía sau.

Buôn chuyện làm tổn thương tình huynh đệ: bởi vì cộng đoàn đời tu được xây dựng trên nền tảng của tình yêu và sự tín nhiệm. Nhưng khi người ta biết rằng chuyện riêng của mình có thể trở thành đề tài cho những cuộc trò chuyện, người ta sẽ dần mất niềm tin. Từ đó, người ta không còn dám chia sẻ, hông còn dám mở lòng,không còn dám sống thật với nhau. Bên ngoài mọi người vẫn có thể là những lời chào hỏi, những nụ cười, những sinh hoạt chung; nhưng bên trong lại xuất hiện khoảng cách, chị em trở nên e dè, đeo mặt nạ để sống cộng đoàn.

Một cộng đoàn có thể vẫn đông người, nhưng lại thiếu sự hiệp thông: bởi vì buôn chuyện cũng dễ tạo ra phe nhóm vì người này thân với người kia, người này nghe chuyện của người nọ, rồi cùng nhau đánh giá một người vắng mặt. Những câu chuyện như thế có thể tạo nên một thứ “liên minh” rất tinh vi chúng ta gần nhau hơn vì cùng nói xấu, phê bình …về một người khác, nhưng đó không phải là tình huynh đệ đích thực.

Có lẽ chúng ta thường nghĩ rằng người bị buôn chuyện mới là người chịu hậu quả, nhưng thực ra, người buôn cũng đang tự làm tổn thương tâm hồn mình, tự hạ thấp giá trị bản thân. Mỗi lần nói về khuyết điểm của người khác, ta có thể đang nuôi dưỡng trong mình sự xét đoán. Mỗi lần kể lại một lỗi lầm của chị em, ta có thể đang làm cho lòng mình trở nên khắt khe hơn. Mỗi lần bàn luận về một người vắng mặt, ta có nguy cơ đánh mất sự tế nhị, lòng thương cảm và cả sự tôn trọng đối với người ấy. Có khi chúng ta nghĩ là mình tốt nên nói: “Tôi nói vì thương chị ấy”, “Tôi chỉ muốn mọi người biết để cầu nguyện”, “Tôi không có ý nói xấu…” Nhưng thử hỏi lòng mình: Nếu người chị em ấy đang ngồi trước mặt tôi, tôi có dám nói những điều đó với họ không? Nếu câu trả lời là không, có lẽ chúng ta cần dừng lại việc buôn chuyện của người khác.

Buôn chuyện làm tổn thương chính đời sống thánh hiến bởi vì người tu sĩ được mời gọi dùng lời nói để loan báo Tin Mừng, để nâng đỡ, chữa lành và đem lại hy vọng. Vì thế, mỗi lời người tu sĩ nói ra đều có một trách nhiệm thiêng liêng. Người tu sĩ có thể đọc rất nhiều kinh, tham dự Thánh lễ mỗi ngày, dành nhiều giờ cầu nguyện; nhưng nếu lời nói của chúng ta liên tục làm người khác tổn thương, gây chia rẽ và mất bình an, thì chúng ta cần trở về với chính mình và hỏi: Tôi đang thực sự sống điều mình cầu nguyện hay chưa? Đời tu không chỉ được đo bằng những giờ kinh, những công việc phục vụ hay những hoạt động tông đồ. Đời tu còn được thể hiện qua cách chúng ta nói về một người khi người ấy không có mặt., đó là một trong những thước đo rất thật của tình yêu.

Có những điều chúng ta không cần phải nói ra, không phải mọi điều mình biết đều cần phải kể, không phải mọi điều mình nghe đều cần phải truyền đi, không phải mọi điều mình nghĩ đều cần phải nói ra, và không phải mọi lỗi lầm của người khác đều là chuyện để chúng ta bàn luận. Đôi khi im lặng không phải là yếu đuối, nhưng là bác ái: Im lặng để bảo vệ danh dự cho người khác, im lặng để không làm lớn thêm một chuyện nhỏ, im lặng để tránh một sự hiểu lầm, im lặng để giữ bình an cho cộng đoàn.Và đôi khi, im lặng chính là một cách rất đẹp để sống đức ái.

Nếu thật sự trong cộng đoàn có một vấn đề cần được giải quyết với ai đó, chúng ta hãy chọn con đường đúng đắn: nói trực tiếp với người liên quan, nói trong sự thật, trong bác ái và với ý hướng xây dựng. Đừng biến cộng đoàn thành nơi người ta truyền tai nhau những câu chuyện về một người, trong khi chính người ấy lại là người cuối cùng được biết. Xin cho nhũng người tu sĩ chúng ta biết nói những lời đem lại sự sống.

