10/19/2026
LỚP PHẬT PHÁP BUDDHADHAMMA
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA
Thứ Bảy, 16.10.2026
TÂM LƯỢNG RỘNG RÃI VÀ HẸP HÒI
Kinh Bỏn Xẻn (Maccharisuttaṃ)
Chương I: Tương Ưng Chư Thiên – Phẩm Thiêu Cháy (Ādittavagga) – SN 1.48
Tánh bỏn xẻn, ích kỷ (macchariya) là một trong những phiền não vi tế và sâu dày giam hãm tâm thức chúng sanh trong biển luân hồi. Bản chất của bỏn xẻn không chỉ đơn thuần là sự bám víu tài sản sở hữu, mà là sự run sợ, hẹp hòi và bức bối khi thấy người khác thọ hưởng hoặc khi thấy kẻ khác hành thiện, bố thí (dāna). Đỉnh điểm của tâm lý vị kỷ này chính là ác tâm ngăn trở, phỉ báng và làm chướng ngại thiện sự của tha nhân. Đức Phật chỉ rõ rằng nghiệp nhân keo kiệt, nguyền rủa và phá hoại hạnh lành ắt dẫn thẳng đến các cõi dữ: địa ngục thiêu đốt, súc sanh ngu si, hoặc cảnh giới ngạ quỷ đói khát cùng cực. Dẫu có may mắn trở lại làm người nhờ một dư nghiệp thiện nào khác, kẻ ấy cũng phải chịu quả báo cơ hàn, sinh vào gia đình bần cùng khốn khó, thiếu thốn mọi nhu yếu phẩm, và chẳng thể đạt được bất kỳ sự kỳ vọng nào từ cuộc đời.
Tương phản hoàn toàn với hố sâu bần tiện ấy là tâm hạnh rộng lượng, hoan hỷ chia sẻ (vadaññū) cùng lòng tịnh tín kiên cố nơi Tam Bảo. Bố thí xuất phát từ niềm tin thanh tịnh không đơn thuần là sự chuyển giao tài vật bên ngoài, mà chính là sự xả ly tâm chấp thủ ngã và ngã sở. Hành giả thực hành bố thí với lòng tri ân sâu sắc đối với Phật, Pháp, Tăng sẽ chuyển hóa tâm thức trở nên rạng rỡ, bao dung. Quả báo dị thục của tâm đại lượng là sự tái sanh thù thắng: làm chư thiên chói sáng giữa các tầng trời hỷ lạc; hoặc nếu tái sanh làm người thì sanh vào dòng dõi phú quý, sống đời tự tại thong d**g, đầy đủ mọi phương tiện an lạc, tựa như các vị thiên tự tại thọ hưởng phước lành do công đức thuần tịnh chiêu cảm.
Kinh Văn
“Ye te maccharino loke,
kadariyā paribhāsakā;
Dānaṃ dadantānaṃ antarāyakārā,
kīdiso tesaṃ vipāko;
Samparāyo ca kīdiso,
Bhagavantaṃ pucchituṃ āgatā;
Kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ”.
“Ye te maccharino loke,
kadariyā paribhāsakā;
Dānaṃ dadantānaṃ antarāyakārā,
te vindanti nirayaṃ;
Tiracchānayoniṃ vā yamalokaṃ vā.
Sace denti manussattaṃ,
daliddekule jāyanti;
Yattha vatthasumanā pana,
kicchena labhanti khiddāratimapi.
Yaṃ bālā patthayanti parato,
tampi tesaṃ na vijjati;
Diṭṭhe dhamme va so attho,
samparāye ca duggati”.
“Evametaṃ vijānāma,
aññaṃ pucchāma Gotama;
Ye te laddhā manussattaṃ,
vadaññū vītamaccharā;
Buddhe dhamme ca pasannā,
saṅghe tibbagāravā.
Kīdiso tesaṃ vipāko,
samparāyo ca kīdiso;
Bhagavantaṃ pucchituṃ āgatā,
kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ”.
