Hành Giả Thích Minh Tuệ

Hành Giả Thích Minh Tuệ Hạnh đầu đà là một trong những phương pháp tu khổ hạnh để rèn luyện thân tâm, trừ bỏ phiền não

1. Người đời thấy đẹp biết khen,Thế là cái xấu đã chen vào rồi.Điều hay đã rõ khúc nhôi,Thời đà dang dở lôi thôi sinh dầ...
06/11/2026

1. Người đời thấy đẹp biết khen,
Thế là cái xấu đã chen vào rồi.
Điều hay đã rõ khúc nhôi,
Thời đà dang dở lôi thôi sinh dần.
Mới hay: Không có chuyển vần,
Dễ sinh ra khó, vắn nhân thành dài.
Thấp cao tùy ngó ngược xuôi,
Tiếng ca, trầm bổng, dòng đời trước sau.
2. Thánh nhân khinh khoát tầng cao,
Vô vi, thầm lặng, tiêu hao dạy đời.
3. Kìa xem muôn vật thảnh thơi,
Im lìm sinh hoạt, một lời cũng không.
Ngày đêm làm chẳng kể công,
Công thành phơi phới, tuyệt không bận lòng.
4. Không nấn ná lúc thành công,
Cho nên tồn tại mãi cùng thiên thu.
BÌNH GIẢNG
1. Sau khi đã cho ta thấy Đạo thể siêu việt tuyệt đối ở nơi chương I, Lão tử liền cho ta thấy nơi đây một cái nhìn bao quát về thế giới tương đối biến thiên, đầy mâu thuẫn, và cho rằng những mâu thuẫn ấy đều là tương đối, giả tạo đối với một nhà đạo học.
Theo Lão tử trong cái hay có cái dở, trong cái dở lại có cái hay. (ĐĐK, chương 58). Vả lại, «Thiện ác cũng chẳng khác nhau là bao nhiêu.» (ĐĐK, ch. 20)
Tại sao vậy? Bởi vì vạn vật ảo hóa biến thiên. Nếu ta tách mọi sự ra khỏi vòng biến dịch, ta sẽ thấy xấu tốt khác nhau. Nhưng nếu ta lồng mọi sự vào vòng biến chuyển, ta sẽ thấy thiện cũng như ác, đẹp cũng như xấu, không có gì là cố định.
Héraclite cũng đã viết: «Trong chu kỳ biến hóa, sống chết đắp đổi nhau. Tiên tục, tục tiên; tục sống thời tiên chết, tục chết thời tiên sống.» [5]
«Sống hay chết, thức hay ngủ, trẻ hay già chỉ là một, vì sự biến hóa, cái này sẽ thành cái kia, cái kia sẽ thành cái nọ. [6] [... ] Nhất tán thời thành vạn, vạn tụ thời thành nhất.» [7]
Kinh nghiệm cũng cho chúng ta thấy rằng: Sự thiện ác theo đà thời gian, theo trào lưu lịch sử cũng đã luôn luôn thay đổi bộ mặt.
Sử gia Henry Steele Commager viết: «Lịch sử cho chúng ta thấy rằng các tiêu chuẩn, các giá trị, các nguyên tắc biến đổi theo thời gian và xã hội. Ở trong một xã hội, chúng biến đổi theo mỗi thế hệ. Các giáo hoàng xưa đã được lựa chọn vì học vấn và nhân đức đã tin rằng luân lý bắt buộc các ngài phải tiêu trừ «loạn giáo» (hérésies) bằng sắt bằng lửa, bằng bạo tàn bằng tra tấn. Các người Âu châu thế kỷ XVI đã không ngần ngại, giết người da đỏ, vì cho rằng họ không có linh hồn. Những người thanh giáo (puritains) giỏi giang và ngay thẳng đã không ngần ngại kết án tử hình những mụ phù thủy, và ở thế kỷ XIX, các người Công giáo miền Nam nước Mỹ đã cho rằng chế độ nô lệ là một ân sủng của Trời.» [8]
Trang tử cũng viết đại khái rằng: «Trên phương diện Đạo thể thì một cọng cỏ hay một xà nhà, nàng Lệ hay Tây Thi, vui hay buồn, khôn hay dại, tất cả đều là một. Thịnh suy thành bại chỉ là những trạng thái tương tục luân phiên. Tất cả đều là một nhưng chỉ có những bậc đại trí mới thấy được. Cho nên thánh nhân vượt lên trên các quan niệm thị phi yên nghỉ trong Hóa Công, mặc cho sự vật chuyển vần xuôi ngược.» [9]
Thế tức là trong thế giới biến dịch, ta phải chấp nhận mọi trạng thái, mọi khía cạnh, và phải biết vươn mình lên trên những cặp mâu thuẫn tương đối ấy để sống trong Đạo thể đại đồng. Vì thế tiếp theo Lão tử mới khuyên chúng ta: Xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo.»