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết im lặng khi im lặng là yêu thương. Xin dạy chúng con biết nói khi lời nói có thể chữa lành. Xin cho chúng con đủ khiêm tốn để góp ý trực tiếp, đủ can đảm để sửa lỗi trong tình bác ái, và đủ trưởng thành để không biến khuyết điểm của chị em thành câu chuyện của mình. Xin cho chúng con biết nói với nhau thay vì nói về nhau; cầu nguyện cho nhau thay vì phán xét nhau; nâng nhau lên thay vì kéo nhau xuống. Và nếu một ngày nào đó chúng con muốn kể một câu chuyện về một người vắng mặt, xin Chúa nhắc chúng con nhớ: Người ấy cũng là người Chúa yêu, người ấy cũng có một phẩm giá cần được gìn giữ. Và biết đâu, ngày mai, chính chúng con cũng cần người khác giữ gìn cho mình. Xin cho cộng đoàn chúng con không phải là nơi mọi người biết hết chuyện của nhau, nhưng là nơi mỗi người cảm thấy an toàn để được là chính mình, được sửa sai, được tha thứ và được yêu thương. Amen.

Sr Mây Trắng, SPP

Có hai cái chết trong đời người. Một là cái chết thể lý, khi ta trút hơi thở cuối cùng. Hai là cái chết trong ký ức, khi...
08/02/2026

Có hai cái chết trong đời người. Một là cái chết thể lý, khi ta trút hơi thở cuối cùng. Hai là cái chết trong ký ức, khi trên trần gian không còn một ai nhớ đến tên mình nữa. Thử hỏi, ba trăm hay năm trăm năm nữa, liệu còn ai nhắc đến chúng ta? Phải chăng rồi ai cũng sẽ trôi vào dĩ vãng, trở thành một hữu thể bị lãng quên?

Nếu muốn lưu danh hậu thế, con người thường đi theo hai con đường. Một là trở thành kẻ khét tiếng vì tội ác, như Adolf Hi**er, Pol Pot hay Josef Stalin. Hai là sống một cuộc đời yêu thương và hiến dâng, để tên tuổi còn được nhắc mãi như Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta, Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận hay Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp. Còn tôi, tôi muốn được nhớ đến bằng cách nào?

Thế nhưng, trước mặt Thiên Chúa, việc được người đời ca tụng hay lãng quên rốt cuộc cũng không phải điều quan trọng nhất. Thánh Vịnh 49 nhắc nhở: "Lúc sinh thời, nó tự hào tự đắc: Mình làm nên, thiên hạ tán dương mình... Họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ, nhưng ba tấc đất mới thật là nhà." Danh vọng rồi cũng qua đi, ký ức con người rồi cũng phai nhạt. Chỉ có một điều còn mãi: "Thiên Chúa sẽ chuộc mạng tôi, Người sẽ kéo tôi ra khỏi quyền lực tử thần."

Sau tất cả, khi mọi tiếng khen chê đều lặng im, mỗi người chỉ còn một mình trước mặt Chúa và có thể thưa lên rằng:"Chỉ có Chúa mới là Đấng cứu chuộc con."

Hôm nay là ngày vui của anh em tân khấn sinh. Thế nhưng, niềm vui ấy cũng gợi nhớ đến một người anh em trong lớp đã được Chúa gọi về. Hình ảnh ấy nhắc tôi rằng đời người không chỉ mong manh, nhưng còn vô cùng quý giá. Một cuộc đời ý nghĩa không hệ tại ở việc tên tuổi được lưu truyền bao lâu, mà ở chỗ người ấy đã để lại bao nhiêu tình yêu trong lòng người khác. Bởi lẽ, chỉ có tình yêu mới khiến con người còn được nhớ mãi và chỉ có tình yêu mới tồn tại đến muôn đời.

Bạn Đường Đức Giêsu

08/01/2026

Buổi hoà âm sôi động của các sơ Dòng Nô Tỳ Thánh Tâm❤️

Bị bắn 4 phát đạn tại Somalia, sơ không hề nguyền rủa những kẻ sát hại mình. Thay vào đó, trong hơi thở cuối cùng, sơ th...
07/31/2026

Bị bắn 4 phát đạn tại Somalia, sơ không hề nguyền rủa những kẻ sát hại mình. Thay vào đó, trong hơi thở cuối cùng, sơ thì thầm: "Tôi tha thứ… tôi tha thứ… tôi tha thứ."