“Ye te laddhā manussattaṃ,
vadaññū vītamaccharā;
Buddhe dhamme ca pasannā,
saṅghe tibbagāravā;
Te sagge upapajjanti,
virocanti ca te tahim.
Sace denti manussattaṃ,
aḍḍhekule jāyanti;
Yattha vatthasumanā pana,
akicchena labhanti khiddāratimapi.
Modanti paravittehi,
nibbattehi yasassibhi;
Diṭṭhe dhamme va so attho,
samparāye ca suggatī”ti.
(Vị thiên hỏi:)
Người bỏn xẻn ở đời,
Keo kiệt và phỉ báng,
Ngăn người khác bố thí.
Họ sẽ gặt quả gì?
Đời sau sanh về đâu?
Chúng con hỏi Thế Tôn,
Xin Ngài giải nghĩa rõ.
(Đức Thế Tôn đáp:)
Người bỏn xẻn ở đời,
Keo kiệt và phỉ báng,
Ngăn người khác bố thí.
Có thể sanh địa ngục,
Hoặc đọa làm súc sanh,
Hay cảnh giới Diêm Ma,
Chịu quả nghiệp bất thiện.
Nếu được sanh làm người,
Lại sanh nhà nghèo khó,
Áo quần cùng vật thực,
Các thú vui đời sống,
Đều khó khăn mới được.
Điều kẻ ngu mong đợi,
Từ nơi những người khác,
Ngay cả điều mong ấy,
Cũng chẳng dễ đạt thành.
Đây là quả hiện đời,
Đời sau sanh khổ cảnh.
(Vị thiên hỏi:)
Chúng con hiểu lời Ngài,
Kính bạch Đấng Cồ Đàm
Nay xin hỏi điều khác:
Những người sanh làm người,
Hiền hòa và rộng lượng;
Tin Phật cùng Chánh pháp,
Kính trọng chúng Tăng-già,
Họ sẽ gặt quả gì?
Đời sau sanh về đâu?
Chúng con hỏi Thế Tôn,
Xin Ngài giải nghĩa rõ.
(Đức Thế Tôn đáp:)
Những người sanh làm người,
Hiền hòa và rộng lượng,
Tin Phật cùng Chánh pháp,
Kính trọng chúng Tăng-già;
Khi tái sanh thiên giới,
Làm rạng rỡ cõi trời.
Nếu trở lại làm người,
Sanh vào nhà giàu có,
Áo quần cùng vật thực,
Các thú vui đời sống,
Đều dễ dàng có được.
Họ vui hưởng sung túc,
Như chư thiên tự tại,
Thọ hưởng những tài vật,
Do người khác tích lũy.
Đây là quả hiện đời,
Đời sau đến thiện thú.
Chú Thích
Kinh văn cấu trúc theo thể đối thoại vấn đáp, minh giải trọn vẹn quy luật nhân quả: gieo tâm hà tiện thì gặt quả bần hàn suy sụp; gieo tâm xả thí, cung kính Tam Bảo thì gặt quả an vui, thịnh đạt.
Maccharino & Kadariyā (Kẻ bỏn xẻn và keo kiệt): Macchariya là trạng thái tâm bất thiện bám chặt vào sở hữu của mình và không muốn người khác cùng thụ hưởng; kadariya chỉ hạng người cực kỳ bủn xỉn, cằn cỗi trong tâm tính, xem tài sản quý hơn cả thiện căn và nhân phẩm.
Paribhāsakā & Antarāyakārā (Mạ lỵ và tạo chướng ngại): Không chỉ giữ rịt của cải, kẻ bỏ xẻn nặng nề còn khởi tâm sân hận, thốt lời chê bai (paribhāsakā) những bậc hành thiện, và tìm mưu tính kế cản trở (antarāyakārā) thiện sự của kẻ khác vì sợ hạnh thí của người làm lộ rõ sự ti tiện của mình.
