Pháp Tu Theo Quán Thế Âm Bồ Tát

Pháp Tu Theo Quán Thế Âm Bồ Tát Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Pháp Tu Theo Quán Thế Âm Bồ Tát, Buddhist Temple, Houston, TX.

Tìm hiểu về PHÁP TU ĐỨC QUÁN THẾ ÂM vàThời khóa Tu Tập theo Đức Quán Thế Âm Hôm nay mình chia sẻ về Pháp Tu Đức Quán Thế...
02/01/2023

Tìm hiểu về PHÁP TU ĐỨC QUÁN THẾ ÂM và

Thời khóa Tu Tập theo Đức Quán Thế Âm

Hôm nay mình chia sẻ về Pháp Tu Đức Quán Thế Âm để mọi người Tu Tập và Hành Trì :

Mọi người đọc kỹ ạ , mình để Link mỗi mục cho mọi người dễ tìm và kết nối ,có gì không hiểu chia sẻ với mình ạ 🙏🙏🙏

Điều căn bản tu tập theo Phật Pháp là :

Quy Y Tam Bảo
Giữ Năm Giới
Tu Trì Thập Thiện

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=683358243326577&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

Sau đó : Tu Tập theo pháp môn Đức Quán Thế Âm

QUAN ÂM BỒ TÁT :

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=611180817210987&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

1️⃣Đầu tiên : tìm hiểu về Đức Quan Âm trong KINH PHỔ MÔN công hạnh và bổn nguyện của Ngài cứu giúp chúng sinh

Hành trì KINH PHỔ MÔN mỗi tuần để cầu bình an và tai nạn tiêu trừ ....

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=604271514568584&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

Sau khi hành trì KINH PHỔ MÔN

Nhớ lễ lạy 35 lạy đến 108 lạy mỗi ngày ,khi lễ lạy nhớ niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm

2️⃣Thứ hai : hành trì KINH NGŨ BÁCH DANH mỗi tháng lễ lạy 500 lạy và những ngày Vía của Đức Quán Thế Âm mình nên hành trì KINH NGŨ BÁCH DANH

3 ngày Vía của Đức Quán Thế Âm mỗi năm mình nên hành trì KINH NGŨ BÁCH DANH

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=607684937560575&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

Ý Nghĩa lễ lạy KINH NGŨ BÁCH DANH

https://phatgiao.org.vn/amp/y-nghia-viec-le-lay-ngu-bach-danh-d42620.html?fbclid=IwAR2PC1ntxApRRaEBbFZWZmuzI86lK97F7vQsly715_Y2XwGnOQDr9ERLdeU

3️⃣Thứ ba : Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm 108 lần đến 1080 lần mỗi ngày giúp chúng ta định Tâm , khai mở trí tuệ .

Tìm hiểu về ý nghĩa và lợi ích của niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm hằng ngày .

Ý nghĩa:

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=644372037225198&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

Lợi ích :

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=616305376698531&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

4️⃣Thứ tư : Thần Chú của Đức Quán Thế Âm

OM MANI PADME HUM ( Án Ma Ni Bát Di Hồng )

Câu thần Chú vi diệu của Bồ Tát Quán Thế Âm giúp chúng ta khai mở trí tuệ , diệt trừ phiền não ........

https://fb.watch/hIOzrVjfIE/?mibextid=v7YzmG

CHÚ ĐẠI BI câu thần chú được mọi người trì tụng nhiều nhất và công năng gia trì của thần chú rất vi diệu giúp chúng ta tiêu trừ nghiệp chướng , tai qua nạn khỏi , bệnh tật , mọi người được sống an lạc và phát triển lòng TỪ BI ....

Tất cả về CHÚ ĐẠI BI :

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=667899238205811&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

BÁT NHÃ TÂM KINH bài chú được mọi người đọc tụng rất nhiều giúp khai mở TRÍ TUỆ, diệt trừ PHIỀN NÃO .....

Tất cả về BÁT NHÃ TÂM KINH :

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=675825997413135&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

CHÚ ĐẠI BI và BÁT NHÃ TÂM KINH là hai bài Chú được mọi người đọc tụng và hành trì rất nhiều trong các Kinh Điển Đại Thừa như :

KINH PHỔ MÔN
KINH NGŨ BÁCH DANH
KINH A DI ĐÀ
KNH DƯỢC SƯ
KINH NHẬT TỤNG
KINH LĂNG NGHIÊM
KINH TỪ BI THỦY SÁM PHÁP .....

CHÚ ĐẠI BI và BÁT NHÃ TÂM KINH là hai bài Chú giúp phát triển lòng TỪ BI và TRÍ TUỆ :

https://www.facebook.com/100049572223433/posts/677335103928891/?d=n&mibextid=qC1gEa

BẠCH Y THẦN CHÚ ( Kinh Cứu Khổ )

Là bản kinh được Đức Quán Thế Âm truyền lại cho hậu thế và được chuyên dùng để cứu khổ cho người đang còn sống, vượt qua được các khổ nạn.

Bạch Y Thần Chú ( Tiếng Việt )

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=678144260514642&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

Bạch Y Thần Chú ( Tiếng Phạn )

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=679626440366424&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

QUAN ÂM LINH CẢM CHÂN NGÔN Lợi Ích :

Đức Quán Thế Âm có lòng Đại Bi rất tha thiết, bi nguyện của Bồ Tát rất thâm sâu, công đức độ sanh của Bồ Tát lan rộng khắp mười phương.

Quan Âm Linh Cảm Chân Ngôn :

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=680450013617400&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

Người nào thành tâm trì tụng chú này thì liền được lòng Đại Bi của Bồ Tát chắc chắn ứng hộ.

5️⃣ Thứ Năm : hành trì KINH TỪ BI THỦY SÁM PHÁP mỗi tuần pháp sám hối giúp chúng ta chuyển hóa nghiệp chướng , thành tâm sám hối tội nghiệp tiêu trừ .......

Kinh Từ Bi Thủy Sám Pháp :

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=681226203539781&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

6️⃣ Thứ Sáu : Tìm hiểu về

3 ngày Vía của Đức Quán Thế Âm mỗi năm

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=630781078584294&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

12 Đại Nguyện Của Đức Quán Thế Âm

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=617108196618249&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

5 Thứ Quán của Bồ Tát Quán Thế Âm

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=648476810148054&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

33 Ứng Hóa Thân của Bồ Tát Quán Thế Âm

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=617960279866374&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

Quy tắc khấn niệm Bồ Tát Quán Thế Âm

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=649868890008846&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

7️⃣ Cuối cùng :

Tất cả về 𝐐𝐔𝐀́𝐍 𝐓𝐇𝐄̂́ 𝐀̂𝐌 𝐁𝐎̂̀ 𝐓𝐀́𝐓 - Ý nghĩa , sự tích , duyên khởi , hạnh nguyện , thần chú, ngũ quán .

