Chua Lien Hoa Houston

Chua Lien Hoa Houston Friendship/Tình Pháp Hữu

LỜI PHÁT BIỂU TRONG KHÓA LỄ CẦU NGUYỆN – DI QUAN – HỎA TÁNGTưởng niệm Nữ Phật tử TRẦN THỊ NGỌC HỒNGPháp danh: CHÁNH ĐỨCA...
09/06/2026

LỜI PHÁT BIỂU TRONG KHÓA LỄ CẦU NGUYỆN – DI QUAN – HỎA TÁNG
Tưởng niệm Nữ Phật tử TRẦN THỊ NGỌC HỒNG
Pháp danh: CHÁNH ĐỨC

ADDRESS AT THE PRAYER, FUNERAL PROCESSION, AND CREMATION SERVICE
In Memory of Buddhist Disciple TRẦN THỊ NGỌC HỒNG
Dharma Name: CHÁNH ĐỨC
(* Below is the English version, please)

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa chư Tôn đức Tăng Ni,
Kính thưa toàn thể tang quyến,
Kính thưa quý đồng hương, quý Phật tử, thân hữu và tất cả quý vị hiện diện,

Hôm nay, trong giờ phút trang nghiêm của khóa lễ cầu nguyện, di quan và hỏa táng, chúng ta cùng hội tụ nơi đây để tiễn đưa Nữ Phật tử Trần Thị Ngọc Hồng, pháp danh Chánh Đức, đi hết chặng đường cuối cùng của một kiếp người.

Hôm qua, trong ngày đầu tiên của tang lễ, các em, các con, các cháu và các chắt từ nhiều nơi đã quy tụ về rất đông. Quý đồng hương, Phật tử, bằng hữu và những người từng quen biết Cụ bà cũng đã đến thăm viếng, cầu nguyện và chia buồn cùng gia đình.

Sự hiện diện đông đảo ấy thể hiện tình thương, lòng quý kính và sự biết ơn mà mọi người dành cho Cụ bà Chánh Đức.

Một người khi còn sống đã gieo được tình thương trong lòng gia đình và những người chung quanh, thì khi ra đi, tình thương ấy trở thành những bước chân tìm về, những giọt nước mắt tưởng nhớ, những nén hương thành kính và những lời cầu nguyện chân thành.

Theo giáo pháp của Đức Phật, đời sống của mỗi chúng sinh luôn vận hành theo nghiệp và quy luật nhân quả.

Nghiệp, tiếng Pāli là kamma, trước hết có nghĩa là hành động có tác ý. Những gì chúng ta cố ý suy nghĩ, nói ra và thực hiện bằng thân đều gieo nên những hạt giống trong dòng sống của chính mình.

Một ý nghĩ thiện là một nhân lành.
Một lời nói từ ái là một nhân lành.
Một việc làm giúp người là một nhân lành.

Ngược lại, những tư tưởng bất thiện, lời nói gây tổn thương và hành động làm khổ mình, khổ người cũng tạo nên những nhân bất thiện.

Nhân lành khi hội đủ duyên sẽ sinh quả lành. Nhân bất thiện khi hội đủ duyên sẽ đưa đến quả khổ. Nhân quả có thể chưa biểu hiện ngay trước mắt, nhưng một hành động có tác ý không vì thế mà hoàn toàn mất đi.

Dân gian thường gọi kết quả của những việc thiện là phước, và hậu quả của những việc bất thiện là tội. Tuy nhiên, giáo lý về nghiệp không phải là sự phán xét hay hình phạt do một quyền lực bên ngoài áp đặt. Không ai có thể ban phước tùy ý, và cũng không ai tùy tiện giáng tội lên chúng ta.

Chính mỗi người tạo nghiệp và thừa hưởng nghiệp của mình.

Như người gieo hạt giống nào thì khi đủ đất, nước, ánh sáng và thời tiết, hạt giống ấy sẽ sinh trưởng theo bản chất của nó. Gieo hạt ngọt thì có cơ hội nhận quả ngọt; gieo hạt đắng thì khó tránh khỏi quả đắng.

Nhưng giáo lý về nghiệp cũng không dạy chúng ta nhìn một sự ra đi rồi vội vàng kết luận rằng người mất có phước hay có tội. Nghiệp của một con người rất sâu xa và phức tạp. Chỉ có trí tuệ giác ngộ viên mãn mới thấy rõ toàn bộ sự vận hành ấy.

Do đó, trước sự mất mát, người Phật tử không phán xét. Chúng ta khởi lòng từ bi, làm các việc thiện, cầu nguyện và hồi hướng phước lành đến người đã khuất.

Cụ bà Chánh Đức sinh ngày 15 tháng 11 năm 1940 tại Rạch Giá, Việt Nam. Cụ bà tạ thế lúc 10 giờ 20 phút sáng ngày 29 tháng 8 năm 2026, tại tư gia ở Philadelphia, Pennsylvania, hưởng thọ 87 tuổi.

Trong cuộc đời ấy có quê hương, gia đình, những năm tháng tỵ nạn và hành trình xây dựng lại cuộc sống trên đất nước Hoa Kỳ.

Thầy trò chúng tôi gặp nhau vào khoảng đầu năm 1980 tại trại tỵ nạn Songkhla, Thái Lan. Trong hoàn cảnh xa quê hương, không biết tương lai sẽ về đâu, Cụ bà cùng các con đã phát tâm quy y Tam Bảo và thọ trì Ngũ giới do tôi truyền trao.

Từ đó, giữa Thầy và người đệ tử Chánh Đức đã hình thành một mối duyên trong Chánh pháp kéo dài suốt bốn mươi sáu năm.

Năm xưa, tôi rời trại Songkhla để chuyển đến Panat Nikhom, còn đệ tử và các con vẫn ở lại. Sau đó, tôi định cư tại California; đệ tử và gia đình đến Philadelphia.

Đó là cuộc chia tay của những người còn cùng sống giữa cuộc đời.

Hôm nay, chúng ta lại chia tay, nhưng đây là cuộc tiễn biệt cuối cùng đối với thân tứ đại mà đệ tử Chánh Đức đã nương nhờ trong 87 năm.

Thân này do đất, nước, lửa và gió hợp thành. Khi nhân duyên hội đủ, thân hiện hữu; khi nhân duyên tan rã, thân trở về với các yếu tố của tự nhiên.