Vindanti nirayaṃ... yamalokaṃ vā: Ba đường ác đạo chịu quả báo trực tiếp từ ác nghiệp: niraya (địa ngục), tiracchānayoni (loài bàng sanh) và yamaloka (cõi Diêm-ma, trong ngữ cảnh sớ giải chỉ cho cảnh giới ngạ quỷ, quỷ đói khao khát).
Daliddekule jāyanti (Sanh vào gia đình bần cùng): Dù còn chút phước đời trước để trở lại làm người, nhưng dư báo của nghiệp keo kiệt khiến người ấy sanh vào gia đình bần hàn, khốn khổ nhất trong xã hội; kiếm sống chật vật, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm.
Vadaññū vītamaccharā (Người hoan hỷ bố thí, dứt trừ bỏ xẻn): Vadaññū chỉ người nhã nhặn, biết lắng nghe lời cầu xin, hiểu ý người khác và có tâm quảng đại san sẻ không tiếc nuối; đối lập với macchariya.
Buddhe dhamme ca pasannā, saṅghe tibbagāravā (Tịnh tín Phật, Pháp, cung kính sâu dày nơi Tăng): Điểm đặc thù trong lời dạy của Đức Phật: hạnh bố thí khi được kết hợp với tuệ giác tịnh tín (pasāda) nơi ngôi Tam Bảo sẽ tạo thành một đại thiện nghiệp thù thắng tột bực, vượt lên trên việc bố thí thế tục thông thường.
Modanti paravittehi (Hoan hỷ/thọ hưởng tài vật do kẻ khác gom tụ): Tái sanh làm người giàu sang có người phục vụ, đầy đủ mọi tiện nghi mà không cần lao lực khổ sở; hoặc như các vị chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại (Paranimmitavasavattī), hoan hỷ thọ hưởng các lạc cảnh trang nghiêm được hóa hiện sẵn.
Sớ Giải
49. navame maccharinoti maccherena samannāgatā. ekacco hi attano vasanaṭṭhāne bhikkhuṃ hatthaṃ pasāretvāpi na vandati, aññattha gato vihāraṃ pavisitvā sakkaccaṃ vanditvā madhurapaṭisanthāraṃ karoti — “bhante, amhākaṃ vasanaṭṭhānaṃ nāgacchatha, sampanno padeso, paṭibalā mayaṃ ayyānaṃ yāgubhattādīhi upaṭṭhānaṃ kātun”ti. bhikkhū “saddho ayaṃ upāsako”ti yāgubhattādīhi saṅgaṇhanti. atheko thero tassa gāmaṃ gantvā piṇḍāya carati. so taṃ disvā aññena vā gacchati, gharaṃ vā pavisati. sacepi sammukhībhāvaṃ āgacchati, hatthena vanditvā — “ayyassa bhikkhaṃ detha, ahaṃ ekena kammena gacchāmī”ti pakkamati. thero sakalagāmaṃ caritvā tucchapattova nikkhamati. idaṃ tāva mudumacchariyaṃ nāma, yena samannāgato adāyakopi dāyako viya paññāyati. idha pana thaddhamacchariyaṃ adhippetaṃ, yena samannāgato bhikkhūsu piṇḍāya paviṭṭhesu, “therā ṭhitā”ti vutte, “kiṃ mayhaṃ pādā rujjantī”tiādīni vatvā silāthambho viya khāṇuko viya ca thaddho hutvā tiṭṭhati, sāmīcimpi na karoti. kadariyāti idaṃ maccharinoti padasseva vevacanaṃ. mudukampi hi macchariyaṃ “macchariya”nteva vuccati, thaddhaṃ pana kadariyaṃ nāma. paribhāsakāti bhikkhū gharadvāre ṭhite disvā, “kiṃ tumhe kasitvā āgatā, vapitvā, lāyitvā? mayaṃ attanopi na labhāma, kuto tumhākaṃ, sīghaṃ nikkhamathā”tiādīhi saṃtajjakā. antarāyakarāti dāyakassa saggantarāyo, paṭiggāhakānaṃ lābhantarāyo, attano upaghātoti imesaṃ antarāyānaṃ kārakā.