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=659711679024567&id=100049572223433&mibextid=qC1gEa

Video tất cả về ĐỨC QUÁN THẾ ÂM :

https://fb.watch/hIOVWwngOn/?mibextid=qC1gEa

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật Tịnh Độ
Trên đền bốn ân nặng
Dưới cứu khổ ba đường
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát tâm Bồ Đề
Hết một báo thân này
Đồng sanh nước Cực Lạc.

_____________

PHÁP TU ĐỨC QUÁN THẾ ÂM

Điều đầu tiên tu tập theo Phật Pháp là :

Quy Y Tam Bảo
Giữ Năm Giới
Tu Trì Thập Thiện

Soạn Thời khóa tu tập theo pháp môn của Đức Quán Thế Âm trong tuần : tùy theo mỗi Bạn mà điều chỉnh cho thời khóa tu tập của mình.

Từ Thứ 2 đến Chủ Nhật , mỗi tháng và 3 ngày Vía Đức Quán Thế Âm
______________

THƯ 2 :

Hành trì KINH CỨU KHỔ ( Chú Đại Bi , Bát Nhã Tâm Kinh, Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn )

Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm 108 lần đến 1080 lần khi đi đứng nằm ngồi đều Niệm

Lễ lạy 35 đến 108 lạy ,khi lễ lạy nhớ niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm

THỨ 3 :

Hành trì KINH CỨU KHỔ ( Chú Đại Bi , Bát Nhã Tâm Kinh, Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn )

Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm 108 lần đến 1080 lần khi đi đứng nằm ngồi đều Niệm

Lễ lạy 35 đến 108 lạy ,khi lễ lạy nhớ niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm

THỨ 4 :

Hành trì KINH CỨU KHỔ ( Chú Đại Bi , Bát Nhã Tâm Kinh, Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn )

Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm 108 lần đến 1080 lần khi đi đứng nằm ngồi đều Niệm

Lễ lạy 35 đến 108 lạy ,khi lễ lạy nhớ niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm

THỨ 5 :

Hành trì KINH CỨU KHỔ ( Chú Đại Bi , Bát Nhã Tâm Kinh, Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn )

Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm 108 lần đến 1080 lần khi đi đứng nằm ngồi đều Niệm

Lễ lạy 35 đến 108 lạy ,khi lễ lạy nhớ niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm

THỨ 6 :

Hành trì KINH PHỔ MÔN (Chú Đại Bi , Bát Nhã Tâm Kinh )

Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm 108 lần đến 1080 lần khi đi đứng nằm ngồi đều Niệm

Lễ lạy 35 đến 108 lạy ,khi lễ lạy nhớ niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm

THỨ 7 :

Hành trì KINH PHỔ MÔN (Chú Đại Bi , Bát Nhã Tâm Kinh )

Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm 108 lần đến 1080 lần khi đi đứng nằm ngồi đều Niệm

Lễ lạy 35 đến 108 lạy ,khi lễ lạy nhớ niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm

CHỦ NHẬT :

Hành trì KINH TỪ BI THỦY SÁM (Chú Đại Bi , Bát Nhã Tâm Kinh )

Niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm 108 lần đến 1080 lần khi đi đứng nằm ngồi đều Niệm

Lễ lạy 35 đến 108 lạy ,khi lễ lạy nhớ niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm
_________________

Mỗi tháng nên hành trì KINH NGŨ BÁCH DANH, lễ lạy 500 danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm

3 ngày Vía của Đức Quán Thế Âm mỗi năm đều hành trì KINH NGŨ BÁCH DANH

_________________

Có thời gian thì tìm hiểu thêm về Phật Pháp , quý đạo hữu muốn tu tập thêm Bát Quan Trai càng tốt ạ 🙏🙏🙏

Chúc Các Quý Đạo Hữu Tu Tập Tinh Tấn An Lạc 🙏🙏🙏

TAM QUY , NGŨ GIỚI , THẬP THIỆNTam quy, Ngũ giới và Thập thiện là một trong những nội dung quan trọng của giáo lý Phật g...
02/01/2023

TAM QUY , NGŨ GIỚI , THẬP THIỆN

Tam quy, Ngũ giới và Thập thiện là một trong những nội dung quan trọng của giáo lý Phật giáo, có vai trò không chỉ làm cơ sở để ổn định tổ chức giáo hội, Tăng, Ni, chức sắc tôn giáo là còn là những điều răn dạy đối với các tín đồ Phật tử.

Pháp tu căn bản của Đạo Phật

Mục lục

1. Ý nghĩa của Tam quy
Quy Y Tam Bảo Phật Pháp Tăng

2. Ý nghĩa của Ngũ giới
Giữ 5 Giới theo nhà Phật

3. Ý nghĩa của Thập thiện
Tu Trì 10 Nghiệp Lành

1. Ý nghĩa của Tam quy

Tam quy nói cho đủ là quy y Tam Bảo. Quy y Tam Bảo còn gọi là pháp Tam quy y. Quy nghĩa là quay về, trở về; y nghĩa là nương tựa. “Quy y” là quay trở về nương tựa, “Tam Bảo” là ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng. Như vậy, Quy Y Tam Bảo nghĩa là quay về nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng. Bạn Quy y Tam Bảo thì trở thành Phật tử, chứ không phải Quy y là xuất gia cạo tóc lên chùa đâu nhé, vụ này rất nhiều người hiểu lầm.

Đức Phật là vị thầy đã khám phá ra và tuyên bố với thế giới luật cứu độ, đó là sự giải thoát khỏi nô lệ, sự thù hận và sự thiếu hiểu biết của chính mình. Pháp là luật pháp hay sự giải thoát chân thực và thực tế, và Tăng là cộng đồng Phật tử hoặc những người có tâm hướng về Phật.
Quy y Tam Bảo là bước đi chính thức đầu tiên trên con đường Phật giáo. Quy y là chúng ta tin vào Phật giáo và chúng ta đã trở thành đệ tử của Tam Bảo – Phật, Pháp và Tăng. Khi chúng ta quy y Tam Bảo, nó định hướng đức tin của chúng ta.
Khi một người quyết định quy y Tam Bảo, nó thể hiện một sự cam kết mạnh mẽ hơn trong cuộc đời để học hỏi, thực hành và thể hiện đức tính của đức Phật, Pháp và Tăng.
Vàng, bạc, kim cương và ngọc trai đều được coi là kho báu trong thế giới trần tục. Trong thế giới của Phật giáo, Đức Phật, Pháp và Tăng là những kho báu của chúng ta.
Bằng cách cam kết với Tam Bảo, chúng ta gặt hái được những lợi ích của những viên ngọc cao quý như vậy, cuối cùng mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích có ý nghĩa hơn bất kỳ loại đá quý nào có thể cung cấp.

