08/31/2023
𝐋𝐈̣𝐂𝐇 𝐒𝐔̛̉ 𝐏𝐇𝐀̣̂𝐓 𝐆𝐈𝐀́𝐎 𝐓𝐀̂𝐘 𝐓𝐀̣𝐍𝐆
(𝐌𝐚̣̂𝐭 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 𝐊𝐢𝐦 𝐂𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐓𝐡𝐮̛̀𝐚 )
𝐂𝐚́𝐜 𝐕𝐢̣ 𝐓𝐨̂̉ 𝐒𝐮̛ 𝐏𝐡𝐚̣̂𝐭 𝐆𝐢𝐚́𝐨 𝐓𝐚̂𝐲 𝐓𝐚̣𝐧𝐠 𝐌𝐚̣̂𝐭 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 𝐊𝐢𝐦 𝐂𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐓𝐡𝐮̛̀𝐚
𝐕𝐚̀ 𝟒 𝐓𝐫𝐮̛𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐏𝐡𝐚́𝐢 𝐂𝐡𝐢́𝐧𝐡
______________
𝐋𝐢̣𝐜𝐡 𝐒𝐮̛̉ 𝐏𝐡𝐚̣̂𝐭 𝐠𝐢𝐚́𝐨 𝐓𝐚̂𝐲 𝐓𝐚̣𝐧𝐠 𝐌𝐚̣̂𝐭 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 𝐊𝐢𝐦 𝐂𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐓𝐡𝐮̛̀𝐚 (hay còn gọi là Lạt-ma giáo là một một truyền thống Phật giáo phát triển chủ đạo ở Tây Tạng. Truyền thống này cũng được tìm thấy ở các vùng xung quanh Himalaya (chẳng hạn như Bhutan, Ladakh, và Sikkim), phần nhiều ở Trung Á, các vùng phía nam Siberia như Tuva, và Mông Cổ.
Trước khi Phật giáo du nhập vào Tây Tạng thì Bôn giáo được xem là quốc giáo. Khoảng dưới thời Vua Songtsen Gampo Tùng-tán Cương-bố ( bo. srong bstan sgam po སྲོང་བསྟན་སྒམ་པོ་) (620-649) thì hoàng gia bắt đầu chuyển qua Phật giáo.
Năm thế hệ sau vị vua này thì Phật giáo được tuyên bố chính thức là quốc giáo và với sự xây dựng tu viện đầu tiên Samye Tang-diên (samye) năm 775, các tăng sĩ Tây Tạng bắt đầu thành lập Tăng-già (sa. Sangha).
Phật giáo Tây Tạng được xem là được hình thành trong thế kỷ 8 dưới triều Vua Trisong Detsen Ngật-lật-song Đề-tán (755-797), do hai Cao tăng Ấn Độ là Śāntarakṣita Tịch Hộ (sa. śāntaraksita) và Đức Guru Rinpoche Liên Hoa Sinh (sa. padmasambhava) truyền sang.
Đợt đầu của việc truyền bá đạo Phật qua Tây Tạng chấm dứt trong thế kỷ 9. Trường phái Nyingma Ninh-mã (bo. nyingmapa རྙིང་མ་པ་) do Đức Guru Rinpoche Liên Hoa Sinh được thành lập từ thời gian đó.
Khoảng dưới thời vua Lãng-đạt-ma (glang dar ma གླང་དར་མ་) (838-842), Bôn giáo lại được phục hồi, Phật giáo bị bức hại.
Sau một thời gian bị bức hại, Phật giáo lại phục hưng trong thế kỷ 11, phát sinh hai trường phái :
1.Phái Kagyu Ca-nhĩ-cư (bo. kagyupa བཀའ་བརྒྱུད་པ་)
2.Phái Tát-ca (sa skya pa ས་སྐྱ་པ་)
và đó là thời gian mà rất nhiều kinh sách được dịch ra tiếng Tạng cổ điển.
Với Atisa A-đề-sa, đạo Phật lại được truyền bá lần thứ hai sang Tây Tạng. Từ đây, người ta lại quan tâm đến các trường phái, nhất là các phái truyền tâm từ thầy qua trò theo dạng "khẩu truyền", và từ đó sinh ra các tu viện lớn của tông Tát-ca (1073), lôi kéo được dịch giả Marpa Mã-nhĩ-ba (bo. mar pa མར་པ་) – người sáng lập tông Kagyu Ca-nhĩ-cư – sang Ấn Độ thu thập kinh sách.
Trong Phật giáo Tây Tạng và các tông phái tại đây, các vị đại sư được gọi là Lạt-ma, đóng một vai trò rất quan trọng. Một trong các vị quan trọng nhất là Tsongkhapa Tông-khách-ba (tsong-kha-pa), được mệnh danh là "nhà cải cách", người thiết lập và tổ chức lại toàn bộ các tông phái.
Đức Tsongkhapa là người xây dựng nhiều Tháp và Tu Viện quan trọng tại Tây Tạng như Drepung (Triết Bang), Sera (Sắc Nhạ) và Ganden (Cách Đăng). (1409) và thành lập phái Gelupa Cách-lỗ (bo. gelugpa དགེ་ལུགས་པ་).