samparāyoti paraloko. ratīti pañcakāmaguṇarati. khiḍḍāti kāyikakhiḍḍādikā tividhā khiḍḍā. diṭṭhe dhammesa vipākoti tasmiṃ nibbattabhavane diṭṭhe dhamme esa vipāko. samparāye ca duggatīti “yamalokaṃ upapajjare”ti vutte samparāye ca duggati.
vadaññūti bhikkhū gharadvāre ṭhitā kiñcāpi tuṇhīva honti, atthato pana — “bhikkhaṃ dethā”ti vadanti nāma. tatra ye “mayaṃ pacāma, ime pana na pacanti, pacamāne patvā alabhantā kuhiṃ labhissantī”ti? deyyadhammaṃ saṃvibhajanti, te vadaññū nāma. pakāsantīti vimānappabhāya jotanti. parasambhatesūti parehi sampiṇḍitesu. samparāye ca suggatīti, “ete saggā”ti evaṃ vuttasamparāye sugati. ubhinnampi vā etesaṃ tato cavitvā puna samparāyepi duggatisugatiyeva hotīti. navamaṃ.
Trong bài kinh thứ chín:
Maccharino (Những kẻ bỏ xẻn): nghĩa là những kẻ bị chi phối bởi tâm keo kiệt, bỏ xẻn. Thật vậy, có hạng người khi ở tại chỗ ở của mình thì ngay cả việc đưa tay ra chắp đảnh lễ một vị tỳ-khưu họ cũng không làm. Nhưng khi đi đến nơi khác, bước vào tịnh xá, họ lại cung kính đảnh lễ và đón tiếp bằng những lời đường mật: “Bạch ngài, xin các ngài hãy quang lâm đến trú xứ của chúng con; nơi ấy trù phú, sung túc, chúng con đủ sức hộ độ chư tôn giả bằng cháo, cơm, v.v.” Chư tỳ-khưu nghĩ rằng: “Vị thiện tín này thật có lòng tịnh tín”, bèn thết đãi người ấy cháo bánh, cơm nước. Thế rồi, một vị trưởng lão đến làng của người này để khất thực. Thấy ngài từ xa, y liền đi lối khác hoặc trốn vào trong nhà. Dẫu có chạm mặt đối diện đi nữa, y chỉ chắp tay xá rồi bảo: “Hãy sớt bát cho ngài đi, tôi có việc bận phải đi gấp”, rồi bỏ đi mất. Vị trưởng lão đi khất thực khắp làng nhưng cuối cùng đành ôm bình bát trống không trở về. Trường hợp như thế được gọi là bỏ xẻn nhẹ (mudu-macchariya) — kẻ mắc phải tuy không hề bố thí nhưng bề ngoài làm ra vẻ như một đại thí chủ. Tuy nhiên, trong bài kinh này, điều được ám chỉ là bỏ xẻn nặng nề, thô thiển (thaddha-macchariya): kẻ mắc phải tâm này, khi thấy chư tỳ-khưu vào làng khất thực và có người bảo: “Các bậc trưởng lão đang đứng chờ kìa”, thì cộc cằn đáp lại: “Chân họ mỏi thì can hệ gì đến chân tôi?”, rồi đứng trơ ra như cây cột đá, như khúc gỗ khô cằn, chẳng làm chút cử chỉ cung kính nào cả.
“Kadariyā — keo kiết”: đây chính là từ đồng nghĩa với “maccharino”. Xan tham mềm mỏng vẫn được gọi là macchariya, còn xan tham cứng rắn thì được gọi là kadariya.
“Paribhāsakā — những kẻ hay chê bai”: khi thấy các Tỳ khưu đứng trước cửa nhà thì mắng: “Các ông cày bừa, gieo mạ, gặt hái mà đến đây hay sao? Chúng tôi còn không đủ cho mình, lấy đâu cho các ông, mau đi khỏi đây!” và dùng những lời như vậy để đe dọa, quát nạt.