Đức tin là một yếu tố giảng dạy quan trọng trong cả truyền thống Phật giáo Nguyên Thuỷ và Phật giáo Đại Thừa. Trái ngược với nhận thức các quan niệm về đức tin của phương Tây, đức tin trong Phật giáo phát sinh từ kinh nghiệm và lý luận tích lũy. Niềm tin vào đạo Phật là tập trung niềm tin vào Tam Bảo.

Quy Y Phật

Đức Phật đại diện cho sự giác ngộ. Nó đề cập đến một người thức tỉnh, người nhận ra bản chất thật của cuộc sống, người sẽ dạy cho chúng sinh nhận thấy sự thật đó và giải phóng họ bằng con đường được hướng dẫn đầy đủ.
Viên ngọc đầu tiên của Tam Bảo là Phật. Khá dễ nhớ, viên ngọc đầu tiên này không chỉ đơn thuần là người sáng lập Phật giáo. Vâng, điều đó là chính xác, tuy nhiên, nó có ý nghĩa rộng hơn.
Vì Đức Phật được cho là người đầu tiên thực sự hiểu được con đường giác ngộ, viên ngọc quý này cũng đồng nghĩa với việc hoàn thành giác ngộ. Vì vậy, khi một người Phật tử tuyên bố quy y Phật, có nghĩa là gửi gấm thân xác và tâm trí mình cho Đức Phật.
Nương tựa vào Phật không phải là để tìm sự an toàn trong một người mạnh mẽ. Nơi ẩn náu trong tình huống này giống như di chuyển đến một quan điểm mới, với một nhận thức mới về khả năng trong tất cả chúng ta.
Bằng cách trú ẩn trong Đức Phật, chúng ta liên kết với khả năng trở thành một vị Phật, để tìm kiếm khả năng đánh thức những gì mà đức Phật đã trải qua, những kinh nghiệm quý báu. Viên ngọc quý này nhắc nhở chúng ta tìm thấy bản chất Phật trong chúng ta.
Quy y Phật cũng có nghĩa là cam kết đạt được Phật Quả – Giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh, có nghĩa là bạn muốn trở thành một người nhìn thấy bản chất của thực tại hoàn toàn rõ ràng, đúng như nó đang tồn tại, và sống một cách tự nhiên theo đúng tầm nhìn đó. Đây là mục đích của đời sống tinh thần Phật giáo, đại diện cho sự chấm dứt của đau khổ cho bất cứ ai đạt được nó.

Quy Y Pháp

Viên ngọc thứ hai của Tam Bảo là Pháp. Rất đơn giản, đây là những lời dạy của Đức Phật. Đối với Phật tử, đó là những con đường dẫn đến chân lý. Làm theo những hướng dẫn để bước đi đúng đắn trên con đường giác ngộ. Dựa trên Tứ diệu đế của đức Phật, hoặc bốn đức tin cốt lõi mà theo đó Phật tử dựa trên, Pháp được biểu tượng bằng bánh xe Phật giáo.
Pháp là con đường đi theo lời dạy của Đức Phật và cuối cùng sẽ dẫn đến sự giác ngộ. Pháp dạy chúng ta lòng bi mẫn đối với bản thân và người khác thông qua sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế, nó dẫn đến sự giải thoát khỏi sợ hãi và vô minh.
Con đường bao gồm việc chấp nhận lời dạy của Đức Phật và áp dụng sự hiểu biết đó vào cuộc sống hằng ngày. Nói cách khác, nếu bạn làm theo những giáo lý này, bạn sẽ tìm thấy nơi ẩn náu trong Đức Phật.

Quy Y Tăng

Viên ngọc quý thứ ba và cuối cùng của Tam Bảo là Tăng Đoàn. Trong các giáo lý ban đầu của Phật giáo, Tăng đoàn là một thuật ngữ rất độc đáo dùng để chỉ các nhà sư, nữ tu và thầy giáo của Phật giáo. Tuy nhiên, khi đạo Phật phát triển, thuật ngữ đã được mở rộng bao gồm bất kỳ nhóm nào kết nối với nhau để thực hành về các giáo lý của Phật giáo.

Tăng trong tiếng Phạn có nghĩa là “cộng đồng trong sự hòa hợp”. Nó đề cập đến cộng đồng của tu sĩ (chư tăng ni) sống cùng nhau trong sự hòa hợp và cam kết cuộc sống của họ để học hỏi và giảng dạy pháp.
Tăng đoàn là một cộng đồng hài hòa theo hai cách: Họ có “sự hòa hợp về nguyên tắc” và “sự hòa hợp trong thực tế.” Về nguyên tắc, sự hoà hợp này có nghĩa là tất cả các tu sĩ đều nhận ra cùng một sự thật. Sự hoà hợp trong thực tế có nghĩa là hành động vật chất, lời nói và tinh thần của các tu sĩ phải tuân thủ sáu điểm của sự hòa hợp tôn kính này:
1. Sự hoà hợp trí tuệ bằng cách chia sẻ cùng một sự hiểu biết.
2. Sự hòa hợp đạo đức thông qua việc chia sẻ cùng một giới luật, như vậy mọi người đều phải tuân thủ các quy định như nhau.
3. Sự hòa hợp kinh tế thông qua việc chia sẻ mọi thứ vật chất và lợi ích bằng nhau.
4. Sự hòa hợp tinh thần thông qua hạnh phúc chia sẻ, thông qua một cam kết chung.
5. Sự hòa hợp bằng cách tránh những tranh chấp, bằng cách sử dụng lòng tốt trong bài diễn văn của một người.
6. Sự hòa hợp về thể xác qua việc sống cùng nhau, như vậy mọi người đều vui vẻ và không vi phạm nhau.
Tăng đoàn là một ngọn lửa lớn để tu luyện bản thân, kỷ luật nhân cách, và làm dịu tâm trí thành chánh kiến, như vậy, đây là một phương pháp tự lợi. Tăng đoàn còn có quyền truyền Pháp để giúp chúng sinh giải phóng bản thân, và ý nghĩa này có lợi cho người khác. Chúng ta có thể nhìn thấy tầm quan trọng của Tăng đoàn trong mỗi lĩnh vực này.
Nói một cách đơn giản, Đức Phật giống như một vị bác sĩ, Pháp như thuốc chữa bệnh, và Tăng đoàn giống như một nhóm y tá. Mỗi trong ba nhân tố này đều là những nhân tố quan trọng để giải phóng chúng sinh khỏi đau khổ. Không có thể thiếu nhân tố nào.
Chỉ khi một bệnh nhân có một bác sĩ giỏi, một loại thuốc thích hợp, và các y tá lành nghề, bệnh mới có thể được chữa trị. Điều này cũng đúng trong cuộc sống, chỉ khi dựa vào Đức Phật, Pháp và Tăng chúng ta có thể vui vẻ, giải phóng và thoát khỏi khổ đau.
Đức Phật, Pháp và Tăng được gọi là “đá quý” để thể hiện phẩm hạnh tối cao của họ, vì chúng vượt qua giá trị của tất cả các báu vật thế giới. Họ có thể giải toả nỗi đau tinh thần của chúng ta và dẫn chúng ta đến sự giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.
Điều này rất quan trọng vì Phật giáo không phải là một triết học hoặc tín ngưỡng trừu tượng, mà nó là một cách để tiếp cận cuộc sống và do đó, nó chỉ có ý nghĩa khi nó được thể hiện trong con người. Và theo nghĩa rộng nhất, Tăng đoàn có nghĩa là tất cả các Phật tử trên thế giới và tất cả những người hướng tâm trí của mình theo Phật giáo trong quá khứ và tương lai.

