Phap Luan Buddhist Culture Center Inc

Phap Luan Buddhist Culture Center Inc Phap Luan Buddhist Culture Center is a Buddhist temple. Sunday service begins at Noon. Service will be in Vietnamese.

Lớp Phật Pháp BuddhadhammaMôn học: Thắng Pháp Bài học thứ hai  8.6.2024ĐẦU ĐỀ TAM(TIKAMĀTIKĀ) XII. TAM ĐỀ HY THIỂU – PAR...
06/08/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: Thắng Pháp

Bài học thứ hai 8.6.2024
ĐẦU ĐỀ TAM
(TIKAMĀTIKĀ)

XII. TAM ĐỀ HY THIỂU – PARITTATTIKA
Tam đề hy thiểu là đầu đề chiết bán _ vô dư.
Tam đề hy thiểu có ba pháp là:
a. Các pháp hy thiểu (parittā dhammā)
b. Các pháp đáo đại (mahaggatā dhammā)
c. Các pháp vô lượng (appamāṇā dhammā)

a. Các pháp hy thiểu (parittā dhammā) là thế nào?
Tất cả pháp dục giới thiện, bất thiện và vô ký, tức là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn thuộc dục giới. Đây là các pháp hy thiểu.
Chi pháp trong ý nghĩa nầy là 8 tâm thiện dục giới với 37 thuộc tánh tương ưng, 12 tâm bất thiện với 27 thuộc tánh tương ưng, 23 tâm quả dục giới với 33 thuộc tánh tương ưng, 11 tâm vô ký tố dục giới với 35 thuộc tánh tương ưng; Và, 28 vô ký sắc.
Chú giải: Hy thiểu là chút ít, một miếng (khaṇḍitattā appamattakaṃ parittan’ ti vuccati).
Pháp dục giới sắc, thọ, tưởng, hành, thức gọi là pháp hy thiểu vì ít uy lực (Imepi appānubhāvatāya parittā viyā’ ti parittā, kāmāvacaradhammānametaṃ adhivacanaṃ). Pháp dục giới không có mãnh lực siêu nhiên như các tâm thiền.

b. Các pháp đáo đại (mahaggatā dhammā) là thế nào?
Thiện và vô ký sắc giới, thiện và vô ký vô sắc giới. Đây là các pháp đáo đại.
Chi pháp trong ý nghĩa nầy là 15 tâm sắc giới với 35 thuộc tánh tương ưng; 12 tâm vô sắc giới với 30 thuộc tánh tương ưng.
Chú giải: Gọi là đáo đại nghĩa là đạt đến trạng thái lớn lao, do khả năng ức chế được phiền não, thành tựu quảng đại, trú liên tục lâu dài, hoặc thực hành đi với Dục, Cần, Tâm, Tuệ lớn mạnh, đặc biệt (kilesavikkhambhanasamatthatāya vipulaphalatāya dīghasantānatāya ca mahantabhāvaṃ gatā mahantehi vā ulāracchandavīriyacittapannehi gatā paṭipannā’ ti pi mahaggatā). Tâm đáo đại có năng lực nhập định, hiện thông, đưa đến cảnh giới Phạm thiên, phải do tu tập bằng ước muốn mãnh liệt, tinh tấn mãnh liệt, ý chí mãnh liệt, trí tuệ mãnh liệt; Lại có năng lực đè nén phiền não như đá đè cỏ.
Các pháp vô lượng (appamāṇā dhammā) là thế nào?
Đạo, quả siêu thế, và vô vi giới. Đây là các pháp vô lượng.
Chi pháp trong ý nghĩa nầy là 4 hoặc 20 tâm đạo, 4 hoặc 20 tâm quả, cùng 36 thuộc tánh tương ưng; níp bàn.
Chú giải: Những pháp còn hạn chế như phiền não tham ..v.v.. Hoặc còn bị phiền não biết được, gọi là pháp hữu lượng (pamāṇaṃ). Trái với pháp hữu lượng, gọi là pháp vô lượng (pamāṇassa ca paṭipakkhā’ ti appamāṇā).
Không có phối hợp với pháp hạn lượng, cũng không là cảnh cho pháp hạn lượng biết được nên gọi là pháp vô lượng (ārammaṇato vā sampayogato vā natthi etesaṃ pamāṇaṃ cā’ ti appamāṇā).
Pháp dục giới và pháp đáo đại là pháp hạn lượng (pamaṇā dhammā), chỉ có pháp siêu thế là pháp vô lượng (appamaṇā dhammā).