06/09/2026

Hành Trình Của Sư Giác Thiện (Đặng Thanh Thiện, 18/01/1985 – 07/06/2026)

Có những người dành cả đời để theo đuổi danh vọng, vật chất và những thành tựu của thế gian. Nhưng cũng có những người chọn buông xuống tất cả để bước đi trên con đường xuất trần, tìm cầu Chánh pháp và sống một đời giản dị theo lời Phật dạy.

Sư Giác Thiện là một người như vậy.

Trước khi xuất gia, Sư là một Thạc sĩ, có học vấn, tương lai và nhiều cơ hội phát triển mà không ít người mơ ước. Thế nhưng Sư đã lựa chọn buông bỏ con đường thế tục để thực hiện tâm nguyện tìm cầu Chánh pháp và sống đời phạm hạnh.

Theo thông tin từ gia đình và những người thân cận, khoảng ba tháng trước, Sư đã từ biệt gia đình để thực hiện tâm nguyện xuất gia tu học. Trước khi lên đường, Sư để lại thư cho người thân, chuẩn bị các giấy tờ cần thiết và sắp xếp những việc còn lại của đời sống thế tục. Khi ấy, gia đình chưa biết rõ quyết định của Sư cho đến khi Sư quá cảnh qua Thái Lan trên hành trình tìm đường tu học.

Dù bất ngờ, nhưng sau đó gia đình đã tôn trọng và chấp nhận quyết định mà Sư đã kiên định lựa chọn.

Ngày 04/03, Sư tự nguyện bắt đầu hành trình tập học theo hạnh đầu đà tại Nepal. Đến ngày 11/04, Sư nhập cảnh Ấn Độ và tự do tu tập tại Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật thành đạo dưới cội bồ đề hơn hai ngàn năm trước.

Nơi vùng đất linh thiêng ấy, Sư sống đời phạm hạnh giản dị của người hành giả đầu đà. Ba y một bát, ngày một bữa, lấy gốc cây, chuồng ngựa, vườn xoài làm nơi nghỉ chân, lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa, từng ngày tinh tấn trên con đường mà mình đã nguyện chọn.

Thế nhưng đời là vô thường.

Ngày 31/05, Sư Giác Thiện lâm bệnh nặng do sốt xuất huyết. Dù được quan tâm và hỗ trợ chăm sóc, thân tứ đại vẫn không tránh khỏi quy luật sinh, lão, bệnh, tử.

Đến 7 giờ 30 phút sáng ngày 07/06, Sư đã xả bỏ thân tứ đại tại đất Phật. Cùng ngày, lễ hỏa táng được thực hiện bên bờ sông Ni Liên Thiền, vùng đất gắn liền với dấu chân tu tập của Đức Thế Tôn.

Hành trình nơi thế gian của Sư tuy ngắn ngủi nhưng đã được sống với điều mình tin tưởng và nguyện bước theo.

“Một ngày được sống trong Chánh pháp còn quý hơn trăm năm sống trong vô minh và buông lung.”

Nguyện cầu cho Sư Giác Thiện được an lành theo nghiệp lành và công đức tu học đã vun bồi. Hành trình nơi nhân gian đã khép lại, nhưng chí nguyện tìm cầu Chánh pháp của một vị Thạc sĩ đã buông bỏ công danh, sự nghiệp để sống đời phạm hạnh vẫn sẽ còn là nguồn cảm hứng đối với nhiều người hữu duyên.

🙏 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

05/28/2026

Tiếp nối câu chuyện Phật tử đảnh lễ và hỏi pháp thầy Minh Tuệ trước khi quay về Việt Nam Phật hỏi: Bạch Thầy, để tránh việc nói dối hay phạm vào khẩu nghiệp, chúng con phải tuân thủ và rèn luyện lời nói của mình như thế nào cho đúng với tinh thần của chánh pháp?

Thầy Minh Tuệ giảng giải: "Mình hiểu biết những cái gì nói cho thiện, mình nói như thế, cho thấy như thế mình nói như thế. Nói những điều mà đem lại an lạc cho họ thì mình nên nói; những điều mà làm cho họ đau khổ thì không nên nói."

"Mình muốn nói láo, mình muốn nói sai thật, nói điều có những cái sự thật thì mình không nói... Làm nói ra để làm cho họ đau khổ thì mình đừng nói. Những lời nói nặng nhẹ, lời nói nói móc, nói làm cho người ta tổn thương, đó là một lời ác."

Lời dạy của thầy Minh Tuệ trước hết nhắc nhở chúng ta về sự trung thực. Trong đạo Phật, Chánh ngữ nghĩa là không nói dối, không nói lời đâm thọc, không nói lời ác độc và không nói lời phù phiếm. Khi chúng ta "thấy như thế nào, biết như thế nào, nói như thế ấy" bằng một tâm thế ngay thẳng, chúng ta đang bảo hộ cho chính tâm thức của mình khỏi sự dối trá.