2. Ý nghĩa của Ngũ giới

1 Không được sát sanh
2 Không được trộm cướp
3 Không được tà dâm
4 Không được nói dối
5 Không được uống rượu

Sau khi chúng ta quy y Tam Bảo, cần phải thực hành những lời Phật dạy, những giới điều để ngăn ngừa việc ác, thúc liễm thân tâm, trau dồi đạo đức, nhân cách của người Phật tử. Khi đã quy y Tam Bảo, chúng ta chính thức là đệ tử của Phật. Đệ tử Phật phải học theo hạnh Phật, con phải giống cha. Phật là người đạo đức mẫu mực, chúng ta cũng phải có đạo đức. Đạo đức có từ oai nghi giới luật. Do vậy, người Phật tử phải giữ gìn năm giới cấm căn bản là: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Năm giới cấm này là nền tảng xây dựng tòa nhà hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội.
Phần lớn các giới điều trong Phật giáo đều bắt đầu bằng chữ “không”, trong đó có năm giới, tạo cảm giác tiêu cực, ép buộc hay cấm đoán mất tự do. Do vậy, thay vì nói “không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không dùng các chất làm say gây nghiện”, theo lời đức Phật giải thích, ta có thể mượn văn phong của thiền sư Nhất Hạnh diễn dịch năm giới thế này:

1.Giới thứ nhất: không sát sinh :

“Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con”.

2.Giới thứ hai: không trộm cắp :

“Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia sẻ thì giờ, năng lực và tài vật cua con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và muôn loài”.

3.Giới thứ ba: không tà dâm :

“Ý thức những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chánh sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa”.

4.Giới thứ tư: không nói dối :

“Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết rõ. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể”

5.Giới thứ năm: không dùng những chất làm say uống rượu và gây nghiệm :

“Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù và sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội”.
Để giữ gìn hạt giống trí tuệ, bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc của bản thân, đức Phật dạy người Phật tử không được uống rượu. Đó là giới thứ năm người Phật tử cần phải giữ.

3. Ý nghĩa của Thập thiện :

Thập thiện hay còn gọi là thập thiện nghiệp, thập thiện giới, thập thiện pháp. Tên gọi khác nhau là do tùy cách diễn nghĩa theo các phương diện ứng dụng. Chẳng hạn như khi chỉ nói riêng pháp số thì dùng danh từ thập thiện để chỉ cho mười điều thiện bao gồm: không sát sinh; không trộm cắp; không tà dâm; không vọng ngữ; không ỷ ngữ; không lưỡng thiệt; không ác khẩu; không tham lam; không sân giận; không si mê.
Người Phật tử tại gia phát tâm học Phật ngoài những điều căn bản quy y Tam bảo thọ trì năm giới cấm để trở thành đệ tử của Đức Phật đồng thời trở thành tín đồ chân chánh của Phật giáo, nếu như nhân duyên đầy đủ chúng ta nên tiến thêm một bước nữa, nên thọ trì Thập thiện giới pháp, để gieo duyên với Bồ tát đạo và trồng căn lành để đời sau được sinh lại làm người đầy đủ phước báo, hình tướng trang nghiêm, thông minh trí tuệ và điều quan trọng nhất là được gặp Phật pháp, thọ trì tịnh giới, tinh tấn tu trì đạt đến giải thoát giác ngộ.
Hòa thượng Thánh Nghiêm trong “Bồ Tát Giới Chỉ Yếu” dạy: “là người phàm phu trong dục giới, nếu như không thọ trì cấm giới, như muốn ngày sau sinh lại làm người là việc đã hết sức khó khăn, huống chi là giải thoát sinh tử cho đến thành Đẳng Chánh Giác.”
Trong “Thanh Tịnh Đạo Luận” chép: “Ưu bà tắc, Ưu bà di thường thọ trì Ngũ Giới, nếu như có khả năng nên học tu thập giới… đây là giới pháp của người tại gia.”.
Trong Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” chép: “Bồ tát có một pháp có thể đoạn trừ hết thảy các nghiệp khổ của ác đạo, những gì là một. Trong suốt ngày đêm luôn luôn nhớ nghĩ quan sát các điều lành, làm cho niệm lành ngày một thêm lớn, không còn một chút mảy may nào của tạp niệm bất thiện.
Như thế khiến cho các ác nghiệp vĩnh viễn bị đoạn trừ, thiện pháp được viên mãn. Thường được thân cận chư Phật, Bồ tát cùng với thánh chúng. Thiện Pháp được nói đây. Điều mà Trời, Người, Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, và Vô Thượng Bồ Đề đều tu theo pháp này… tức là mười điều lành vậy.”
Mười điều lành đối với Phật giáo có tính chất vô cùng quan trọng trong vấn đề cốt lõi của Phật giáo về tín ngưỡng, ác nghiệp và thiện nghiệp, là duyên khởi của tư tưởng “Nghiệp Cảm”.
Ác thì phải chịu khổ báo, thiện thì được quả lành, duyên khởi lập luận “Nhân quả” của Phật giáo được hình thành từ chân lý này. Trong Luận “A Tỳ Đàm Tỳ Bà Sa” Phẩm Bất Thiện chép: “Tu hành mà tạo nghiệp sát sinh thì sinh vào Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, cho đến tà kiến cũng như vậy.”. Trong Kinh “Biệt Thích Tạp A Hàm” chép: “Như các thiện pháp này, là pháp thanh tịnh của mười nghiệp lành, nếu như người nào có thể tu hành, nhất định được sinh thiên”.
Mười nghiệp lành là nền móng vững chắc của hạnh tu Bồ tát đạo trong Kinh “Thập Trụ” Phẩm Ly Cấu Địa chép: “Nói Bồ tát thường hộ trì mười nghiệp lành nhân vì tu mười Điều Lành có thể sinh làm người và trời…
Nếu như tu mười nghiệp lành thanh tịnh cụ túc, đối với chúng sinh khởi tâm đại từ bi, không lìa hết thảy chúng sinh mà cầu trí tuệ rộng lớn của Phật, đây là bậc đại thừa Bồ tát vậy… cho đến thanh tịnh các pháp Ba la mật, thâm nhập vào các hạnh lành rộng lớn… cho đến thành Phật.”
Mười nghiệp lành không những ngăn giữ chúng sanh khỏi bị đọa lạc vào bốn con đường đau khổ, mà còn mở cánh cửa thênh thang hạnh phúc an vui của phước báu nhân thiên sang cả. Mười nghiệp lành thường quyết định duyên lành, làm cho thông minh sáng láng, học hành thành đạt, sự nghiệp hanh thông, gia đình ấm êm và cả trí tuệ thông hiểu con đường xuất ly ba cõi nữa.
Người Phật tử sau khi thọ Tam quy, Ngũ giới, Bát quan trai giới thì nên tu tập thêm thập thiện nghiệp để làm hành trang, tư lương tối thắng cho mình giữa thế gian cát bụi, lắm nghiệt ngã và nhiều khổ đau này. Và thập thiện nghiệp ấy là gì?