Hãy cùng tìm hiểu về Chân phước Leonella Sgorbati — vị nữ tu đã biến hận thù thành lòng thương xót. Sơ Leonella là một nữ tu Dòng Nữ Truyền Giáo Consolata người Ý. Sơ đã dành hàng chục năm làm y tá và nữ hộ sinh tại Châu Phi, cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho các người mẹ, trẻ sơ sinh và những phận người bị bỏ rơi. Sơ đã đào tạo nhiều thế hệ y tá tại Kenya và dũng cảm mở lại một bệnh viện giữa lòng Mogadishu (Somalia) đầy hỗn loạn vào năm 2006 — mang ánh sáng hy vọng đến những nơi ngập tràn bóng tối. Ngày 17 tháng 9 năm 2006, những kẻ cực đoan đã xả súng vào sơ ngay bên ngoài cổng bệnh viện. Trúng 4 viên đạn, sơ lảo đảo bước trở lại bên trong. Nhưng thay vì giận dữ hay sợ hãi, sơ đã thì thầm ba từ ngắn gọn mà đầy sức mạnh: "Tôi tha thứ… tôi tha thứ… tôi tha thứ." Đó cũng chính là những lời cuối cùng của sơ trên mặt đất này. Đức Thánh Cha Phanxicô đã công nhận sơ là một chứng nhân tử đạo vì đức tin, và sơ được phong Chân phước vào năm 2018.

Tấm gương của sơ là minh chứng sống động rằng: Lòng thương xót không phải là sự yếu đuối — đó là sức mạnh dũng mãnh nhất để đánh bại hận thù. Lạy Chân phước Leonella, xin dạy chúng con biết tha thứ như sơ đã từng, ngay cả khi điều đó khiến chúng con đớn đau nhất. Xin cầu nguyện cho hòa bình tại những vùng đất đang chìm trong xung đột, và cho những trái tim biết lựa chọn tình yêu thay vì sự hận thù.

(Joseph Pham Nguyen)

"Ơn gọi đi tu không phải là việc chạy trốn khỏi thế giới mà là việc chạy vào lòng Chúa  " Con chả biết bản thân mình có ...
07/29/2026

"Ơn gọi đi tu không phải là việc chạy trốn khỏi thế giới mà là việc chạy vào lòng Chúa "
Con chả biết bản thân mình có xứng đáng hay không con chỉ biết tấm thân con hèn mọn chẳng đáng chi dâng ngài nhưng con luôn khẩn cầu Chúa ban ơn cho con vững bước, sự trung thành và hăng say để ở bên Ngài và dấn thân theo Ngài từng ngày trong đời con và dâng trọn đời con cho Ngài.
Xin Chúa ban cho con ơn khôn ngoan để lí trí con luôn sẵn sàng trong mọi hoàn cảnh xin Ngài ban ơn sức mạnh để con thắng được ngàn gian nan xin ban cho con ơn hiểu biết và soi sáng để con luôn nhận biết thánh ý Ngài truyền ban cho con . Và con xin Ngài
"nếu con sai xin hãy sửa đổi con

Nếu con lạc lối , xin hướng dẫn con

Nếu con bắt đầu bỏ cuộc xin giúp con tiếp tục "

Amen. Con xin Tạ ơn Chúa 🤍

ANNA Khánh ly
MTGHH

— BA ƠN GỌI – BA LINH ĐẠO, — BA CAM KẾT, 👉MỘT CON ĐƯỜNG NÊN THÁNHTrong Hội Thánh, Thiên Chúa không gọi mọi người đi cùng...
07/29/2026

— BA ƠN GỌI
– BA LINH ĐẠO,
— BA CAM KẾT,
👉MỘT CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH

Trong Hội Thánh, Thiên Chúa không gọi mọi người đi cùng một con đường.

— Có người được mời gọi sống ơn gọi hôn nhân qua Bí tích Hôn phối;
— Có người được mời gọi sống đời thánh hiến trong các hội dòng hay tu hội;
— Có người được Thiên Chúa tuyển chọn lãnh nhận Bí tích Truyền Chức để phục vụ Dân Chúa.

Mỗi ơn gọi đều là một hồng ân, có một linh đạo riêng, một sứ mạng riêng và một cách đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa.

Điểm khác nhau không nằm ở tình yêu Thiên Chúa dành cho mỗi người, nhưng ở cách mỗi người tự do đáp lại tình yêu ấy.

1. Tu sĩ – Linh đạo sống thánh hiến.
👉Điểm chính yếu của đời sống tu sĩ là ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN.

Qua việc tuyên khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, người tu sĩ tự nguyện hiến trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa theo đoàn sủng của hội dòng.

Điều được trao phó cho người tu sĩ trước hết là đoàn sủng của hội dòng. Vì thế, trách nhiệm đầu tiên của họ là gìn giữ, sống và làm triển nở đoàn sủng ấy trong lòng Hội Thánh.

Đức vâng phục của người tu sĩ được sống qua sự hiệp thông với Bề trên hợp pháp, trong việc trung thành với Hiến pháp và Nội quy của hội dòng.