Đối chiếu với Kinh tạng Nikaya, trong Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở rừng Am-bà-la (Trung Bộ Kinh), Đức Phật đã dùng hình ảnh chậu nước để dạy Tôn giả La-hầu-la về tác hại của việc nói dối:

"Cũng vậy, này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có cảm giác xấu hổ, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm được. Do vậy, này Rahula, ngươi phải học tập: 'Ta quyết không nói láo, dầu nói chơi'."

Khi giữ được sự chân thật, lời nói của chúng ta sẽ có uy lực, mang lại niềm tin và sự bình an cho những người xung quanh.

Tiêu Chuẩn Của Lời Nói: Mang Lại An LạcHay Khổ Đau?

Thầy Minh Tuệ nhấn mạnh một thước đo rất dễ áp dụng trong đời sống: Trước khi nói, hãy tự hỏi lời này mang lại an lạc hay làm cho người ta đau khổ?

Có những sự thật, nếu nói ra chỉ để thỏa mãn cái tôi, để chỉ trích, "nói móc" hay làm tổn thương người khác, thì đó cũng trở thành một "lời ác". Tu cái miệng không chỉ là dừng lại ở việc không nói dối, mà còn là sự trưởng thành trong lòng từ bi. Lời nói phải đi qua bộ lọc của sự tử tế.

Điều này đồng nhất với lời dạy của Đức Phật trong Kinh Tăng Chi Bộ (Chương V, Pháp Sáu Phẩm) về năm tiêu chuẩn của một lời nói chân chánh (Thiện ngữ):

Nói đúng thời (đúng lúc).

Nói đúng sự thật.

Nói lời nhu hòa (nhẹ nhàng).

Nói lời liên hệ đến lợi ích (mang lại an lạc).

Nói với tâm từ bi (không nói với tâm sân hận).

Nếu một lời nói dù có thật nhưng lại nói sai thời điểm, nói với giọng điệu mỉa mai, nhằm mục đích hạ bệ người khác, thì lời nói đó đã đánh mất đi năng lượng thiện lành.

Học theo lời chia sẻ của thầy Minh Tuệ và soi rọi vào Kinh tạng, mỗi Phật tử chúng ta hiểu rằng: Lời nói chính là tấm gương phản chiếu tâm thức.

Khi tâm ta có sự hiểu biết và tình thương, lời nói ra sẽ là đóa hoa sen ngát hương, mang lại sự mát lành cho cuộc đời.

Khi tâm ta còn giận hờn, đố kỵ, cách tu tốt nhất là giữ sự im lặng thánh thiện.

Nguyện cho mỗi chúng ta luôn tỉnh thức trong từng lời nói, biết dừng lại đúng lúc trước những cám dỗ của thị phi, để mỗi lời thốt ra đều là một món quà an lạc gửi tặng cho thế gian.

05/25/2026
05/22/2026

Thầy Minh Tuệ giải đáp câu hỏi của Phật tử Hỏi: Còn câu “Pháp sinh ở đâu, thì diệt ở đó”, có nghĩa gì ạ?
Đáp: “Câu “Pháp sanh ở đâu, diệt ở đó”, là nguyên lý cốt lõi về sự vô thường.
Sự vật, hiện tượng, cảm xúc, tư tưởng, khi khởi sinh, thì đã chứa mầm tan biến, tàn lụi, ở trong nó.
Không có gì tồn tại vĩnh viễn.
Đừng bám chấp, đừng nắm giữ, đừng tham ái, thì khi vô thường đến, sẽ chẳng sợ hãi và khổ đau. A Di Đà Phật.”
*****
Kính thưa các quý Phật tử và những người hữu duyên,

Trong hành trình tu học và tìm cầu sự giải thoát, chúng ta thường nghe nhắc đến những chân lý rất giản dị nhưng lại chứa đựng dung lượng tuệ giác vô biên. Khi có người hỏi về câu nói: “Pháp sinh ở đâu, thì diệt ở đó”, Thầy Minh Tuệ đã chia sẻ một cách mộc mạc và sâu sắc rằng:

"Câu 'Pháp sanh ở đâu, diệt ở đó', là nguyên lý cốt lõi về sự vô thường. Sự vật, hiện tượng, cảm xúc, tư tưởng, khi khởi sinh, thì đã chứa mầm tan biến, tàn lụi, ở trong nó. Không có gì tồn tại vĩnh viễn. Đừng bám chấp, đừng nắm giữ, đừng tham ái, thì khi vô thường đến, sẽ chẳng sợ hãi và khổ đau."