Thứ nhất: Vĩnh viễn trừ bỏ nghiệp sát sanh các loài hữu tình
Thứ hai: Vĩnh viễn từ bỏ trộm cắp của cải, dù là nhặt được hay của người khác
Thứ 3: Vĩnh viên từ bỏ niệm tà dâm, tà hạnh
Thứ 4: Vĩnh viễn từ bỏ nói dối, thêu dệt
Thứ 5: Vĩnh viễn từ bỏ lời nói vu oan, vu cáo
Thứ 6: Từ bỏ lời nói cộc cằn, thô lỗ
Thứ 7: Từ bỏ lời nói nhảm nhí, phù phiếm
Thứ 8: Từ bỏ tham lam
Thứ 9: Từ bỏ sân hận, thù oán
Thứ 10: Từ bỏ tà kiến

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 🙏🙏

KINH TỪ BI THỦY SÁM PHÁP "Tội từ tâm khởi cũng từ tâm diệt Tội diệt tâm không cả hai đều hết""Nguyện nghiệp chướng, báo ...
02/01/2023

KINH TỪ BI THỦY SÁM PHÁP

"Tội từ tâm khởi cũng từ tâm diệt
Tội diệt tâm không cả hai đều hết"

"Nguyện nghiệp chướng, báo chướng,
Phiền não chướng, ba chướng tiêu trừ.
Nguyện tân duyên, cựu duyên,
Oan trái duyên, mọi duyên giải thoát."

PHÁP TỪ BI THUỶ SÁM là pháp Sám Hối đến chư Phật Bồ Tát Hộ Pháp

Tất cả chư Phật, vì thương xót chúng sanh, nói pháp lập đàn Thủy Sám. Chúng sanh vì nghiệp cấu nặng nề nên không một ai tránh khỏi tội lỗi. Những kẻ phàm phu bị màn vô minh che lấp, gần gũi bạn ác, phiền não loạn tâm, tánh không hiểu biết, nên cứ buông lòng tự thị, không tin tưởng mười phương chư Phật, không tin tôn Pháp, cùng các bậc Thánh Tăng, bất hiếu cha mẹ, không kính nhườmg bà con. Tuổi trẻ phóng túng, kiêu căng ngạo mạn, đối với các vật quý báu, các thứ ca nhạc, các sắc đẹp trai gái thường sanh tâm tham luyến, ý khởi phiền não, lân la với người hư, tập tành theo bạn ác, không biết chừa đổi. Hoặc giết hại các giống sanh linh, hoặc uống rượu mê man mất hết trí tuệ, rồi thường cùng với chúng sanh tạo nghiệp phá giới. Những tội lỗi ở quá khứ, cùng tội ác ở hiện tại ngày nay chí thành xin Sám hối hết thảy, còn các tội lỗi về sau không dám làm nữa.

Bởi thế hôm nay chúng con dốc lòng thành kính quy y hết thảy các Đức Phật, các vị đại Bồ Tát, Bích Chi, La Hán, Phạm Vương, Đế Thích, Thiên long , Bát bộ và tất cả Thánh chúng trong mười phương hư không thế giới cầu xin rủ lòng chứng giám.....

KINH TỪ BI THỦY SÁM PHÁP

https://tuvienphuocduc.org/kinh/tu_bi_thuy_sam_phap.pdf

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát 🙏🙏🙏

QUAN ÂM LINH CẢM CHÂN NGÔN trong Thập ChúThần Chú của Đức Quan Thế Âm OM MANI PADME HUM , MAHÀ JNÀNA, KETU SAVÀDA, KETU ...
02/01/2023

QUAN ÂM LINH CẢM CHÂN NGÔN trong Thập Chú

Thần Chú của Đức Quan Thế Âm

OM MANI PADME HUM , MAHÀ JNÀNA, KETU SAVÀDA, KETU SÀNA,
VIDHÀRIYA, SARVÀRTHA, PARISÀDHAYA, NÀPURNA, NÀPARI, UTTÀPANÀ, NAMAH LOKE’SVARÀYA, SVÀHÀ.

Âm Hán:

Án ma ni bát di hồng, ma hắt nghê nha nạp, tích đô đặt ba đạt, tích đặt ta nạp, vi đạt rị cát, tát nhi cáng nhi tháp, bốc rị tất tháp cát, nạp bổ ra nạp, nạp bốc rị, thưu thất ban nạp, nại ma lô kiết thuyết ra gia, tóa ha.

Nghĩa:

OM MA NI BÁT MÊ HÙM là tính chất mầu nhiệm của cây phướng Đại Trí. Hãy ngồi dưới cây phướng ấy, xa lìa mọi sự chấp giữ mà thành tựu trong khắp các cõi. Hãy luyện các căn cho thanh tịnh để thành tựu viên mãn các pháp và siêu việt tất cả. Con xin quy mạng công đức nội chứng của Đức Thế Tự Tại. Nguyện cho con được thành tựu như Ngài.

Xuất Xứ:

Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương
Phật bảo Trừ Cái Chướng Bồ Tát rằng: Sáu chữ Ðại Minh Ðà La Ni này khó được gặp gỡ, nếu có người nào được sáu chữ Ðại Minh Vương đây, thì người đó tham, sân, si, độc không thể nhiễm ô. Nếu đeo mang trì giữ nơi thân, người đó cũng không nhiễm trước bịnh ba độc. Chơn ngôn này vô lượng tương ưng, với các Như Lai mà còn khó biết, huống gì Bồ Tát làm thế nào biết được. Ðây là chỗ bổn tâm vi diệu của Quán Tự Tại Bồ Tát.