Đó không chỉ là việc thi hành một mệnh lệnh, nhưng là cùng nhau phân định và thực thi thánh ý Thiên Chúa theo linh đạo của hội dòng.

Đời sống tu sĩ cũng là một dấu chỉ cánh chung, nhắc cho thế giới nhớ rằng của cải, quyền lực và danh vọng không phải là cùng đích của con người; chỉ một mình Thiên Chúa mới là gia nghiệp và hạnh phúc viên mãn.

Ví dụ:
— Một tu sĩ Dòng Phanxicô được mời gọi sống tinh thần khó nghèo theo gương Thánh Phanxicô Assisi.
— Một tu sĩ Dòng Đa Minh dành đời mình cho việc cầu nguyện và rao giảng chân lý.
— Một tu sĩ Dòng Don Bosco sống giữa giới trẻ.

👉 Mỗi hội dòng có một đoàn sủng khác nhau, nhưng tất cả đều được mời gọi trung thành với lời khấn và đoàn sủng mình đã lãnh nhận.
---

2. Giáo sĩ – Linh đạo của người mục tử
👉Điểm chính yếu của đời sống giáo sĩ là SỨ VỤ MỤC TỬ.

Qua Bí tích Truyền Chức, người giáo sĩ được sai đi để rao giảng Tin Mừng, cử hành các bí tích và chăm sóc Dân Chúa.

Điều được trao phó cho người giáo sĩ trước hết là sứ vụ chăm sóc đoàn chiên. Vì thế, trách nhiệm đầu tiên của người mục tử không phải là quản trị cơ sở vật chất hay điều hành hành chính, nhưng là dẫn đưa con người đến với Đức Kitô bằng Lời Chúa, các bí tích và đời sống chứng tá.

Giáo sĩ không tuyên lời khấn như tu sĩ, nhưng long trọng tuyên lời hứa trong ngày chịu chức. Lời hứa ấy không chỉ được nói lên trong nghi thức truyền chức, nhưng còn được diễn tả bằng cả cuộc đời phục vụ, qua lòng trung thành với sứ vụ mà Hội Thánh trao phó.

Đức vâng phục của người giáo sĩ được sống qua sự hiệp thông với Giám mục, Đấng kế vị các Tông đồ trong Giáo hội địa phương, để cùng thi hành sứ vụ mà Hội Thánh trao phó.

Một linh mục có thể xây dựng nhiều nhà thờ, trường học hay các công trình bác ái. Đó là những việc rất đáng quý. Nhưng nếu đồng thời biết đưa con người đến gần Thiên Chúa hơn qua Lời Chúa, các bí tích và đời sống chứng tá, thì người ấy đang thực hiện trọn vẹn sứ vụ mục tử của mình.
---

3. Đời sống hôn nhân – Linh đạo của giao ước
👉Điểm chính yếu của đời sống hôn nhân là GIAO ƯỚC TÌNH YÊU.

Trong Bí tích Hôn phối, người chồng và người vợ tự do trao hiến bản thân cho nhau trước mặt Thiên Chúa để cùng xây dựng một gia đình Kitô giáo.

Điều được trao phó cho họ trước hết là gia đình. Gia đình không chỉ là nơi chung sống, nhưng còn là "Hội Thánh tại gia", nơi đức tin được nuôi dưỡng, tình yêu được trưởng thành và các thế hệ được giáo dục trong Tin Mừng.

Gia đình không chỉ sinh ra sự sống thể lý, mà còn khai sinh đời sống đức tin. Chính nơi mái ấm gia đình, con người học những bài học đầu tiên về cầu nguyện, tha thứ, hy sinh, lòng biết ơn và yêu thương.

Đức vâng phục trong hôn nhân không phải là sự phục tùng một chiều, nhưng là sự tôn trọng, lắng nghe, hy sinh và phục vụ lẫn nhau trong tình yêu, theo gương Đức Kitô. Chính trong sự trao hiến hỗ tương ấy, giao ước hôn nhân được gìn giữ và lớn lên mỗi ngày.

Một gia đình có thể không giàu có, nhưng nếu vợ chồng biết hoán cải, biết tha thứ cho nhau, cùng cầu nguyện, cùng giáo dục con cái trong đức tin và cùng vượt qua những thử thách của cuộc sống, thì gia đình ấy đang trở thành dấu chỉ sống động của tình yêu Thiên Chúa.
---

BA BẬC SỐNG – BA CON ĐƯỜNG CỦA CÙNG MỘT TÌNH YÊU

Ba bậc sống này không đối lập hay cạnh tranh với nhau, nhưng bổ túc cho nhau trong đời sống và sứ mạng của Hội Thánh.
— Tu sĩ nổi bật bởi sự thánh hiến.
— Giáo sĩ nổi bật bởi sứ vụ mục tử.
— Hôn nhân nổi bật bởi tình yêu giao ước.