Lời dạy của Thầy Minh Tuệ chính là sự đúc kết từ trải nghiệm thực hành, soi chiếu trực tiếp vào Kinh tạng và Kinh Pháp Cú của Đức Thế Tôn. Chúng ta hãy cùng nhìn sâu vào giáo lý để hiểu rõ hơn lời chia sẻ này.

1. Bản chất của "Pháp sinh ở đâu, diệt ở đó" trong Kinh tạng

Trong Phật giáo, "Pháp" (Dhamma) bao gồm tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên thế gian này, từ thế giới vật chất bên ngoài cho đến những dòng suy nghĩ, cảm xúc vui buồn bên trong tâm thức chúng ta.

Lời của Thầy Minh Tuệ đồng nhất hoàn toàn với giáo lý Duyên khởi và Vô thường mà Đức Phật đã từ bi chỉ dạy. Mọi pháp đều do duyên sinh, mà đã do duyên sinh thì khi hết duyên sẽ tự diệt. Chúng sinh ra ở ngay thực tại này, và cũng tan rã ngay tại thực tại này.

Trong Kinh Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya), Ngài Assaji (Mã Thắng) đã tóm tắt toàn bộ giáo pháp của Đức Phật cho Ngài Xá Lợi Phất nghe qua một bài kệ kinh điển:

"Các pháp do duyên sinh, Đức Thế Tôn định rõ nguyên nhân. Các pháp do duyên diệt, Bậc Đại Sa-môn đã dạy như vậy."

Sự sinh và sự diệt là hai mặt của một bàn tay. Khi một cơn giận khởi lên trong tâm (sinh), nếu chúng ta không nuôi dưỡng nó bằng sự oán hận, nó sẽ tự lịm đi và biến mất ngay trong tâm (diệt). Nó không đi đâu cả, nó sinh ở đâu thì diệt ngay tại đó.

2. Sự chứng minh qua Kinh Pháp Cú (Dhammapada)

Để làm sáng tỏ việc "không có gì tồn tại vĩnh viễn" và lời khuyên "đừng bám chấp" của Thầy Minh Tuệ, chúng ta hãy lắng nghe những lời vàng ngọc trong Kinh Pháp Cú:

Kinh Pháp Cú – Câu 277:

"Tất cả hành vô thường, Với Tuệ, quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán, Chính con đường thanh tịnh."

Khi nhìn thấy rõ vạn vật đều trôi chảy, đổi thay từng sát-na, người con Phật sẽ không còn dại dột đặt niềm tin hạnh phúc vào những thứ tạm bợ.

Kinh Pháp Cú – Câu 212:

"Ái luyến sinh sầu ưu, Ái luyến sinh sợ hãi. Ai thoát khỏi ái luyến, Không sầu, đâu sợ hãi?"

Đúng như lời Thầy Minh Tuệ chia sẻ: "Đừng bám chấp, đừng nắm giữ, đừng tham ái, thì khi vô thường đến, sẽ chẳng sợ hãi và khổ đau". Mọi khổ đau của con người không đến từ bản thân sự vô thường, mà đến từ việc chúng ta muốn những thứ vốn vô thường phải trở nên thường hằng theo ý mình.

3. Bài học thực hành từ lời chia sẻ của Thầy Minh Tuệ

Học Phật không phải để tranh luận chữ nghĩa, mà để ứng dụng vào cuộc sống hằng ngày. Từ lời khai thị của Thầy Minh Tuệ, chúng ta có thể thực hành hai điều cốt lõi:

Quan sát cảm xúc với tâm xả ly: Khi niềm vui đến, biết nó đang đến nhưng không bám giữ. Khi nỗi buồn hay nghịch cảnh đến, biết nó đang ở đây và cũng hiểu rằng rồi nó sẽ đi. Bản chất của nó là sinh ở đâu, diệt ở đó.

Buông bỏ tham ái: Sống trọn vẹn với hiện tại nhưng không chiếm hữu. Nhận diện rõ thân thể này, danh vọng này, tài sản này... đều là các pháp hữu vi, có sinh ắt có diệt. Khi tâm không còn nắm níu, tự khắc sẽ có được sự tự tại, bình an đích thực giữa dòng đời biến động.

Lời chia sẻ của Thầy Minh Tuệ như một tiếng chuông tỉnh thức, kéo chúng ta trở về với thực tại, nhìn thẳng vào bản chất của vạn pháp. Ước mong sao mỗi quý Phật tử, khi đối diện với những thăng trầm của cuộc sống, đều có thể vững vàng quán chiếu: “Pháp sinh ở đâu, diệt ở đó” để tâm không động, an nhiên đi qua mọi bão giông.

Nguyện cầu cho đại chúng luôn tinh tấn trên con đường Chánh pháp, thân tâm an lạc, vạn sự kiết tường.

Address

Little Rock, AR

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hành Giả Thích Minh Tuệ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share