Lợi Ích

Đức Quán Thế Âm có lòng Đại Bi rất tha thiết, bi nguyện của Bồ Tát rất thâm sâu, công đức độ sanh của Bồ Tát lan rộng khắp mười phương.

Người nào thành tâm trì tụng chú này thì liền được lòng Đại Bi của Bồ Tát chắc chắn ứng hộ.

Nghi thức hành trì BẠCH Y THẦN CHÚ (Kinh Cứu Khổ)Bản Tiếng PhạnBẠCH Y THẦN CHÚ ( Tiếng Phạn )PANDARA VASINI DHARANI Namo...
02/01/2023

Nghi thức hành trì BẠCH Y THẦN CHÚ (Kinh Cứu Khổ)

Bản Tiếng Phạn

BẠCH Y THẦN CHÚ ( Tiếng Phạn )

PANDARA VASINI DHARANI

Namo Buddhaya
Namo Dharmaya
Namo Samghaya

Namo Aryavalokitesvara Boddhisattva Mahasattva Mahakarunikaya Tadyatha :

Om Garavata Garavata Gahamvata Rajavata Rajavata Svaha

BẠCH Y THẦN CHÚ ( Tiếng Hán Việt )

Bạch Y Quán Thế Âm Đại Sĩ Linh Cảm Thần Chú
Nam Mô Đại Bi cứu khổ cứu nạn, quảng đại linh cảm, Bạch Y Quán Thế Âm Bồ Tát.

Nam Mô Phật,
Nam Mô Pháp,
Nam Mô Tăng.

Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát. Đát chỉ đá.

Án dà la phạt đá. Dà la phạt đá. Dà ha phạt đá. La dà phạt đá. La dà phạt đá, ta ha.

Thiên la thần, địa la thần, nhân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần. (3 lần)

KINH CỨU KHỔ

THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHÂN NGÔN ( Tiếng Phạn )

SAPTA BUDDHA KSAYA DHARANI

Ripa Ripate, Kuha Kuhate, Tranite, Nigālate, Vimarite, Mahagate , Jamlamcamte Svāhā.

THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHÂN NGÔN ( Tiếng Hán Việt )

Kim bà Kim bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế, ma ha dà đế, chơn lăng càng đế, ta bà ha.

BẠCH Y THẦN CHÚ ( Kinh Cứu Khổ )Bản thứ 2 Nghi Thức Hành Trì BẠCH Y THẦN CHÚ ( Kinh Cứu Khổ )Công dụng và ý nghĩa khi tr...
02/01/2023

BẠCH Y THẦN CHÚ ( Kinh Cứu Khổ )

Bản thứ 2

Nghi Thức Hành Trì BẠCH Y THẦN CHÚ ( Kinh Cứu Khổ )

Công dụng và ý nghĩa khi trì tụng BẠCH Y THẦN CHÚ ( Kinh Cứu Khổ ) :

Kinh Cứu Khổ là bản kinh được Đức Quán Thế Âm truyền lại cho hậu thế và được chuyên dùng để cứu khổ cho người đang còn sống, vượt qua được các khổ nạn.
Bản kinh được bổ sung vào kho tàng kinh điển Phật Giáo ở lần kết tập lại kinh sách sau khi Đức Phật đã tịch diệt.
Thường xuyên trì tụng bản kinh này có thể giúp mình và người mình cầu nguyện dần được thanh tịnh thân tâm, hồi hướng về điều thiện lành, sớm được giải thoát khỏi các sự khổ, tai ương, nạn ách, tật bệnh…
Thân gửi đến quý bạn bản trì tụng và bản diễn nghĩa bài kinh Cứu Khổ, nguyện cho tất cả mọi công phu hành trì được thành tựu, viên mãn.

BẠCH Y THẦN CHÚ

Bạch Y Quán Thế Âm Đại Sĩ Linh Cảm Thần Chú
Nam Mô Đại Bi cứu khổ cứu nạn, quảng đại linh cảm, Bạch Y Quán Thế Âm Bồ Tát.

Nam Mô Phật,
Nam Mô Pháp,
Nam Mô Tăng.

Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát.
Đát chỉ đá.

Án dà la phạt đá. Dà la phạt đá. Dà ha phạt đá. La dà phạt đá. La dà phạt đá, ta ha.

Thiên la thần, địa la thần, nhân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần. (3 lần)

KINH CỨU KHỔ

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát (3 lần).

Nam Mô cứu khổ, cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát

Nam Mô Phật,
Nam Mô Pháp,
Nam Mô Tăng.

Bá thiên vạn ức Phật, hằng hà sa số Phật, vô lượng công đức Phật.

Phật cáo A Nan ngôn, thử kinh Đại Thánh,
Năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai bá nạn khổ.
Nhược hữu nhơn tụng đắc nhất thiên biến, nhứt thân ly khổ nạn,
Tụng đắc nhứt vạn biến, hiệp gia ly khổ nạn.
Nam mô Phật lực oai, Nam mô Phật lực hộ,
Sử nhơn vô ác tâm linh, nhơn thân đắc độ,
Hồi quang Bồ Tát, hồi thiện Bồ Tát,
A Nậu Đại Thiên Vương chánh điện Bồ Tát,
Ma kheo ma kheo thanh tịnh tỳ kheo,
Quan sự đắc tán, tụng sự đắc hưu,
Chư Đại Bồ Tát, ngũ bá A La Hán,
Cứu hộ đệ tử… nhứt thân ly khổ nạn.
(Cứu hộ đệ tử cả chúng sanh thoát ly khổ nạn.)
Tự ngôn Quan Thế Âm,Anh lạc bất tu giải,Cần độc thiên vạn biến tai nạn tự nhiên đắc giải thoát,

Tín thọ phụng hành, tức thuyết Chơn Ngôn viết:

Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn :

Kim Ba Kim Ba Đế,
Cầu Ha Cầu Ha Đế,
Đa La Ni Đế,
Ni Ha La Đế,
Tì Lê Ni Đế,
Ma Ha Dà Đế,
Chơn Lăng Càn Đế,
Ta bà ha.…………………………..

Dịch nghĩa :

Kính lạy bồ tát Quán Thế Âm, bậc đại sĩ cứu khổ, kính lạy trăm ngàn muôn ức đức Phật, hằng hà sa số đức Phật, những bậc toàn giác có vô lượng công đức.

