06/03/2026
Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài học ngày 3.6.2026
TÍN TÂM KIÊN CỐ VÀ KIẾP SAU
Kinh Cấp Cô Độc II (Dutiyānāthapiṇḍikasuttaṃ)
Kinh Cấp Cô Độc III (Tatiyānāthapiṇḍikasuttaṃ)
Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu – Sarakāni - SN 55.27. 28
Phàm phu không học đạo đối diện với cái chết bằng một tâm thức giao động. Sự "vô tín" (không tin Tam Bảo) tạo ra một cảm giác bơ vơ, mất phương hướng như người bị ném giữa đại dương đêm tối; trong khi sự thiếu giới đức hoạt động như một loại độc tố nội tâm, kích hoạt các cận tử nghiệp bất thiện, đẩy tâm vào các viễn cảnh của đọa xứ. Trái lại, Bậc Thánh đệ tử (Nhập Lưu) đối diện với cái chết bằng một tâm thế vững chãi như một ngọn núi. Bốn phẩm chất Dự lưu (Tin Phật, Pháp, Tăng và Giới hạnh trọn vẹn) không còn là các khái niệm lý thuyết, mà đã trở thành bản chất cấu trúc tâm thức của họ. Họ có một tâm thế vững chãi rằng dù thân xác này rã rời, dòng tâm thức tiếp theo chắc chắn sẽ hướng thượng.
Kinh Văn
1023. sāvatthinidānaṃ. tena kho pana samayena anāthapiṇḍiko gahapati ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. atha kho anāthapiṇḍiko gahapati aññataraṃ purisaṃ āmantesi — “ehi tvaṃ, ambho purisa, yenāyasmā ānando tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato ānandassa pāde sirasā vanda — ‘anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. so āyasmato ānandassa pāde sirasā vandatī’ti. evañca vadehi — ‘sādhu kira, bhante, āyasmā ānando yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṃ tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyā’”ti.
“evaṃ, bhante”ti kho so puriso anāthapiṇḍikassa gahapatissa paṭissutvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ ānandaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho so puriso āyasmantaṃ ānandaṃ etadavoca — “anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. so āyasmato ānandassa pāde sirasā vandati. evañca vadati — ‘sādhu kira, bhante, āyasmā ānando yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṃ tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyā’”ti. adhivāsesi kho āyasmā ānando tuṇhībhāvena.
atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. nisajja kho āyasmā ānando anāthapiṇḍikaṃ gahapatiṃ etadavoca — “kacci te, gahapati, khamanīyaṃ, kacci yāpanīyaṃ? kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṃ paññāyati, no abhikkamo”ti? “na me, bhante, khamanīyaṃ na yāpanīyaṃ. bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṃ paññāyati, no paṭikkamo”ti.
“catūhi kho, gahapati, dhammehi samannāgatassa assutavato puthujjanassa hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ. katamehi catūhi? idha, gahapati, assutavā puthujjano buddhe appasādena samannāgato hoti. tañca panassa buddhe appasādaṃ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, assutavā puthujjano dhamme appasādena samannāgato hoti. tañca panassa dhamme appasādaṃ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, assutavā puthujjano saṅghe appasādena samannāgato hoti. tañca panassa saṅghe appasādaṃ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, assutavā puthujjano dussīlyena samannāgato hoti. tañca panassa dussīlyaṃ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ. imehi kho, gahapati, catūhi dhammehi samannāgatassa assutavato puthujjanassa hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“catūhi kho, gahapati, dhammehi samannāgatassa sutavato ariyasāvakassa na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ. katamehi catūhi? idha, gahapati, sutavā ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. tañca panassa buddhe aveccappasādaṃ attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, sutavā ariyasāvako dhamme aveccappasādena samannāgato hoti — svākkhāto bhagavatā dhammo ... pe ... paccattaṃ veditabbo viññūhīti. tañca panassa dhamme aveccappasādaṃ attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, sutavā ariyasāvako saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti — suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ... pe ... anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti. tañca panassa saṅghe aveccappasādaṃ attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, sutavā ariyasāvako ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. tāni ca panassa ariyakantāni sīlāni attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ. imehi kho, gahapati, catūhi dhammehi samannāgatassa sutavato ariyasāvakassa na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayan”ti.
“nāhaṃ, bhante ānanda, bhāyāmi. kyāhaṃ bhāyissāmi! ahañhi, bhante, buddhe aveccappasādena samannāgato homi — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe aveccappasādena samannāgato homi — suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ... pe ... anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti. yāni cimāni, bhante, bhagavatā gihisāmīcikāni sikkhāpadāni desitāni, nāhaṃ tesaṃ kiñci attani khaṇḍaṃ samanupassāmī”ti. “lābhā te, gahapati, suladdhaṃ te, gahapati! sotāpattiphalaṃ tayā, gahapati, byākatan”ti. sattamaṃ
(Đoạn mở đầu của bài kinh này giống như bài kinh trước, ngoại trừ việc cư sĩ Anāthapiṇḍika cho tho thỉnh Tôn giả Ānanda đến, cho đến đoạn dưới đây:)
“Con không thể chịu đựng nổi, bạch Tôn giả, con không thấy giảm nhẹ. Những cảm thọ đau đớn khốc liệt đang gia tăng trong con, không hề thuyên giảm, và chỉ thấy sự gia tăng của chúng chứ không thấy giảm bớt.”