Trong giây phút hỏa táng, lửa không thiêu đốt được những việc thiện mà Cụ bà đã làm; cũng không thể thiêu mất tình thương Cụ bà đã để lại trong lòng con cháu. Thân tứ đại trở về với tứ đại, nhưng nghiệp lành vẫn tiếp tục theo dòng nhân quả.

Kính thưa các con, các cháu và các chắt,

Sự hiện diện đông đủ của gia đình trong tang lễ chính là một lời tiễn biệt đầy ý nghĩa dành cho mẹ, cho bà và cho cụ của mình.

Giờ đây, điều thiết thực nhất quý vị có thể làm là thay nỗi thương tiếc bằng những việc thiện cụ thể: biết thương yêu và nâng đỡ nhau; giữ gìn sự hòa thuận giữa anh chị em; chăm sóc những người lớn tuổi; giúp đỡ người khó khăn; cúng dường Tam Bảo; bảo hộ người yếu thế; giữ gìn giới hạnh và sống có trách nhiệm với gia đình cũng như xã hội.

Mỗi việc lành được thực hiện với tâm trong sạch đều là một đóa hoa tưởng niệm dâng lên người đã khuất.

Nếu thương mẹ, thương bà và thương cụ, xin mỗi người hãy tiếp tục gieo trồng điều thiện. Sau khi làm phước, hãy thành tâm hồi hướng:

“Nguyện cho Cụ bà Chánh Đức hoan hỷ thọ nhận phần phước lành này. Nguyện nhờ thiện duyên ấy, Cụ bà được sinh về cảnh giới an lành, tiếp tục gặp Phật pháp và tiến bước trên con đường thoát khổ.”

Đức Phật dạy rằng tất cả chúng sinh là chủ nhân của nghiệp, là người thừa hưởng nghiệp; nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc và là nơi nương tựa. Chính nghiệp phân chia chúng sinh thành những hoàn cảnh khác nhau.

Lời dạy ấy không nhằm làm chúng ta sợ hãi, mà nhắc chúng ta sống tỉnh thức. Vì cuộc đời vô thường nên đừng trì hoãn việc thiện. Vì mỗi người phải thừa hưởng nghiệp của mình nên hãy cẩn trọng trong từng ý nghĩ, lời nói và hành động.

Hôm nay, trước giờ di quan và hỏa táng, thay mặt chư Tôn đức cùng toàn thể đại chúng, tôi thành kính phân ưu với:

Trưởng nữ Tăng Thị Ngọc Tuyết, phu quân Đỗ Tuy Hòa, cùng các con và các cháu;

Thứ nữ Tăng Thị Mỹ Dung, phu quân Tống Phi Đăng, cùng các con;

Trưởng nam Tăng Phú Xuân, phu nhân Tô Thị Oanh, cùng các con;

Thứ nữ Tăng Thị Mỹ Hạnh và phu quân Đặng Tuấn Huy;

Út nữ Tăng Thị Mỹ Phương, phu quân Gary Sirois, cùng các con và các cháu;

Cùng toàn thể thân bằng quyến thuộc.

Xin quý vị hãy nương tựa nơi Tam Bảo, dìu đỡ nhau vượt qua nỗi đau mất mát và tiếp nối những điều tốt đẹp mà Cụ bà đã để lại.

Đệ tử Chánh Đức,

Bốn mươi sáu năm trước, thầy trò mình gặp nhau giữa cảnh đời tỵ nạn.

Hôm nay, Thầy có mặt nơi đây để cùng các con, cháu và chắt tiễn đưa đệ tử.

Gặp nhau rồi chia tay. Có hợp thì có tan, có sinh thì có diệt. Nhưng những nhân lành đã gieo sẽ không mất; tình thương chân thật vẫn còn được tiếp nối trong đời sống của những người ở lại.

Nguyện nhờ phước lành của khóa lễ hôm nay, cùng tất cả công đức mà gia đình và đại chúng đã tạo tác, đệ tử Chánh Đức được nhẹ nhàng xả bỏ mọi duyên trần, sinh về cảnh giới an vui và tiếp tục tiến tu cho đến ngày thoát khỏi mọi khổ đau.

Nguyện toàn thể tang quyến được thân tâm an lành, biết lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa và cùng nhau gìn giữ tình thương trong gia đình.

An lành nhé, đệ tử Chánh Đức.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Hòa thượng Thích Huyền Việt
Trụ trì Chùa Liên Hoa, Houston, Texas

ADDRESS AT THE PRAYER, FUNERAL PROCESSION, AND CREMATION SERVICE
In Memory of Buddhist Disciple TRẦN THỊ NGỌC HỒNG
Dharma Name: CHÁNH ĐỨC

Namo Sakyamuni Buddha.

Venerable Monks and Nuns,
Dear members of the bereaved family,
Dear members of the Vietnamese community, Buddhist devotees, friends, and all those present today,

At this solemn prayer, funeral procession, and cremation service, we gather to accompany our Buddhist disciple Trần Thị Ngọc Hồng, Dharma name Chánh Đức, through the final stage of her earthly journey.

Yesterday, on the first day of the funeral, her siblings, children, grandchildren, and great-grandchildren gathered here in great numbers. Many members of the Vietnamese community, Buddhist devotees, friends, and acquaintances also came to pay their respects, offer prayers, and extend their condolences to the family.

Their presence was a sincere expression of the love, respect, and appreciation that so many people held for Mrs. Chánh Đức.

When a person has planted love in the hearts of family members and those around her, then at the time of her passing, that love becomes the footsteps of people returning to her side, tears of remembrance, sticks of incense respectfully offered, and heartfelt prayers.

According to the Buddha’s teaching, the life of every sentient being unfolds in accordance with kamma and the law of cause and effect.

Kamma is a Pāli word that primarily means intentional action. Whatever we intentionally think, say, or do plants seeds within the continuing stream of our own existence.

A wholesome thought is a good cause.
A kind word is a good cause.
An act that helps another person is a good cause.

Conversely, unwholesome thoughts, hurtful words, and actions that bring suffering to ourselves or others create unwholesome causes.