👉 Mỗi bậc sống đều có một trọng tâm riêng.
— Người tu sĩ lấy đời sống thánh hiến và đoàn sủng làm con đường nên thánh.
— Người giáo sĩ lấy sứ vụ mục tử và việc phục vụ Dân Chúa làm con đường nên thánh.
— Người sống hôn nhân lấy tình yêu giao ước và đời sống gia đình làm con đường nên thánh.

Ba con đường khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở một điểm:
👉hiến mình vì tình yêu, sống đức vâng phục theo bậc sống của mình và trung thành với điều mình đã tự do cam kết trước mặt Thiên Chúa.
---

LÒNG TRUNG THÀNH – THƯỚC ĐO CỦA MỌI ƠN GỌI

— Tu sĩ được mời gọi trung thành với lời khấn.
— Giáo sĩ được mời gọi trung thành với lời hứa ngày chịu chức.
— Người chồng và người vợ được mời gọi trung thành với giao ước hôn nhân.

👉 Ba hình thức cam kết khác nhau, nhưng đều quy về một nhân đức nền tảng là lòng TRUNG THÀNH.

Đến ngày gặp Chúa, điều Người quan tâm không phải trước hết là người tu sĩ thuộc hội dòng nào, người giáo sĩ đã giữ chức vụ gì hay gia đình ấy giàu có đến đâu.

Điều Người sẽ hỏi là:
"Con có trung thành với điều con đã tự do cam kết trước mặt Ta không?"
— Người tu sĩ có trung thành với lời khấn không?
— Người giáo sĩ có trung thành với lời hứa ngày chịu chức không?
— Người chồng và người vợ có trung thành với giao ước hôn nhân không?

👉Đó là câu hỏi sẽ theo mỗi người cho đến ngày gặp Chúa.

Bởi vì, trong mọi bậc sống, trung thành chính là hình thức đẹp nhất của tình yêu, và cũng là con đường chắc chắn nhất dẫn đến sự thánh thiện.

Mọi ơn gọi đều bắt đầu bằng một tiếng "Xin vâng", nhưng chỉ được hoàn tất bằng một đời trung thành.

👉Chính lòng trung thành làm cho lời khấn, lời hứa và giao ước hôn nhân không chỉ là những lời đã được tuyên xưng trong một ngày trọng đại, nhưng trở thành một lối sống được gìn giữ và sống trọn mỗi ngày.

👉Đó là con đường nên thánh của người tu sĩ, của người giáo sĩ và của người sống đời hôn nhân; đồng thời cũng là cách mỗi người góp phần xây dựng Hội Thánh và làm cho tình yêu Thiên Chúa tiếp tục hiện diện giữa thế giới hôm nay.

Chút suy tư trong những ngày thường huấn linh mục
Ouagadougou, Burkina Faso, ngày 27.07.2026
Nguồn: Dominico Dang P**c

“DÒNG TRINH NỮ”: KHOẢNG 250 PHỤ NỮ TÂY BAN NHA SỐNG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN NHƯNG KHÔNG MẶC ÁO DÒNG HAY SỐNG TRONG TU VIỆNY ...
07/29/2026

“DÒNG TRINH NỮ”: KHOẢNG 250 PHỤ NỮ TÂY BAN NHA SỐNG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN NHƯNG KHÔNG MẶC ÁO DÒNG HAY SỐNG TRONG TU VIỆN

Y tá, giáo viên, nhà báo, thương gia, nhân viên ngân hàng, không ai mặc áo Dòng hay sống trong tu viện, nhưng họ mang chiếc nhẫn tượng trưng cho hôn ước của họ với Chúa Kitô. Tuần này, 80 phụ nữ gặp nhau để chia sẻ ơn gọi thánh hiến lâu đời nhất và ít được biết đến nhất, tất cả đều mang chiếc nhẫn tượng trưng cho hôn nhân của họ với Chúa Kitô. Ở Tây Ban Nha, có khoảng 250 Trinh nữ Thánh hiến, một ơn gọi được Giáo Hội công nhận lâu đời nhất trong đời sống thánh hiến dành cho phụ nữ, tuy vậy đây là một trong những ơn gọi ít được biết đến nhất.
Thứ hai tuần này đánh dấu sự khởi đầu của Hội nghị Quốc gia lần thứ 34 của các Trinh nữ Thánh hiến tại Tây Ban Nha, quy tụ gần 80 phụ nữ từ khắp đất nước với chủ đề: “Được sai đi để hiện diện, để xây dựng cầu liên lạc trong thế giới.”
Để nâng cao nhận thức về thực tế này, bà Almudena López, lãnh đạo quốc gia của Dòng Trinh nữ (Ordo Virginum) đã tham dự chương trình Iglesia Noticia với nhà báo Álvaro Sáez.