Đức Phật dạy tôn giả A Nan rằng: “Kinh này rất là cao cả, có thể cứu thoát ngục tù, có thể cứu chữa bịnh nặng, có thể cứu vớt trăm tai nạn ngàn khổ ách. Nếu có người tụng kinh này được một ngàn lần thì bản thân lìa khổ nạn, tụng được một muôn lần thì cả nhà lìa khổ nạn.”
Quay về nương tựa sức oai thần của Phật, quay về nương tựa sức gia hộ của Phật, khiến cho mọi người không sanh tâm ác độc, làm cho mọi người và bản thân được Phật cứu độ. Quay về nương tựa bồ tát Hồi Quang, bồ tát Hồi Thiện, đại thiên vương A Nậu, bồ tát Chánh Điện, các bậc tỳ kheo thanh tịnh, bố ma và phá ác, thì việc cửa quan được cởi bỏ, việc không chánh đáng được ngưng dứt. Cúi xin chư vị đại bồ tát, năm trăm vị la hán cứu hộ bản thân đệ tử (và thân nhân/ mọi người/ chúng sanh) thảy đều lìa khổ nạn. Như xâu chuỗi anh lạc của bồ tát Quán Thế Âm tự nhiên phân rời ra, người nào siêng năng tụng ngàn muôn lần (kinh này) thì các tai nạn tự nhiên được cởi bỏ, thoát khỏi.

Đại chúng nghe lời Phật dạy, tin tưởng, tiếp nhận và vâng làm, bồ tát Quan Thế Âm liền nói thần chú rằng: Kim bồ kim bồ đề, đà la ni đế, ni khư la đế, bồ đề tát bà ha.

Bản diễn nghĩa Kinh Cứu Khổ

Nam mô Đại Từ Đại Bi, Quảng Đại Linh Quan Thế Âm Bồ Tát

Xin nương tựa về Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

Đầy lòng thương xót chúng sinh bao la vô cùng tận với sự linh ứng chẳng thể nghĩ bàn.

Nam mô cứu khổ, cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát
Xin nương tựa về Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cứu giúp các sự khổ và các kiếp nạn.

Bá thiên vạn ức Phật, hằng hà sa số Phật, vô lượng công đức Phật
Trăm ngàn vạn ức chư Phật, số lượng ấy như cát sông Hằng, nhiều vô số chẳng thể nghĩ bàn, công đức của chư Phật ấy chẳng gì đo đếm được.
Phật cáo A Nan ngôn, thử kinh Đại Thánh

Năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai bá nạn khổ
Phật cho A Nan biết, những sự vi diệu chẳng thể nghĩ bàn của bài kinh này.
Có thể cứu người thoát cảnh ngục tù, có thể cứu người thoát cảnh bệnh nặng nan giải, có thể cứu người thoát khỏi những thiên tai nguy hiểm và hàng trăm loại nạn khổ khác nữa.

Nhược hữu nhơn tụng đắc nhất thiên biến, nhứt thân ly khổ nạn
Tụng đắc nhứt vạn biến, hiệp gia ly khổ nạn

Nếu như có người trì tụng bài kinh này được hàng ngàn lần, thì người ấy sẽ có thể thoát được khổ nạn của mình.
Nếu như trì tụng được hàng chục ngàn lần, thì cả gia đình thoát được khổ nạn.

Nam mô Phật lực oai, Nam mô Phật lực hộ
Xin nương tựa vào oai lực đại bi của chư Phật, xin nương tựa vào lực hộ trì của chư Phật.
Sử nhơn vô ác tâm linh, nhơn thân đắc độ
Người sử dụng bài kinh này không có tâm trí xấu xa, thì thân thể người ấy sẽ được độ duyên tai qua nạn khỏi.

Hồi quang Bồ Tát, hồi thiện Bồ Tát
A Nậu Đại Thiên Vương chánh điện Bồ Tát
Hồi hướng về ánh sáng từ bi như Đức Bồ Tát, hồi hướng về điều thiện lành như Đức Bồ Tát.
Hồi hướng về Đức Bồ Tát cao thượng như chư vị Đại Thiên Vương trấn giữ nơi chánh điện.

Ma kheo ma kheo thanh tịnh tỳ kheo
Quan sự đắc tán, tụng sự đắc hưu
Các tu hành giả đã thọ giới tỳ kheo, đạt được công phu tu tập thanh tịnh thân tâm.
Nếu lỡ như gặp phải ma chướng khổ nạn liên quan đến cửa quan thưa kiện, tố tụng thì sớm được giải oan, minh bạch thoát nạn.
Chư Đại Bồ Tát, ngũ bá A La Hán
Các vị Đại Bồ Tát và năm trăm vị A La Hán.
Cứu hộ đệ tử… nhứt thân ly khổ nạn
(Cứu hộ đệ tử cả chúng sanh thoát ly khổ nạn)
Cứu giúp và bảo hộ cho đệ tử… (họ tên người đang gặp nạn cần được cứu giúp hoặc cả chúng sanh) thoát được khổ nạn đang vướng nơi thân mình.

Tự ngôn Quan Thế Âm
Anh lạc bất tu giải
Cần độc thiên vạn biến tai nạn tự nhiên đắc giải thoát
Lời này tự Đức Quan Thế Âm đã nói.
Chẳng cần trì niệm lần chuỗi anh lạc.
Cần tịnh tâm, hồi hướng, trang nghiêm trì đọc ngàn vạn lần và thực hành sửa đổi thân tâm cho lương thiện minh bạch, tự nhiên các sự khổ nạn sẽ chuyển hướng mà được giải thoát.

Tín thọ phụng hành, tức thuyết Chơn Ngôn viết:

Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn :

Kim Ba Kim Ba Đế,
Cầu Ha Cầu Ha Đế,
Đa La Ni Đế,
Ni Ha La Đế,
Tì Lê Ni Đế,
Ma Ha Dà Đế,
Chơn Lăng Càn Đế,
Ta bà ha

Người có niềm tin, thực hành theo lời dạy trong bài kinh này, rồi trì tụng tôn danh của bảy vị Thất Phật Diệt Tội.

Nguyện cho mọi công phu hành trì được thành tựu cát tường, viên mãn.

Kinh văn:

Đức Phật dạy tôn giả A Nan rằng: “Kinh này rất là cao cả, có thể cứu thoát ngục tù, có thể cứu chữa bịnh nặng, có thể cứu vớt trăm tai nạn ngàn khổ ách. Nếu có người tụng kinh này được một ngàn lần thì bản thân lìa khổ nạn, tụng được một muôn lần thì cả nhà lìa khổ nạn. Như xâu chuỗi anh lạc của bồ tát Quán Thế Âm tự nhiên phân rời ra, người nào siêng năng tụng ngàn muôn lần (kinh này) thì các tai nạn tự nhiên được cởi bỏ, thoát khỏi”.
Đại chúng nghe lời Phật dạy, tin tưởng, tiếp nhận và vâng làm, bồ tát Quan Thế Âm liền nói thần chú rằng: Kim bồ kim bồ đề, đà la ni đế, ni khư la đế, bồ đề tát bà ha.