Kể từ thế kỷ 14, phái Gelugpa Cách-lỗ thịnh hành, được xem là một trong bốn trường phái lớn của Phật giáo Tây Tạng. Ngày nay, trên thế giới, Phật giáo Tây Tạng được coi trọng, nhiều Lạt-ma Tây tạng đang giáo hóa tại các nước phương Tây.
𝐂𝐚́𝐜 𝐕𝐢̣ 𝐓𝐨̂̉ 𝐒𝐮̛ 𝐏𝐡𝐚̣̂𝐭 𝐆𝐢𝐚́𝐨 𝐓𝐚̂𝐲 𝐓𝐚̣𝐧𝐠 𝐌𝐚̣̂𝐭 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 𝐊𝐢𝐦 𝐂𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐓𝐡𝐮̛̀𝐚 :
1️⃣.Phái Nyingmapa ( Ninh mã phái ,Cổ Mật hay Cựu phái) do Đại Sư Liên Hoa Sinh (Padma-Jungne) sáng lập vào năm 749. Ngài là giáo sư danh tiếng ở viện đại học Nalanda Phật giáo.
2️⃣.Phái Kagyu (Ca-nhĩ-cư phái) Vị đệ nhất sư tổ của Kagyu là Ngài Tipola (988 - 1069) và sau đó là các vị chân sư của giáo phái này phải kể đến: Ngài Naropa (1016 -1100), Ngài Marpa (1012 - 1098), Ngài Milarepa (1040 - 1123).d) Ngài Gampopa, Ngài Tsangpa Gyare
3️⃣.Phái Sakya (Tát-ca phái) Phái này được trở thành độc lập là nhờ công của 5 vị Lạt-ma sống từ 1092 đến 1280.
1.Sachen Khánh Hỉ Tạng (sa. ānandagarbha, bo. sa chen kun dga´ snying po ས་ཆེན་ཀུན་དགའ་སྙིང་པོ་, 1092-1158),
Hai người con trai là :
2.Sonam Tsemo (bo. bsod nams rtse mo བསོད་ནམས་རྩེ་མོ་,1142-1182)
3.Drakpa Gyaltsen (bo. drags pa rgyal mtshan དྲགས་པ་རྒྱལ་མཚན་, 1147-1216),
4.Người cháu Sakya Banthiền (bo. sa skya pan chen ས་སྐྱ་པན་ཆེན་, 1182-1251)
5.Chog-yal Phag-pa (bo. chos rgyal `phags pa ཆོས་རྒྱལ་འཕགས་པ་, 1235-1280).
Tất cả năm vị này đều được xem là hoá thân của Văn-thù-sư-lợi (sa. mañjuśrī) và thuộc gia đình Khon.
4️⃣.Phái Guelugpa ( Phái Hoàng Mạo ,Cách-lỗ phái) do ngài Tsongkhapa, quê ở miền bắc Tây Tạng lập ra vào thế kỷ 14. Lúc đó,Phật giáo bị mê mờ vì nhiều tín điều sai lầm và huyễn hoặc. Sư đã dùng tư tưởng cao sáng khuyên nhủ người tu hành nên tinh tiến tu, tham thiền hỏi đạo, trai giới đạo hạnh. Cuộc cải cách tôn giáo của ngài có hiệu quả vững bền. Về sau, phái của Sư đổi tên là Lạt-ma-giáo và trở thành người đứng đầu nhà nước Tây Tạng do Đức Đạt-lai Lạt Ma nắm giữ quyền cai trị dân chúng và trông nom mối đạo.
Ở Tây Tạng, đệ tử chỉ được thu nhận vào Mật tông thông qua một nghi lễ Quán Đảnh (initiation) đặc biệt được tiến hành bởi một Lạt Ma có tên tuổi. Mật tông cũng chủ trương sự tự giác ngộ thông qua việc thiền định (meditation) và niệm chân ngôn (mantra).
Dòng truyền thừa vào Tây Tạng xuất phát từ trung tâm Phật học Vikramasila.
_______________
𝐌𝐚̣̂𝐭 𝐓𝐨̂𝐧𝐠 𝐊𝐢𝐦 𝐂𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐓𝐡𝐮̛̀𝐚 𝐜𝐨́ 𝟒 𝐭𝐫𝐮̛𝐨̛̀𝐧𝐠 𝐩𝐡𝐚́𝐢 𝐜𝐡𝐢́𝐧𝐡 𝐥𝐚̀:
1.Phái Nyingmapa ( Ninh mã phái ,Cổ Mật hay Cựu phái)
https://khamphataytang.com/he-phai-nyingma/
2.Phái Kagyu (Ca-nhĩ-cư phái)
https://khamphataytang.com/he-phai-kagyu/
3.Phái Sakya (Tát-ca phái)
https://khamphataytang.com/he-phai-sakya/
4.Phái Hoàng Mạo (Guelugpa, Cách-lỗ phái)
https://khamphataytang.com/he-phai-gelug/