Một hôn nhân thiêng liêng được sống giữa lòng thế giới
Bà Almudena định nghĩa trinh nữ thánh hiến là “phụ nữ hứa hôn với Chúa Kitô để sống trọn vẹn mối quan hệ hôn nhân với Ngài”. Theo bà, việc hứa hôn này thể hiện qua việc họ là “các phụ nữ rất nữ tính, giống Đức Mẹ Maria, và rất mẫu mực”.
Bà giải thích: “Sự khác biệt với các hình thức đời sống thánh hiến khác, trên hết, là ở địa điểm. Không giống như các nữ tu chiêm niệm, các Trinh nữ Thánh hiến sống trong thế giới và loan truyền Tin Mừng cho thế giới.”

Nhiệm vụ chính của họ là trong lãnh vực chuyên môn
Y tế và giáo dục là các lãnh vực phổ biến nhất, nhưng không phải là duy nhất. Bà López cho biết hồ sơ của họ rất đa dạng: “Chúng tôi có người làm việc trong ngân hàng, các nhà báo, nữ doanh nhân, và cả chính trị gia ở thị trấn nhỏ.”
Không có cộng đồng và không có hai trường hợp nào giống nhau, chìa khóa bản sắc của họ là đặc sủng. Bà López giải thích: “Đặc sủng của chúng tôi là kết hợp hôn nhân với Chúa Kitô. Trái ngược với các Dòng tu khác có sứ mệnh cụ thể. Chúng tôi không có đời sống cộng đồng, đó là điểm khác biệt của chúng tôi với các hình thức đời sống tu sĩ khác. Đặc điểm này, thay vì bị cho là thiếu sót, nhưng lại là thế mạnh của chúng tôi. Mỗi nữ tu tận hiến điều chỉnh công việc mục vụ của mình phù hợp với khả năng và môi trường sống, vì vậy, chúng ta sẽ không thấy hai trinh nữ tận hiến nào giống nhau, điều đó là không thể. Đó là ân sủng, và chúng tôi có thể bước vào bất kỳ thực tại nào vì chúng tôi phù hợp với tất cả.”
Ơn gọi này cũng không phải là mới. Bà López khẳng định: “Chúng tôi là nguồn gốc của đời sống thánh hiến dành cho nữ giới, đã có từ thời Giáo hội sơ khai. Sách Công vụ Tông đồ đã nhắc đến ‘dòng trưởng lão, dòng phó tế, dòng trinh nữ và dòng góa phụ, gồm các nhân vật như Maria Magdalena, Anna và Susanna.”

Chiếc nhẫn là dấu hiệu bên ngoài duy nhất có thể thấy
Bà López giải thích: “Về bề ngoài, không có gì phân biệt họ trong cuộc sống hàng ngày. Họ không mặc tu phục vì họ hòa nhập vào lực lượng lao động như bất kỳ giáo dân nào khác. Dấu hiệu duy nhất có thể nhìn thấy là chiếc nhẫn, biểu tượng hôn nhân với Chúa Kitô, dù có thể bị nhầm lẫn với nhẫn của bất kỳ phụ nữ đã kết hôn nào. Con đường dẫn đến lối sống này thường bắt đầu bằng ‘ơn gọi nội tâm muốn kết hợp với Chúa Kitô.’ Đây là một thực tế ít được biết đến, thường được phát hiện khi ai đó tình cờ nghe thấy, và sau khi biết được điều này, họ sẽ tìm hiểu xem ân sủng này có phù hợp với mình hay không.”
Buổi gặp ngày thứ hai tuần này đáp ứng chính xác nhu cầu này. Với 80 người tham dự, đến từ các nơi xa xôi như quần đảo Canary, Valencia, Santiago de Compostela, Santander, Seville và Granada, đây là dịp để họ gặp nhau, chia sẻ ơn gọi của mình. Bà López nhấn mạnh: mục tiêu là chia sẻ kinh nghiệm và được đào tạo, củng cố mối dây liên kết chung của “tình yêu dành cho Chúa” trong không gian hiệp thông và cầu nguyện.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
Nguồn: phanxico.vn

Sœur Agnès-Marie Valois là một nữ tu người Pháp, 47 tuổi, sống trong một tu viện ở Lyon trong thời kỳ Đức Quốc xã chiếm ...
07/28/2026

Sœur Agnès-Marie Valois là một nữ tu người Pháp, 47 tuổi, sống trong một tu viện ở Lyon trong thời kỳ Đức Quốc xã chiếm đóng. Bà không nổi tiếng, cũng không được đào tạo cho những hành động anh hùng. Bà chỉ đơn giản điều hành một trường nội trú Công giáo, dạy trẻ em và sống một cuộc đời cầu nguyện.