Phát nguyện:

Kính lạy bồ tát Quan Thế Âm, bậc đại sĩ cứu khổ.
Kính lạy trăm ngàn muôn ức đức Phật, hằng hà sa số đức Phật, những bậc toàn giác có vô lượng công đức.
Con xin quay về nương tựa sức oai thần của Phật, quay về nương tựa sức gia hộ của Phật, khiến cho mọi người không sanh tâm ác độc, làm cho mọi người và bản thân được Phật cứu độ.
Con xin quay về nương tựa bồ tát Hồi Quang, bồ tát Hồi Thiện, đại thiên vương A Nậu, bồ tát Chánh Điện, các bậc tỳ kheo thanh tịnh, bố ma và phá ác, thì việc cửa quan được cởi bỏ, việc không chánh đáng được ngưng dứt. Cúi xin chư vị đại bồ tát, năm trăm vị la hán cứu hộ bản thân đệ tử (và thân nhân/ mọi người/ chúng sanh) thảy đều lìa khổ nạn.

Tướng dụng:

Phật nói kinh này cũng tức là thần chú Cứu khổ, rất là cao cả, nhiệm mầu, linh ứng, người trì tụng kinh này, thần chú này thì tai qua nạn khỏi, hết bịnh, ra khỏi ngục tù thế gian và ngục tù phiền não, thoát nạn cửa quan và phiền toái, bản thân và gia đình bình an, người không sanh ác tâm, hóa giải hận thù, như ý, như nguyện.
Biểu tượng của kinh này là sự cứu khổ của bồ tát Quán Thế Âm, biểu hiện qua tâm đại từ bi, tâm bình đẳng, tâm hướng về chân tâm, tâm hướng thiện, tâm cung kính, tâm cứu độ, tâm giữ giới, tâm bỏ ác làm lành, tâm rủ bỏ phiền não, tâm tin tưởng mãnh liệt vào sự cứu độ của Phật, bồ tát, la hán. Trì kinh chú này thì phải hành theo biểu tượng như vậy.

Hành pháp:

Trì chú Cứu khổ ít nhiều đều được, cố nhiên càng nhiều càng tốt, như kinh nói một ngàn biến, một muôn biến, một ngàn muôn biến. Muốn trì chú này thì trước phải tụng đọc kinh văn và phát nguyện như trên đã nói, sau đó trì chú theo khả năng và thì giờ của mỗi người, cần nhất là phải sống theo tinh thần biểu tượng của kinh này.

Lời kết:

Phần hồi hướng của kinh Ngũ bách danh Quán Thế Âm có bài kinh Quán Thế Âm bồ tát cứu khổ. Kinh Ngũ bách danh Quán Thế Âm có thể xuất hiện trước thời của thiền sư Chuyết Chuyết (1590 - 1644), tức trước thế kỷ 16, như vậy kinh Quán Thế Âm bồ tát cứu khổ cũng xuất hiện khá lâu. Điều đáng nói là thần chú Cứu khổ trong chánh văn, không biết vì lý do nào, được đổi thành thần chú Thất Phật diệt tội. Thần chú Cứu khổ là: “Kim bồ kim bồ đề, đà la ni đế, ni khư la đế, bồ đề tát bà ha”, bị sửa lại là: “Kim bà kim bà đế (đúng phải là ly bà ly bà đế), cầu ha cầu ha đế, đà la ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nễ đế, ma ha già đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha”. Thần chú Thất Phật diệt tội, trích từ kinh Đại phương quảng đà la ni, là thần chú của bảy đức Phật trong quá khứ đã nói ra cho các tỳ kheo, tỳ kheo ni phạm tội tứ trọng, ngũ nghịch có thể sám hối, dứt tội, được phước. Có lẽ vì chánh văn là “kim bồ kim bồ đế” gần giống với “ly bà ly bà đế” nên ráp nối phần sau, giữ nguyên câu trước có sửa đổi thành “kim bà kim bà đế”.
Mẹ tôi lúc còn nhỏ đã được ông ngoại dạy cho bài kinh này, bảo học thuộc và trì tụng. Nghe mẹ tôi kể, lúc pháo rơi đạn lạc thời chiến tranh, tại ngoại ô thành phố Huế, một căn nhà hàng xóm thoát nạn pháo kích vì trong nhà có người trì tụng kinh này. Có câu là “phàm có cảm thì đều thông, nên cầu gì mà chẳng ứng”, khi gặp bất cứ hoạn nạn, khổ đau nào chúng ta có thể thầm niệm ngắn gọn, như một câu thần chú, như sau: Nam mô Phật đà da, nam mô Đạt ma da, nam mô Tăng già da, nam mô Quan Thế Âm bồ tát ma ha tát, dịch bịnh tiêu trừ (có thể đổi lời cầu xin), ta bà ha. Đây là trích trong kinh Phật thuyết đoạn ôn (Tục tạng, quyển 1, số 19), kinh kể về việc thành Vương Xá bị ôn dịch, người chết vô số, tôn giả A Nan thỉnh Phật dạy phương pháp cứu tế, đức Phật dạy đọc lời nguyện như trên, thế là ôn dịch đẩy lui.
Con về nương tựa Phật, bậc giác ngộ đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, chúng nguyện sống một cuộc đời ly nhiễm và tỉnh thức.
Con về nương tựa bồ tát Quan Thế Âm, vị đại sĩ nắm giữ con bằng ngàn tay, soi thấy con bằng ngàn mắt, làm cho con bặt hết yếu tố tội ác, làm cho con phát khởi và thực hành hạnh từ bi.
Con tên là....., pháp danh....., cầu cho bản thân, thân nhân, chúng sanh, tất cả cùng được....., ta bà ha.
Ngưỡng nguyện đức đại bi Quan Thế Âm cùng Phật Pháp Tăng, vô thượng Tam bảo, mật thùy chứng minh gia hộ.
Xin tin tưởng và cầu nguyện theo biểu tượng của kinh văn mà đức Phật đã nói.
Sáng niệm Quán Thế Âm, chiều niệm Quán Thế Âm, niệm niệm theo tâm khởi, niệm Phật chẳng rời tâm.

Hồi Hướng

Nguyện đem công đức lành
Hồi hướng cho tất cả:
Chúng con với chúng sanh
Đều chứng thành Phật quả

NHỮNG ĐIỀU LINH ỨNG

Chú này nếu tụng được 1,200 lượt hay cúng 1,200 quyển, thời nhất nhất cầu việc gì cũng được hiệu nghiệm cả. Cầu có con có con, cầu khỏi bệnh khỏi bệnh, cầu có tài có tài, cầu phúc có phúc, cầu tai qua nạn khỏi, được tai qua nạn khỏi, v.v...

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát 🙏🙏🙏

Address

Houston, TX
77088

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Pháp Tu Theo Quán Thế Âm Bồ Tát posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share