When the appropriate conditions come together, wholesome causes produce beneficial results. When the appropriate conditions arise, unwholesome causes lead to suffering. Their results may not appear immediately, but an intentional action does not simply vanish.

In ordinary language, the beneficial results of wholesome actions are called merit, while the painful consequences of unwholesome actions are called demerit or wrongdoing. However, the Buddhist teaching of kamma is not a system of judgment or punishment imposed by an outside power. No one can arbitrarily bestow blessings upon us, nor can anyone arbitrarily condemn or punish us.

Each person creates kamma and inherits its results.

It is like planting seeds. When soil, water, sunlight, and weather provide the necessary conditions, each seed grows according to its own nature. When we plant sweet seeds, we may receive sweet fruit; when we plant bitter seeds, bitter fruit will naturally follow.

Yet the teaching of kamma does not permit us to look at someone’s passing and hastily conclude that the departed person possessed either good or bad kamma. The kamma of a human life is extremely profound and complex. Only the wisdom of perfect enlightenment can fully comprehend its workings.

Therefore, in the presence of loss, Buddhists do not pass judgment. We cultivate compassion, perform wholesome deeds, offer prayers, and dedicate the resulting merit to the departed.

Mrs. Chánh Đức was born on November 15, 1940, in Rạch Giá, Vietnam. She passed away at 10:20 a.m. on August 29, 2026, at her home in Philadelphia, Pennsylvania, at the traditional Vietnamese age of 87.

Her life embraced her homeland, her family, the years in a refugee camp, and the long journey of rebuilding her life in the United States.

We first met around the beginning of 1980 at the Songkhla Refugee Camp in Thailand. Far from our homeland and uncertain about what the future might hold, she and her children took refuge in the Triple Gem and received the Five Precepts from me.

From that time onward, a bond in the Dhamma developed between teacher and disciple—a bond that endured for forty-six years.

Years ago, I left Songkhla to transfer to Panat Nikhom, while my disciple and her children remained behind. Later, I resettled in California, while she and her family made their new home in Philadelphia.

That was a separation between people who remained together in this world.

Today, we part once again. This time, however, we bid a final farewell to the physical body that our disciple Chánh Đức relied upon throughout her 87 years of life.

This body is composed of the four great elements: earth, water, fire, and air. When the necessary causes and conditions come together, the body arises; when those causes and conditions disperse, the body returns to the elements of nature.

During the cremation, the flames cannot consume the wholesome deeds that she performed, nor can they destroy the love she has left in the hearts of her children and descendants. The physical body returns to the four elements, but the results of her wholesome kamma continue according to the law of cause and effect.

Dear children, grandchildren, and great-grandchildren,

Your presence together throughout this funeral is a deeply meaningful farewell to your mother, grandmother, and great-grandmother.

The most beneficial thing you can now do is to transform your sorrow into acts of goodness: love and support one another; preserve harmony among brothers and sisters; care for the elderly; assist those in need; make offerings to the Triple Gem; protect the vulnerable; uphold the moral precepts; and live responsibly within your family and society.

Every wholesome deed performed with a pure heart is a flower of remembrance offered to the departed.

If you love your mother, grandmother, and great-grandmother, please continue planting seeds of goodness. After performing meritorious deeds, sincerely dedicate the merit to her:

“May Mrs. Chánh Đức rejoice in and receive the benefit of this merit. Through these wholesome conditions, may she be reborn in a peaceful realm, continue to encounter the Buddha’s teachings, and progress upon the path leading beyond suffering.”

The Buddha taught that all beings are the owners of their kamma and the heirs to their kamma. They originate from their kamma, are related to their kamma, and have kamma as their refuge. It is kamma that distinguishes beings according to their different circumstances.

This teaching is not intended to frighten us. It reminds us to live mindfully. Because life is impermanent, we should not postpone doing good. Because each person inherits the results of his or her own kamma, we must be careful with every thought, word, and action.

Today, before the funeral procession and cremation, on behalf of the venerable members of the Sangha and the entire congregation, I respectfully offer my deepest condolences to:

Eldest daughter Tăng Thị Ngọc Tuyết, her husband Đỗ Tuy Hòa, and their children and grandchildren;

Daughter Tăng Thị Mỹ Dung, her husband Tống Phi Đăng, and their children;

Eldest son Tăng Phú Xuân, his wife Tô Thị Oanh, and their children;

Daughter Tăng Thị Mỹ Hạnh and her husband Đặng Tuấn Huy;

Youngest daughter Tăng Thị Mỹ Phương, her husband Gary Sirois, and their children and grandchildren;

And the entire extended family.

May you take refuge in the Triple Gem, support one another through the pain of this loss, and continue the goodness that Mrs. Chánh Đức has left behind.

My dear disciple Chánh Đức,

Forty-six years ago, we met amid the hardships of refugee life.

Today, I am here with your children, grandchildren, and great-grandchildren to bid you farewell.

We meet, and then we part. Where there is union, there will be separation; where there is birth, there will be death. Yet the wholesome seeds we have planted are never lost, and genuine love continues through the lives of those who remain.

Through the merit of today’s service, together with all the wholesome deeds performed by the family and the congregation, may you gently release all worldly attachments, be reborn in a peaceful realm, and continue your spiritual cultivation until all suffering is brought to an end.

May all members of the bereaved family be blessed with physical and mental well-being. May they take the Dhamma as their refuge and preserve the bonds of love and harmony within the family.

May you be at peace, my dear disciple Chánh Đức.

Namo Sakyamuni Buddha.

Most Venerable Thích Huyền Việt
Abbot of Liên Hoa Buddhist Temple, Houston, Texas

09/04/2026

SÀI GÒN VẪN VẬY…
NHƯNG LỊCH SỬ VẪN ĐANG ĐI VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM PHẢI CÓ MỘT SINH LỘ

• SAIGON REMAINS THE SAME…
BUT HISTORY KEEPS MOVING, AND THE VIETNAMESE NATION MUST FIND A PATH FORWARD
A friend of mine wrote:
“Saigon in early August. Saigon remains the same—still sunny, still crowded, still filled with bustling intersections. Some things never seem to change, and perhaps that is precisely why they remain forever in our memories…”
(* English version below, please)

Một người bạn viết:

“Sài Gòn đầu tháng 8. Sài Gòn vẫn vậy, vẫn nắng, vẫn đông, vẫn những ngã tư tấp nập. Có những điều chẳng thay đổi, và cũng chính vì thế mà khiến người ta nhớ mãi…”

Một câu nói thật nhẹ nhàng.