Năm 1942, tình hình trở nên bi thảm. Đức Quốc xã truy lùng người Do Thái khắp nước Pháp, bắt giữ và trục xuất họ đến các trại như Auschwitz. Tại Lyon, các cuộc bố ráp ngày càng gia tăng, chia cắt gia đình và trẻ em.

Một ngày nọ, một người mẹ Do Thái tuyệt vọng gõ cửa tu viện cùng con gái mình. Bà van xin được giấu đứa trẻ, ít nhất là cho đến khi chiến tranh kết thúc. Sœur Agnès-Marie đã đồng ý.

Rất nhanh, một đứa trẻ trở thành hai, rồi năm, rồi mười. Chỉ trong vài tháng, bà đã che giấu tám mươi ba đứa trẻ Do Thái trong cơ sở của mình. Tám mươi ba sinh mạng được ẩn giấu ngay dưới sự giám sát của quân chiếm đóng.

Nhận thức rõ nguy hiểm, bà tổ chức việc bảo vệ một cách nghiêm ngặt. Bà tạo cho mỗi đứa trẻ một danh tính mới: tên, giấy tờ, câu chuyện. Bà dạy chúng những lời cầu nguyện Công giáo, các bài thánh ca và nghi lễ, để chúng có thể đóng vai trẻ em Kitô giáo nếu bị kiểm tra. Các em được chia thành những nhóm nhỏ, ẩn náu ở nhiều nơi khác nhau: gác mái, hầm, nhà nguyện. Nếu một nhóm bị phát hiện, những nhóm khác vẫn còn cơ hội được cứu.

Dù thiếu thốn, bà vẫn xoay xở để nuôi tất cả. Nhưng bà không chỉ bảo vệ thân thể của các em: bà còn cố gắng giữ gìn tuổi thơ của chúng, trong chừng mực có thể, giữa bầu không khí sợ hãi thường trực.

Nhiều lần, quân Đức tiến rất gần. Có những cuộc kiểm tra diễn ra. Một sĩ quan đặc biệt nghi ngờ đã thẩm vấn các em. Sœur Agnès-Marie vẫn bình tĩnh và khẳng định đó là những trẻ mồ côi Công giáo. Các em đọc kinh không sai một lời. Giấy tờ giả đứng vững. Viên sĩ quan rời đi mà không phát hiện điều gì.

Trong suốt ba năm, bà đã bảo vệ được các em.

Năm 1945, chiến tranh kết thúc. Nước Pháp được giải phóng. Các em được trả về cho gia đình khi có thể. Nhiều cha mẹ của các em đã bị sát hại, nhưng các em vẫn sống sót nhờ một quyết định duy nhất: nói “có”.

Tám mươi ba đứa trẻ ấy lớn lên, lập gia đình và sinh ra những thế hệ tiếp nối.

Sau chiến tranh, Sœur Agnès-Marie đơn giản quay lại cuộc sống kín đáo của mình. Bà không tìm kiếm sự công nhận hay vinh quang. Trong nhiều thập kỷ, câu chuyện của bà không được biết đến. Mãi đến những năm 1980, một người sống sót mới kể lại những gì bà đã làm.

Khi đó, bà được trao danh hiệu “Người Công Chính giữa các Dân Tộc” (Juste parmi les Nations), một danh hiệu do Yad Vashem trao cho những người không phải Do Thái đã cứu người trong thời kỳ Shoah. Đúng với con người mình, bà vẫn khiêm tốn: “Tôi chỉ làm điều đúng đắn.”

Bà qua đời năm 1990, ở tuổi 95.

Hành động của bà không phải là của một tổ chức lớn hay một mạng lưới có tổ chức. Bà không có vũ khí, cũng không có phương tiện đáng kể. Bà chỉ có một ngôi trường, một chút lương thực, và một lòng can đảm to lớn. Trong khi những cường quốc lớn đôi khi chậm trễ hành động, bà đã chọn hành động ngay lập tức, trong khả năng của mình.

Tất cả các em đều sống sót. Không một ai bị trục xuất.

Ngày nay, tại Jerusalem, một cái cây mang tên bà trong con đường dành cho những Người Công Chính. Cái cây ấy tượng trưng cho nhiều hơn tám mươi ba sinh mạng được cứu: nó đại diện cho những thế hệ mà lẽ ra đã không bao giờ tồn tại nếu bà từ chối.

Bà không thay đổi cả thế giới.