“Này gia chủ, đối với kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp, người đang có bốn điều này, thì sẽ có sự kinh hãi, có sự hoảng hốt, có nỗi sợ hãi cái chết đang cận kề.Bốn điều gì?
Ở đây, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp có lòng không tin (vô tín) đối với Đức Phật, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng không tin đối với Đức Phật đó, sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp có lòng không tin đối với Chánh pháp, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng không tin đối với Chánh pháp đó, sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp có lòng không tin đối với Tăng-già, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng không tin đối với Tăng-già đó, sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp là người không giới hạnh, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm về sự thiếu giới hạnh đó, sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Này gia chủ, đối với kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp sở hữu bốn điều này, thì sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Này gia chủ, đối với vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp, người thành tựu bốn điều này, thì không có sự kinh hãi, không có sự hoảng hốt, không có nỗi sợ hãi cái chết đang cận kề. Bốn điều gì?
Ở đây, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu lòng tin bất động nơi Đức Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là... bậc Thầy của chư thiên và loài người, là Phật, là Đức Thế Tôn.’ Khi vị ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng tin bất động nơi Đức Phật đó, sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu lòng tin bất động nơi Chánh pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng... được người trí tự mình kinh nghiệm.’ Khi vị ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng tin bất động nơi Chánh pháp đó, sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu lòng tin bất động nơi Tăng-già như sau: ‘Giáo hội đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc thực hành diệu hạnh... là phước điền vô thượng ở đời.’ Khi vị ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng tin bất động nơi Giáo hội Tăng-già đó, sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu các giới hạnh được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại... đưa đến định tâm. Khi vị ấy tự quán xét trong nội tâm về các giới hạnh được các bậc Thánh ái kính đó, sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.
Này gia chủ, đối với vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu bốn điều này, thì không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.”
“Con không hề sợ hãi, bạch Tôn giả Ānanda. Tại sao con lại phải sợ hãi? Vì rằng, bạch Tôn giả, con thành tựu lòng tin bất động nơi Đức Phật… nơi Chánh pháp… nơi Giáo hội Tăng-già. Và đối với các giới quy định học tập của hàng cư sĩ được Đức Thế Tôn thuyết giảng, con không thấy trong nội tâm mình có bất kỳ giới nào bị phá hoại cả.”
“Thật là một lợi ích lớn cho ông, này gia chủ! Thật là một sự khéo đắc cho ông, này gia chủ! Ông đã tuyên bố, này gia chủ, về quả vị của bậc Dự lưu (Nhập lưu).”
Kinh Cấp Cô Độc III
(Bài kinh này hoàn toàn trùng khớp với kinh số 12:41 thuộc Tương Ưng Bộ). [388-389]
Chú Thích
Về câu nói của kẻ phàm phu khi đối diện cái chết: Sớ giải chú thích rằng, từ “quán xét trong nội tâm” (attani samanupassato) nghĩa là khi một người nằm trên giường bệnh cận kề cái chết, họ bắt đầu hồi tưởng và kiểm tra lại hành trang tâm linh của mình.
Tâm lý kẻ phàm phu phá giới: Kẻ phàm phu không có niềm tin, khi nhìn lại cuộc đời, họ chỉ thấy một khoảng trống rỗng về đức tin và một chuỗi các hành vi vi phạm giới luật (adhamma). Sự trống rỗng này tạo ra cảm giác “Kinh hãi” (tāsa) – trạng thái run rẩy của tâm lý sợ sa đọa; “Hoảng hốt” (santāsa) – sự hoảng loạn của cơ thể và ý thức trước một tương lai bất định ở cõi xấu; và “Sợ hãi cái chết cận kề” (maraṇabhaya).
Tâm lý bậc Thánh cư sĩ: Ngược lại, khi Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) tự kiểm tra nội tâm, ông nhận ra bốn phẩm chất Dự Lưu (Sotāpanna-aṅgāni) của mình đều tròn vẹn, sáng chói như những viên ngọc không tỳ vết. Sớ giải nhấn mạnh câu trả lời của ông: "Tại sao con lại phải sợ hãi?" không phải là lời tự mãn, mà là sự xác tín dựa trên hiện thực rằng "Cửa địa ngục đã đóng hoàn toàn" đối với ông. Lời chúc mừng của Tôn giả Ānanda: "Thật là một lợi ích lớn cho ông!" là lời ấn chứng công khai rằng một vị cư sĩ bận rộn với việc kinh doanh vẫn có thể đạt đến sự tự tại tuyệt đối trước cái chết nhờ vào việc an trú trong Thánh Quả.