Nhưng đọc xong, tôi lại suy nghĩ rất lâu.

Sài Gòn vẫn vậy…

Vẫn nắng.
Vẫn mưa.
Vẫn những con đường đông đúc.
Vẫn những ngã tư tấp nập.
Vẫn nhịp sống hối hả của một thành phố từng trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử.

Nhưng thật sự có phải mọi thứ vẫn vậy không?

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ năm 1975.

Một thế hệ đã già.

Một thế hệ đã nằm xuống.

Nhiều thế hệ khác đã sinh ra và trưởng thành.

Hàng triệu người Việt đã rời quê hương, lập nghiệp trên khắp thế giới. Nhưng dù sống ở đâu, trong lòng nhiều người vẫn còn một Việt Nam để thương, một Sài Gòn để nhớ, và những câu hỏi lịch sử chưa bao giờ thật sự khép lại.

Vì vậy, từ mấy chữ rất bình thường — “Sài Gòn vẫn vậy” — tôi muốn cùng người Việt Nam trong và ngoài nước suy ngẫm một điều lớn hơn:

Đất nước đã đi qua hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh. Nhưng dân tộc Việt Nam đã thật sự đi đến đâu trên con đường Tự do, Nhân quyền, Công lý và Hòa giải?


I. DÂN TỘC TRƯỜNG TỒN — MỌI CHẾ ĐỘ CHỈ LÀ MỘT GIAI ĐOẠN CỦA LỊCH SỬ

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một dân tộc đã nhiều lần bị thử thách nhưng vẫn tồn tại.

Cha ông chúng ta đã trải qua nhiều thế kỷ dưới sự thống trị của các triều đại phương Bắc.

Đất nước từng trải qua gần một thế kỷ dưới chế độ thuộc địa của Pháp.

Nếu nhìn bằng một đời người, một trăm năm đã rất dài; một ngàn năm tưởng như vô tận.

Nhưng lịch sử cho chúng ta một bài học:

Không có quyền lực nào tồn tại vĩnh viễn.

Triều đại rồi thay đổi.

Thực dân rồi rút lui.

Chiến tranh rồi chấm dứt.

Những hệ thống từng tưởng như không thể lay chuyển rồi cũng biến đổi.

Chỉ có Dân tộc tiếp tục đi.

Bởi vậy, khi nhìn lại lịch sử, chúng ta không nên chỉ hỏi:

Một chính quyền đã tồn tại được bao lâu?

Mà phải hỏi:

Trong thời gian ấy, người dân đã được sống như thế nào?

Có được sống với nhân phẩm không?

Có được nói lên suy nghĩ của mình không?

Có được tự do tín ngưỡng và tôn giáo không?

Có được quyền bất đồng mà không phải sống trong sợ hãi không?

Có được tham gia quyết định vận mệnh của đất nước không?

Và có được sống dưới một nền pháp luật mà cả người dân lẫn người cầm quyền đều phải tôn trọng không?

Đó mới là những câu hỏi mà lịch sử cuối cùng sẽ đặt ra cho mọi chính quyền.


II. TỪ 1945 ĐẾN 1975 — MỘT DÂN TỘC ĐÃ TRẢ GIÁ QUÁ ĐẮT

Năm 1945 mở ra một giai đoạn lịch sử mới của Việt Nam.

Nhưng khát vọng độc lập dân tộc nhanh chóng bị cuốn vào chiến tranh, ý thức hệ và cuộc đối đầu quốc tế của thời Chiến tranh Lạnh.

Đất nước bị chia cắt.

Hai miền đi theo hai hệ thống chính trị khác nhau.

Và rồi người Việt chiến đấu với người Việt trên chính quê hương mình, trong một cuộc chiến có sự can dự sâu rộng của nhiều cường quốc.

Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 từng mở ra hy vọng chấm dứt chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Nhưng hòa bình đã không thành hiện thực.

Chiến tranh tiếp tục.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ. Đất nước sau đó được thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhưng thống nhất lãnh thổ không tự động tạo nên hòa hợp lòng người.

Sau chiến tranh còn có những trại “học tập cải tạo”.

Có những gia đình ly tán.

Có những người mất nhà cửa, tài sản và tương lai.

Có những cuộc vượt biên, vượt biển.

Có những con thuyền nhỏ lênh đênh giữa đại dương.

Có những người ra đi mà không bao giờ đến được bến bờ.

Và từ những cuộc ra đi ấy hình thành một cộng đồng người Việt hải ngoại trên khắp thế giới.

Những trang sử đó không nên bị xóa bỏ.

Bởi người đã chết bên này hay bên kia chiến tuyến, người chết trong chiến tranh, trong tù đày hay trên đường vượt biển — trước hết vẫn là những sinh mạng Việt Nam.

Một dân tộc muốn thật sự hòa giải phải đủ can đảm nhìn lại toàn bộ lịch sử của mình.


III. HƠN NỬA THẾ KỶ ĐÃ QUA — ĐÃ ĐẾN LÚC PHẢI HỎI

Sau một thời gian đủ dài, lịch sử có quyền đặt câu hỏi với những người cầm quyền.

Và người dân càng có quyền đặt câu hỏi về đất nước của mình.

Sau hơn nửa thế kỷ:

Việt Nam đã phát triển, nhưng người Việt Nam đã có đầy đủ những quyền căn bản tương xứng với phẩm giá con người hay chưa?

Những thành phố lớn hơn.

Những cao ốc mọc lên.

Đường sá mở rộng.

Công nghệ phát triển.

Đời sống vật chất của nhiều người được cải thiện.

Những thành quả ấy cần được nhìn nhận công bằng.

Nhưng phát triển kinh tế không thể thay thế tự do.

Con người không chỉ cần cơm ăn, áo mặc, nhà cửa và phương tiện.

Con người còn cần nhân phẩm.

Cần quyền suy nghĩ.

Cần quyền lên tiếng.

Cần quyền tin hoặc không tin.

Cần quyền thực hành tôn giáo.

Cần quyền hội họp và lập hội.

Cần quyền tham gia vào đời sống chính trị.