Nhưng với những đứa trẻ ấy, bà đã thay đổi tất cả.

Bất chấp cảnh báo của Giáo hội, nhóm FSSR vẫn truyền chức giám mục trái phépPapa Stronsay, Scotland, ngày 25/7/2026 (ACI...
07/28/2026

Bất chấp cảnh báo của Giáo hội, nhóm FSSR vẫn truyền chức giám mục trái phép

Papa Stronsay, Scotland, ngày 25/7/2026 (ACI Africa) – Một nhóm tu sĩ theo lập trường trống tòa (sedevacantist) tại Scotland đã cử hành nghi thức truyền chức cho một "giám mục" vào ngày 25/7, bất chấp nhiều lần được cảnh báo rằng hành động này cấu thành một hành vi ly giáo và là sự đoạn tuyệt với Giáo hội Công giáo.

Nhóm Transalpine Redemptorists, còn được gọi là Sons of the Most Holy Redeemer (FSSR – Con Đức Chúa Cứu Thế Chí Thánh), đã phát trực tiếp nghi thức này từ tu viện Golgotha trên đảo Papa Stronsay, thuộc quần đảo Orkney của Scotland.

Trong thư mục vụ ngày 18/7, Đức Giám mục Hugh Gilbert của Giáo phận Aberdeen cảnh báo rằng việc truyền chức này là một "hành vi ly giáo", khiến những người tham gia "tự đặt mình ra ngoài sự hiệp thông với Giáo hội Công giáo."

Nghi thức được cử hành bởi ba người tự xưng là giám mục: Rodrigo Ribeiro da Silva, Fernando Altamira và Pierre Roy. Đức cha Gilbert gọi họ là "những giám mục không được Giáo hội nhìn nhận đến từ châu Mỹ."

Người được truyền chức là cha Michael Mary, một linh mục thuộc cộng đoàn này và là bề trên tu viện.

Đầu năm 2026, nhóm Transalpine Redemptorists đã công khai phủ nhận tính hợp pháp của các giáo hoàng hiện đại. Trong một tuyên bố được công bố vào tháng 5, nhóm theo lập trường trống tòa này cho biết họ "không công nhận về mặt pháp lý" Đức Giáo hoàng Lêô XIV, cũng như các vị giáo hoàng mà họ cho rằng đã "rời bỏ đức tin" kể từ sau Công đồng Vaticanô II.

Theo các nguồn tin, ba người thực hiện nghi thức truyền chức cũng đều theo lập trường trống tòa.

Trước đó, vào tháng 6, Đức cha Hugh Gilbert đã cảnh báo rằng nghi thức này sẽ được cử hành không có ủy nhiệm của Đức Giáo hoàng, vì thế bất hợp pháp và là một hành vi bất tuân nghiêm trọng.

Ngay cả trước những tranh cãi trong năm 2026, nhóm Transalpine Redemptorists cũng từng vướng vào nhiều vấn đề liên quan đến việc vi phạm kỷ luật Giáo hội.

Tháng 8/2025, Tòa Thánh đã chấp thuận cho Giáo phận Christchurch (New Zealand) cấm cộng đoàn này thi hành các tác vụ công khai trong giáo phận, sau những cáo buộc về việc thực hiện các nghi thức trừ quỷ mà không được phép.

Trước đó, vào tháng 7/2024, Đức Giám mục Michael Gielen của Christchurch cho biết cộng đoàn này đã phải trải qua một cuộc kinh lý tông tòa do Đức Giám mục Robert McGuckin (Úc) thực hiện.

Theo khuyến nghị của Tòa Thánh, Đức cha Gielen đã rút các năng quyền mục vụ của các thành viên trong cộng đoàn, đồng thời yêu cầu họ rời khỏi Giáo phận Christchurch.

Lưu ý: Nhóm Transalpine Redemptorists (Filii Sanctissimi Redemptoris - FSsR) là một nhóm tách khỏi Dòng Chúa Cứu Thế (CSsR) từ năm 1988 theo khuynh hướng truyền thống, tuân giữ luật dòng của Thánh Anphongsô Ligôri. Cộng đoàn được thành lập với sự nâng đỡ của Tổng Giám mục Marcel Lefebvre và Hồng y Edouard Gagnon. Cộng đoàn đầu tiên chính thức hình thành vào ngày 2/8/1988, với mục đích cử hành Thánh lễ theo nghi thức truyền thống (Thánh lễ Latinh cũ) và gìn giữ linh đạo của Dòng Chúa Cứu Thế và hiện không còn hiệp thông với Giáo hội Công giáo.
Nguồn: Tin Mừng Cho Người Nghèo.

Address

New York, NY

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Gieo Mầm Ơn Gọi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share