Về kinh Kinh Cấp Cô Độc III
Vì bài kinh này được ghi nhận là trùng khớp hoàn toàn với kinh 12:41 (Kinh Năm Lo Sợ), Chú giải tập trung vào việc làm rõ năm điều oán hận:
Năm điều oán hận sợ hãi phát sanh từ việc sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và uống rượu. Một người phá năm giới này sẽ tự nuôi dưỡng một nguồn năng lượng oán thù, sợ hãi ngay trong hiện tại (lo sợ bị luật pháp trừng phạt, lo sợ bị trả thù) và gieo nhân chịu khổ bách hại ở tương lai. Bậc Dự Lưu dứt tuyệt năm điều này nên tâm luôn đạt đến trạng thái vững tâm vô úy (Abhaya).
Sớ Giải
1023. sattame samparāyikaṃ maraṇabhayanti samparāyahetukaṃ maraṇabhayaṃ gihisāmīcikānīti gihīnaṃ anucchavikāni. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
1023. “Sattame samparāyikaṃ maraṇabhayanti” — Trong kinh thứ bảy, cụm từ “samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ” nghĩa là: sự sợ hãi về cái chết liên quan đến đời sau (samparāyahetukaṃ maraṇabhayaṃ), tức là nỗi sợ hãi cái chết phát sinh do nguyên nhân thuộc về kiếp sau.
Gihisāmīcikānīti gihīnaṃ anucchavikāni — Cụm từ “gihisāmīcikāni” nghĩa là: những điều thích hợp với người cư sĩ, những quy tắc phù hợp với gia chủ.
Sesaṃ sabbattha uttānamevāti — Phần còn lại ở khắp mọi nơi đều rõ ràng, dễ hiểu.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
III. Phẩm Saranàni
27.VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2) (S.v,385)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Lúc bấy giờ, gia chủ Anàthapindika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
3-5) ... (giống như kinh trước, chỉ khác, đây là Tôn giả Ananda chứ không phải Tôn giả Sàriputta, và Tôn giả Ananda đi chỉ có một mình, cho đến... có dấu hiệu tăng trưởng, không có giảm thiểu).
6) -- Này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu bốn pháp nên run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn?
7) Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Phật. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Phật, vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Pháp. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Pháp; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với chúng Tăng. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với chúng Tăng; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu ác giới. Khi vị ấy tự thấy sự thành tựu ác giới của mình; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Do thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
😎 Do thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không có sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn? Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật: "Ðây là là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn". Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Phật, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... chỉ người có trí tự mình giác hiểu". Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Pháp, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ... lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời"... về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Khi tự thấy sự thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính của mình, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, bậc Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau.
9) -- Thưa Tôn giả Ananda, con không sợ hãi. Sao con có thể sợ hãi? Con đã thành tựu lòng tịnh tín đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... thưa Tôn giả, phàm có những học giới hòa kính (sàmici) tại gia do Thế Tôn thuyết giảng, con thấy không có tự mình vi phạm một giới nào.
10) -- Lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ! Khéo lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ ! Gia chủ đã tuyên bố về Dự lưu quả rồi.
28.VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3) (S.v,387)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:
3) -- Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, làm cho tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù (pancabhayàni), thành tựu bốn Dự lưu phần, và nhờ trí tuệ, Thánh lý (nàya) được khéo thấy, được khéo thông đạt, nếu vị ấy muốn, sẽ tự mình tuyên bố về mình như sau: "Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận các loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta là bậc Dự lưu, không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ". Thế nào là năm sự sợ hãi, hận thù được tịnh chỉ?
4) Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người sát sanh; do duyên sát sanh, sự sợ, hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, sự khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ sát sanh, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ... khởi lên cho người lấy của không cho..... khởi lên cho người tà hạnh trong các dục..... khởi lên cho người nói láo...
Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người say đắm rượu men, rượu nấu; do duyên say đắm rượu men, rượu nấu, sự sợ hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
Năm sự sợ hãi, hận thù này được tịnh chỉ.
5) Với bốn Dự lưu phần nào, vị ấy được thành tựu?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn..". đối với Pháp... đối với chúng Tăng... vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.
6) Thánh lý nào được vị ấy khéo thấy với trí tuệ, khéo thông đạt?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo như lý tác ý lý duyên khởi: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, nên hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt... nên lão tử diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này vậy.
Ðây là Thánh lý, với trí tuệ, được khéo thấy, khéo thông đạt.
7) Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, được tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù này, được thành tựu bốn Dự lưu phần này, và Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, khéo thông đạt thời nếu muốn, vị ấy có thể tự mình tuyên bố về mình như sau: "Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