Cần quyền được xét xử công bằng.

Và trên hết, cần được sống trong một xã hội mà pháp luật đứng cao hơn quyền lực, chứ không phải quyền lực đứng cao hơn pháp luật.

Nhân quyền không phải món quà của một chính quyền ban cho dân chúng.

Nhân quyền thuộc về con người vì họ là con người.


IV. “NHÂN QUYỀN CHO NGƯỜI SỐNG — LINH QUYỀN CHO NGƯỜI CHẾT”

Trong lịch sử đấu tranh cho tự do tôn giáo và quyền con người tại Việt Nam, Đức Đệ Tứ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, đã để lại một lời hiệu triệu đầy sức lay động:

“NHÂN QUYỀN CHO NGƯỜI SỐNG

LINH QUYỀN CHO NGƯỜI CHẾT.”

Đó không chỉ là một khẩu hiệu.

Đó là một lời nhắc nhở về phẩm giá con người và trách nhiệm đối với lịch sử.

Nhân quyền cho người sống là để người đang sống được làm người trong ý nghĩa trọn vẹn nhất.

Được suy nghĩ mà không sợ hãi.

Được nói mà không phải tự kiểm duyệt lương tâm.

Được tin theo tôn giáo mình lựa chọn.

Được bất đồng mà không trở thành kẻ thù.

Được tham gia vào vận mệnh quốc gia mà không cần xin phép bất cứ ý thức hệ nào.

Còn linh quyền cho người chết là trả lại danh dự và sự công bằng cho những người không còn khả năng tự lên tiếng.

Người chết không thể viết lại lịch sử cho mình.

Người chết không thể tự bảo vệ danh dự.

Người chết không thể đứng lên đòi công lý.

Cho nên người sống có bổn phận giữ gìn sự thật.

Một dân tộc muốn hòa giải thật sự phải biết cúi đầu trước mọi nấm mồ của người Việt Nam.

Không hỏi người nằm xuống đã từng thuộc bên nào.

Không hỏi họ từng mặc màu áo nào.

Không hỏi họ đã từng đứng dưới lá cờ nào.

Bởi trước cái chết, họ đều trở về với thân phận chung:

Một con người.
Một người Việt Nam.

Không thể xây dựng hòa giải bằng sự lãng quên cưỡng bức.

Và cũng không thể xây dựng tương lai bằng cách bắt một phần ký ức của dân tộc phải im lặng.


V. NHỚ LỊCH SỬ — NHƯNG KHÔNG NUÔI HẬN THÙ

Điều này cần được nói thật rõ:

Nhắc lại lịch sử không phải để trả thù.

Đấu tranh cho nhân quyền không có nghĩa là căm ghét người khác quan điểm.

Đòi hỏi tự do không có nghĩa là kêu gọi bạo lực.

Người Phật tử lại càng không thể lấy sân hận để chữa trị sân hận.

Đức Phật đã dạy:

Hận thù không thể chấm dứt bằng hận thù.
Chỉ có không hận thù mới chấm dứt được hận thù.

Đó là định luật muôn đời.

Vì vậy, con đường cho Việt Nam không thể là một cuộc trả thù lịch sử.

Không phải thay một sự độc đoán bằng một sự độc đoán khác.

Không phải hôm qua người này bị bịt miệng thì ngày mai đến lượt người kia bị bịt miệng.

Không phải đổi bên thắng và bên thua.

Sinh lộ của dân tộc phải là con đường trong đó không còn người Việt nào cần phải thắng một người Việt khác để được làm người.

Chúng ta có thể phản đối một thể chế mà không thù ghét những con người sống trong thể chế ấy.

Có thể phê phán một chính sách mà vẫn tôn trọng nhân phẩm của người khác.

Có thể bất đồng quyết liệt mà không biến nhau thành kẻ thù.

Đó mới là văn hóa của tự do.


VI. NGƯỜI VIỆT QUỐC NỘI VÀ HẢI NGOẠI — CHÚNG TA CHỈ CÓ MỘT QUÊ HƯƠNG

Người Việt trong nước và người Việt hải ngoại đã sống trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau.

Nhưng chúng ta chỉ có một quê hương Việt Nam.

Đừng để địa lý chia cắt tình tự dân tộc.

Đừng để những vết thương của thế hệ trước trở thành hận thù truyền lại cho thế hệ sau.

Nhưng cũng đừng nhân danh hòa giải để bắt người khác phải quên lịch sử.

Hòa giải không phải là quên.
Hòa giải là nhớ mà không trả thù.

Người trong nước có kinh nghiệm của người đang trực tiếp sống với thực trạng đất nước.

Người hải ngoại có kinh nghiệm về những xã hội dân chủ, pháp quyền và tự do.

Hai kinh nghiệm ấy không cần chống lại nhau.

Chúng có thể gặp nhau trong một khát vọng chung:

Một Việt Nam tốt đẹp hơn.

Đặc biệt, thế hệ trẻ Việt Nam cần được quyền đọc.

Quyền tìm hiểu.

Quyền đặt câu hỏi.

Quyền tiếp cận những nguồn sử liệu khác nhau.

Và cuối cùng:

Quyền tự mình suy nghĩ.

Một dân tộc trưởng thành không sợ sự thật.

Một chính quyền vững mạnh không sợ câu hỏi của người dân.

Một xã hội tự tin không sợ những tiếng nói khác biệt.


VII. KIÊN ĐỊNH NHƯNG KHÔNG CỰC ĐOAN

Nếu muốn mở một sinh lộ cho Việt Nam, chúng ta cần giữ một thái độ:

Kiên định nhưng không cực đoan.
Bất khuất nhưng không thù hận.
Nhớ lịch sử nhưng không làm tù nhân của lịch sử.
Đòi công lý nhưng không từ bỏ lòng từ bi.

Người Phật tử hiểu rằng:

Các pháp hữu vi đều vô thường.

Quyền lực cũng vô thường.

Chế độ chính trị cũng vô thường.

Những gì sinh khởi do điều kiện rồi cũng biến đổi khi điều kiện thay đổi.

Nhưng hiểu vô thường không có nghĩa là khoanh tay ngồi chờ lịch sử.

Mỗi người đều có trách nhiệm đối với thời đại mình đang sống.

Người cầm bút hãy viết bằng lương tâm.