“Antarāyakarā — những kẻ tạo chướng ngại”: là những người tạo ra ba loại chướng ngại: chướng ngại cho thí chủ được sanh thiên, chướng ngại về lợi lộc của người thọ nhận, và sự tổn hại cho chính mình.
“Samparāyo — đời sau”: nghĩa là thế giới tương lai. “Ratī — dục lạc”: nghĩa là sự vui thích với năm dục. “Khiḍḍā — vui chơi”: nghĩa là ba loại vui chơi về thân v.v. “Diṭṭhe dhammesa vipāko — quả trong hiện tại”: nghĩa là quả báo ấy được thấy ngay trong đời sống mà họ tái sanh. “Samparāye ca duggatī — và đời sau là ác thú”: sau khi nói “sanh vào Dạ-ma giới” thì cũng nói đến ác thú trong đời sau.
“Vadaññū — người từ tốn”: các Tỳ khưu đứng trước cửa nhà dù im lặng, nhưng về ý nghĩa thì như đang nói “Xin cho vật thực”. Ở đó, những người nghĩ rằng “Chúng ta có nấu nướng, còn các vị ấy không nấu, nếu đến mà không được thì các vị sẽ lấy đâu?” rồi chia sẻ vật thí, những người ấy được gọi là vadaññū. “Pakāsanti — chói sáng”: nghĩa là tỏa sáng bằng ánh sáng của cung điện thiên giới. “Parasambhatesu — giữa tài sản do người khác gom góp”: nghĩa là trong những tài sản được người khác tích tụ. “Samparāye ca suggatī — và đời sau là thiện thú”: sau khi nói “ete saggā” thì cũng chỉ thiện thú trong đời sau ấy. Hoặc cả hai hạng người ấy, sau khi từ đó mạng chung, trong đời sau tiếp theo cũng vẫn là ác thú hoặc thiện thú tương ứng. Dứt bài kinh thứ chín.
Tỳ-khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu
Tập I – Thiên Có Kệ
Chương I: Tương Ưng Chư Thiên
V. Phẩm Thiêu Cháy (S.i,34)
IX. Xan Tham (S.i,34)
Ở đời kẻ xan tham,
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Ðời này và đời sau,
Quả báo họ là gì?
Chúng con đến tại đây,
Chính muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng con muốn được biết,
Thế Tôn đáp thế nào?
(Thế Tôn):
Ở đời kẻ xan tham,
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Bị tái sanh địa ngục,
Bàng sanh, Dạ-ma giới.
Nếu được sanh làm người,
Sanh gia đình nghèo khó,
Y, thực, dục, hỷ lạc,
Họ được rất khó khăn.
Ðiều kẻ ngu ước vọng,
Họ không thâu hoạch được,
Quả hiện tại là vậy,
Ðời sau sanh ác thú.
(Vị Thiên):
Nhờ những điều Ngài nói,
Chúng con được hiểu vậy,
Tôn giả Gotama,
Con xin hỏi câu khác.
Ở đây được thân người,
Từ tốn không xan tham,
Tin Phật và Chánh pháp,
Cùng tôn trọng chúng Tăng,
Ðời này và đời sau,
Quả báo họ là gì?
Chúng con đến tại đây,
Chính muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng con muốn được biết,
Thế Tôn đáp thế nào?
(Thế Tôn):
Ở đây được thân người,
Từ tốn không xan tham,
Tin Phật và Chánh pháp,
Cùng tôn trọng chúng Tăng,
Họ chói sáng chư Thiên,
Tại đấy họ tái sanh.
Nếu họ sanh làm người,
Họ sanh nhà phú gia,
Y, thực, dục, hỷ lạc,
Họ được không khó khăn,
Như các Tự tại thiên,
Hân hoan được thọ hưởng,
Giữa vật dụng tài sản,
Ðược người khác quy tụ,
Quả hiện tại là vậy,
Ðời sau sanh Thiên giới.