Người nghiên cứu hãy trung thành với sự thật.

Người trẻ hãy học và biết đặt câu hỏi.

Người có tiếng nói hãy bảo vệ người không thể lên tiếng.

Người đang sống trong những xã hội tự do hãy biết quý trọng tự do và hiểu rằng tự do luôn đi đôi với trách nhiệm.

Và người Phật tử hãy đem Từ bi và Trí tuệ vào mọi hoạt động xã hội.


VIII. SÀI GÒN VẪN VẬY…

NHƯNG VIỆT NAM KHÔNG THỂ ĐỨNG YÊN

“Sài Gòn vẫn vậy…”

Vâng.

Sài Gòn vẫn có những buổi sáng đầy nắng.

Vẫn có những cơn mưa bất chợt.

Vẫn có những hàng cây.

Vẫn có những quán cà phê.

Vẫn những ngã tư đông nghịt người.

Vẫn dòng xe cuồn cuộn trong buổi chiều.

Nhưng dưới cái vẻ “vẫn vậy” ấy, lịch sử chưa bao giờ đứng yên.

Một thế hệ đi qua.

Một thế hệ khác trưởng thành.

Những câu hỏi hôm qua chưa được trả lời sẽ được thế hệ ngày mai đặt lại.

Những trang sử từng bị đóng kín sẽ có người mở ra.

Những con người từng bị lãng quên sẽ có người nhắc tên.

Bởi người ta có thể buộc một con người im lặng.

Có thể buộc nhiều người im lặng.

Có thể duy trì sự im lặng trong một thời gian rất dài.

Nhưng không thể bắt ký ức và lương tri của cả một dân tộc im lặng mãi mãi.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua những thời kỳ ngoại thuộc kéo dài hàng thế kỷ.

Đã trải qua chế độ thuộc địa.

Đã trải qua chiến tranh.

Đã trải qua chia cắt.

Tất cả rồi trở thành lịch sử.

Và những thể chế chính trị hôm nay, dù mạnh đến đâu, cuối cùng cũng chỉ là một giai đoạn trong dòng trường lưu của lịch sử Việt Nam.

Vì thế, câu hỏi quan trọng nhất không phải là:

Ai sẽ thắng?

Mà phải là:

Việt Nam rồi sẽ trở thành một đất nước như thế nào?

Một đất nước tiếp tục mang những vết thương của quá khứ?

Hay một đất nước biết chữa lành bằng sự thật và lòng bao dung?

Một xã hội nơi con người sợ quyền lực?

Hay một xã hội nơi quyền lực phải tôn trọng con người?

Một đất nước mà người khác chính kiến bị xem là kẻ thù?

Hay một đất nước mà những người bất đồng vẫn có thể ngồi chung với nhau dưới một mái nhà Việt Nam?

Tôi mong rằng câu trả lời của lịch sử sẽ là:

Một Việt Nam tự do hơn.
Một Việt Nam nhân bản hơn.
Một Việt Nam thượng tôn pháp luật hơn.
Một Việt Nam biết tôn trọng phẩm giá của mọi con người.

Và trên con đường ấy, xin đừng quên lời hiệu triệu:

NHÂN QUYỀN CHO NGƯỜI SỐNG

LINH QUYỀN CHO NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

Không phải để trả thù.

Không phải để đào sâu chia rẽ.

Không phải để tạo thêm một bên thắng và một bên thua.

Mà để trả lại phẩm giá cho con người, sự thật cho lịch sử và tương lai cho dân tộc.

Sài Gòn vẫn nắng.

Sài Gòn vẫn đông.

Sài Gòn vẫn những ngã tư tấp nập.

Nhưng đừng vì hôm nay thấy mọi thứ “vẫn vậy” mà nghĩ rằng ngày mai nhất định vẫn vậy.

Lịch sử dài hơn một đời người.

Dân tộc trường tồn hơn mọi chế độ.

Và khát vọng được sống trong tự do, nhân phẩm và công lý của con người không thể bị chôn vùi mãi mãi.

Cho nên:

Hãy giữ ký ức — nhưng đừng giữ hận thù.

Hãy tìm sự thật — nhưng đừng đánh mất từ bi.

Hãy đòi công lý — nhưng đừng từ bỏ hòa giải.

Hãy bảo vệ tự do của mình — đồng thời tôn trọng tự do của người khác.

Và người Việt Nam, dù đang ở Sài Gòn, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, hay đang sống nơi bất cứ chân trời nào trên thế giới, hãy cùng hướng về một sinh lộ cho quê hương:

SỰ THẬT

NHÂN QUYỀN

TỪ BI

TRÍ TUỆ

BẤT BẠO ĐỘNG

HÒA GIẢI DÂN TỘC

Đó không phải là con đường của riêng người trong nước hay người hải ngoại.

Không phải con đường độc quyền của một tổ chức, một tôn giáo hay một đảng phái.

Đó phải là con đường của Dân tộc Việt Nam.

Và nếu một ngày Việt Nam có thể bước đi trên con đường ấy, thì chiến thắng lớn nhất sẽ không phải là chiến thắng của bên này đối với bên kia.

Mà là:

DÂN TỘC VIỆT NAM ĐÃ CHIẾN THẮNG ĐƯỢC SỢ HÃI, HẬN THÙ VÀ CHIA RẼ TRONG CHÍNH MÌNH.

Đó mới là một chiến thắng xứng đáng để trao lại cho các thế hệ mai sau.

Bản này tôi chủ ý để “Nhân quyền cho người sống – Linh quyền cho người đã khuất” trở thành trục đạo lý của toàn bài, còn đoạn kết đưa tư tưởng về lại giáo lý Phật giáo: chiến thắng cao quý nhất không phải thắng một phe phái, mà là thắng sợ hãi, hận thù và chia rẽ. Đây cũng là điểm giúp thông điệp mạnh mà vẫn giữ được Từ bi và tinh thần bất bạo động.

Certainly. Here is the polished English version, preserving the historical reflection, Buddhist spirit, and emphasis on human rights, nonviolence, and national reconciliation.

SAIGON REMAINS THE SAME…

BUT HISTORY KEEPS MOVING, AND THE VIETNAMESE NATION MUST FIND A PATH FORWARD

A friend of mine wrote:

“Saigon in early August. Saigon remains the same—still sunny, still crowded, still filled with bustling intersections. Some things never seem to change, and perhaps that is precisely why they remain forever in our memories…”

Such simple and gentle words.

Yet after reading them, I found myself reflecting for a long time.

Saigon remains the same…

Still sunshine.
Still rain.
Still crowded streets.
Still bustling intersections.
Still the restless rhythm of a city that has witnessed so many upheavals of history.

But has everything truly remained the same?

More than half a century has passed since 1975.

One generation has grown old.

Another has passed away.

New generations have been born and raised.

Millions of Vietnamese have left their homeland and built new lives throughout the world. Yet wherever they may live, many still carry within their hearts a Vietnam to love, a Saigon to remember, and questions of history that have never truly been laid to rest.

And so, from those simple words—“Saigon remains the same”—I would like to invite Vietnamese people, both at home and abroad, to reflect upon a much larger question:

More than half a century has passed since the war ended. But how far has the Vietnamese nation truly traveled on the road toward Freedom, Human Rights, Justice, and Reconciliation?


I. THE NATION ENDURES — EVERY POLITICAL REGIME IS ONLY A CHAPTER IN HISTORY

The history of Vietnam is the history of a people who have endured repeated trials and yet survived.

Our ancestors lived through centuries of domination by successive Chinese dynasties.

Our country later endured nearly a century of French colonial rule.

Measured against a single human life, one hundred years is already an extraordinarily long time; a thousand years may seem almost eternal.

Yet history teaches us one enduring lesson:

No political power lasts forever.

Dynasties change.

Colonial empires withdraw.

Wars eventually end.

Systems once thought unshakable eventually transform or disappear.

Only the Nation continues its journey.

Therefore, when we look at history, we should not merely ask:

How long has a government remained in power?

We must also ask:

How were the people permitted to live during that time?

Were they able to live with dignity?

Were they free to express their thoughts?

Were they free to practice their religion and beliefs?

Could they disagree without living in fear?

Could they participate meaningfully in determining the destiny of their country?

And could they live under a system of law in which both citizens and those who govern were equally accountable?

These are the questions that history ultimately asks of every government.


II. FROM 1945 TO 1975 — A NATION THAT PAID AN ENORMOUS PRICE

The year 1945 opened a new chapter in Vietnamese history.

But the aspiration for national independence soon became entangled in war, ideology, and the international confrontation of the Cold War.

The country was divided.

North and South followed two different political systems.

Vietnamese fought Vietnamese on their own homeland, in a war deeply affected by the involvement of major international powers.

The Paris Peace Accords of January 27, 1973, offered hope that the conflict might finally be resolved through political means.

But peace did not take hold.

The war continued.

On April 30, 1975, the government of the Republic of Vietnam collapsed. The country was subsequently unified under the leadership of the Communist Party of Vietnam.

But territorial reunification does not automatically bring reconciliation to the hearts of a people.

After the war came the so-called “reeducation camps.”

Families were separated.

People lost homes, property, opportunities, and futures.

There were escapes across borders and dangerous journeys by sea.

There were tiny boats drifting upon vast oceans.

There were people who departed their homeland but never reached another shore.

And from that exodus emerged Vietnamese communities throughout the world.

These pages of history should never be erased.

For whether people died on one side or the other, whether they died in war, imprisonment, or while fleeing across the sea, they were first and foremost Vietnamese human lives.

A nation that genuinely seeks reconciliation must possess the courage to confront the whole of its history.


III. MORE THAN HALF A CENTURY HAS PASSED — THE QUESTIONS MUST BE ASKED

After a sufficiently long period of time, history has the right to question those who govern.

And the people have an even greater right to ask questions about their own country.

After more than half a century:

Vietnam has developed—but have the Vietnamese people obtained the fundamental rights worthy of human dignity?

Cities have grown.

High-rises have appeared.

Roads have expanded.

Technology has advanced.

The material lives of many people have improved.

Those achievements should be acknowledged fairly.

But economic development cannot substitute for freedom.

Human beings need more than food, clothing, housing, and material comfort.

Human beings also need dignity.

The freedom to think.

The freedom to speak.

The freedom to believe—or not to believe.

Freedom of religion.

Freedom of association and peaceful assembly.

The right to participate in public and political life.

The right to a fair judicial process.

And above all, the right to live in a society where law stands above political power, rather than political power standing above the law.

Human rights are not gifts bestowed upon the people by a government.

Human rights belong to human beings because they are human beings.


IV. “HUMAN RIGHTS FOR THE LIVING — SPIRITUAL RIGHTS FOR THE DEAD”

In the history of the struggle for religious freedom and human dignity in Vietnam, the Fourth Supreme Patriarch of the Unified Buddhist Church of Vietnam, Most Venerable Thích Huyền Quang, left behind a deeply moving appeal:

“HUMAN RIGHTS FOR THE LIVING

SPIRITUAL RIGHTS FOR THE DEAD.”

This is more than a slogan.

It is a reminder of human dignity and our responsibility toward history.

Human rights for the living means allowing those who are alive to live fully as human beings.

To think without fear.

To speak without being forced to silence their conscience.

To follow the religion of their choice.

To disagree without being treated as an enemy.

To participate in shaping the destiny of their country without having to submit their conscience to any ideology.

And spiritual rights for the dead means restoring dignity, remembrance, and justice to those who can no longer speak for themselves.

The dead cannot rewrite history.

The dead cannot defend their honor.

The dead cannot stand before us and demand justice.

Therefore, the living have a responsibility to preserve the truth.

A nation seeking genuine reconciliation must be able to bow respectfully before every grave of a Vietnamese person.

Without first asking which side that person belonged to.

Without asking what uniform they once wore.

Without asking under which flag they once stood.

Because before death, all return to the same fundamental condition:

A human being.
A Vietnamese person.

Reconciliation cannot be built upon enforced forgetting.

Nor can a common future be built by demanding that part of a nation’s memory remain forever silent.


V. REMEMBER HISTORY — BUT DO NOT CULTIVATE HATRED

This must be stated clearly:

Remembering history is not an invitation to revenge.

Advocating human rights does not mean hating those who hold different views.

Calling for freedom does not mean calling for violence.

And Buddhists, above all, cannot attempt to cure hatred with hatred.

The Buddha taught:

Hatred is never ended by hatred.
By non-hatred alone is hatred ended.

This is an eternal law.

Therefore, the path forward for Vietnam cannot be a path of historical revenge.

We must not replace one form of authoritarianism with another.

We must not say that because one person was silenced yesterday, another should be silenced tomorrow.

We must not simply reverse the roles of victor and vanquished.

The true path forward must lead to a Vietnam in which no Vietnamese person needs to defeat another Vietnamese person in order to possess human dignity.

We may oppose a political system without hating the human beings who live within it.

We may criticize policies while respecting the dignity of those who disagree with us.

We may disagree profoundly without turning one another into enemies.

That is the culture of genuine freedom.


VI. VIETNAMESE AT HOME AND ABROAD — WE HAVE ONLY ONE HOMELAND

Vietnamese living inside the country and Vietnamese living overseas have experienced very different historical circumstances.

But we share one Vietnamese homeland.

Let geography not divide our national bonds.

Let the wounds of one generation not become inherited hatred in the next.

But neither should reconciliation be used as a reason to demand that people forget history.

Reconciliation does not mean forgetting.
Reconciliation means remembering without seeking revenge.

Vietnamese living inside the country possess the experience of those who directly live with the realities of Vietnam today.

Vietnamese overseas possess experience of democratic societies, the rule of law, and civil liberties.

These experiences need not oppose each other.

They can meet in one shared aspiration:

A better Vietnam.

The younger generations of Vietnamese, in particular, should have the right to read.

The right to learn.

The right to ask questions.

The right to examine different historical sources.

And ultimately:

The right to think for themselves.

A mature nation does not fear the truth.

A strong government does not fear questions from its citizens.

A confident society does not fear differing voices.


VII. STEADFAST, BUT NOT EXTREME

If we wish to open a path forward for Vietnam, we must cultivate a particular spirit:

Steadfast, but not extreme.
Unyielding in principle, but without hatred.
Remembering history, but not becoming prisoners of history.
Seeking justice, but never abandoning compassion.

Buddhists understand:

All conditioned things are impermanent.

Political power is impermanent.

Political systems are impermanent.

Whatever arises through conditions will change when those conditions change.

But understanding impermanence does not mean sitting passively and waiting for history to change by itself.

Every person bears responsibility for the age in which he or she lives.

Those who write should write with conscience.

Those who study history should remain faithful to truth.

Young people should learn and have the courage to ask questions.

Those who possess a voice should defend those who cannot speak.

Those fortunate enough to live in free societies should cherish freedom and understand that freedom always carries responsibility.

And Buddhists should bring Compassion and Wisdom into every form of social engagement.


VIII. SAIGON REMAINS THE SAME…

BUT VIETNAM CANNOT STAND STILL

“Saigon remains the same…”

Yes.

Saigon still has its bright mornings.

Its sudden rainstorms.

Its tree-lined streets.

Its coffee shops.

Its crowded intersections.

Its endless streams of traffic in the afternoon.

But beneath the appearance that everything “remains the same,” history has never stopped moving.

One generation passes.

Another comes of age.

Questions left unanswered yesterday will be asked again tomorrow.

Pages of history once kept closed will eventually be opened.

People once forgotten will someday have their names spoken again.

For it may be possible to force one person into silence.

It may be possible to silence many people.

It may even be possible to maintain silence for a very long time.

But the memory and conscience of an entire nation cannot be silenced forever.

The Vietnamese nation endured centuries of foreign domination.

It endured colonialism.

It endured war.

It endured division.

All eventually became history.

And every political system that exists today, however powerful it may appear, will ultimately be only one chapter in the long river of Vietnamese history.

Therefore, the most important question is not:

Who will win?

The question must be:

What kind of country will Vietnam become?

A country that continues carrying the wounds of the past?

Or one that heals those wounds through truth and compassion?

A society in which human beings fear political power?

Or one in which political power is required to respect human beings?

A country where those with different political views are treated as enemies?

Or a country where people who profoundly disagree can still sit together beneath the common roof of Vietnam?

I hope history’s answer will be:

A freer Vietnam.
A more humane Vietnam.
A Vietnam governed more fully by the rule of law.
A Vietnam that respects the dignity of every human being.

And on that journey, let us never forget the appeal:

HUMAN RIGHTS FOR THE LIVING

SPIRITUAL RIGHTS FOR THE DEAD

Not for revenge.

Not to deepen division.

Not to create another victor and another defeated side.

But to restore dignity to human beings, truth to history, and a future to the nation.

Saigon remains sunny.

Saigon remains crowded.

Saigon still has its bustling intersections.

But because everything appears “the same” today, we must not assume that tomorrow must remain the same.

History is longer than a human lifetime.

The nation endures beyond every political regime.

And humanity’s aspiration to live in freedom, dignity, and justice cannot be buried forever.

Therefore:

Preserve memory—but do not preserve hatred.

Seek the truth—but do not lose compassion.

Seek justice—but do not abandon reconciliation.

Defend your own freedom—while respecting the freedom of others.

And whether Vietnamese people live in Saigon, Hanoi, Huế, Đà Nẵng, or anywhere else in the world, let us seek together a path forward for our homeland:

TRUTH

HUMAN RIGHTS

COMPASSION

WISDOM

NONVIOLENCE

NATIONAL RECONCILIATION

This is not a path belonging exclusively to Vietnamese at home or overseas.

It is not the exclusive path of any organization, religion, or political party.

It must be the path of the Vietnamese nation.

And if one day Vietnam can truly walk this path, the greatest victory will not be the victory of one side over another.

Rather, it will be this:

THE VIETNAMESE NATION HAS OVERCOME FEAR, HATRED, AND DIVISION WITHIN ITSELF.

That would be a victory truly worthy of passing on to the generations yet to come.

Address

6709 Howell Sugar Land Road
Houston, TX
77083

Opening Hours

Monday 8am - 8pm
Tuesday 8am - 8pm
Wednesday 8am - 8pm
Thursday 8am - 8pm
Friday 8am - 8pm
Saturday 8am - 8pm
Sunday 8am - 8pm

Telephone

+18327140800

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chua Lien Hoa Houston posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Chua Lien Hoa Houston:

Shortcuts

Share