06/07/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: Phật Pháp Cơ Bản

Bài học ngày 7.6.2026

Phần VII: NHỮNG ẨN DỤ TỪ KINH ĐIỂN
NGỤC TÙ TỰ TẠO
Dụ Ngôn Con Tằm và Cái Kén

06/05/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma​
Môn học: THẮNG PHÁP PHỔ THÔNG

Bài học ngày 10.4.2025

Duyên hệ (Paṭṭhāna) theo Thắng Pháp
TRƯỞNG DUYÊN (ADHIPATIPACCAYO)

Lớp Phật Pháp BuddhadhammaMôn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA Bài học ngày 4.6.2026MỘT SỐ BÀI KINH VỀDÒNG CHẢY CỦA PH...
06/04/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 4.6.2026

MỘT SỐ BÀI KINH VỀ
DÒNG CHẢY CỦA PHƯỚC BÁU
Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu – Phẩm Phước Lưu - SN 55.31 - 36

Nhóm kinh thuộc phẩm Phước Lưu mở ra một viễn cảnh tri thức luận và tâm lý học vô cùng sống động, nơi phước báu không còn là những hành động tích lũy phước thiện nhỏ lẻ, cơ hội, mà được nâng cấp thành một “dòng sông năng lượng” tuôn chảy liên tục, cuồn cuộn đổ về đại dương hạnh phúc và giải thoát. Bên cạnh đó, chuỗi kinh về Thiên Đạo và Tương Tự Chư Thiên nói lên định luật "đồng thanh tương ứng" dưới góc độ tần số năng lượng. Sự quán chiếu của vị Thánh đệ tử — “Con đường của chư thiên là gì?” và sự tự nhận thức về phẩm chất Bất hại (Ahiṃsā) — chính là một liệu pháp tự thanh lọc tinh thần đầy vi tế. Sự tịnh tín và lòng từ mẫn không làm tổn hại bất kỳ chúng sinh nào đã tạo ra bản chất đạo đức (Sabhāga) giữa người và trời. Chư thiên hoan hỷ không phải vì một nghi lễ cúng tế, mà vì họ nhìn thấy một tâm thức ở cõi người đang rung động cùng một tần số thánh thiện với họ. Những kinh này là một thông điệp nhất quán: đời sống chánh niệm không đợi đến ngày mai, và thiên giới cũng không phải là một cõi xa xôi hậu thế; khi tâm ta an trú vào Tam Bảo, Giới đức, và Trí tuệ, ta đang bước đi trên con đường của chư thiên, mở toang cánh cửa để sự tĩnh lặng tự lên tiếng giữa dòng đời biến dịch.
Kinh Văn
Kinh Những Dòng Phước Báu I
Tại Sāvatthī (Xá-vệ).
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, có bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn nuôi dưỡng hạnh phúc. Bốn điều ấy là gì?
“Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có tín tâm kiên cố nơi Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Điều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’Đây là dòng phước báu thứ nhất, dòng thiện pháp thứ nhất, nguồn nuôi dưỡng hạnh phúc thứ nhất.
“Lại nữa, vị Thánh đệ tử có tín tâm kiên cố nơi Pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để thấy hiểu, hiệu năng hướng thượng, được người có trí tự mình tỏ ngộ.’
Đây là dòng phước báu thứ hai...
“Lại nữa, vị Thánh đệ tử có tín tâm kiên cố nơi Tăng như sau: ‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh; tức là bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc đáng được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng của đời.’
Đây là dòng phước báu thứ ba...
“Lại nữa, vị Thánh đệ tử thành tựu giới được các bậc Thánh trân trọng — không bị bẻ gãy, không bị sứt mẻ, không bị ô uế, không bị hoen ố, giải thoát, được người có trí khen ngợi, không bị chấp thủ, dẫn đến định.
Đây là dòng phước báu thứ tư...
“Này các Tỳ khưu, đó là bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn nuôi dưỡng hạnh phúc.”

Kinh Những Dòng Phước Báu II
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, có bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn nuôi dưỡng hạnh phúc.
(Ba điều đầu giống bài kinh trên, điều thứ tư như sau:)
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử sống tại gia với tâm không bị cấu uế bởi lòng xan tham, rộng lượng bố thí, bàn tay rộng mở, vui thích buông xả, tận tụy trong việc chia sẻ, hoan hỷ trong việc cho và san sẻ.
Đây là dòng phước báu thứ tư.
“Này các Tỳ khưu, đó là bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn nuôi dưỡng hạnh phúc.”

Kinh Những Dòng Phước Báu III
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, có bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn nuôi dưỡng hạnh phúc.
(Ba điều đầu giống Kinh 31, điều thứ tư như sau:)
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có trí tuệ, thành tựu trí tuệ quán sát sự sanh và diệt, trí tuệ cao quý, thâm nhập, dẫn đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau.
Đây là dòng phước báu thứ tư.
“Này các Tỳ khưu, đó là bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn nuôi dưỡng hạnh phúc.”

Kinh Thiên Đạo I
Tại Sāvatthī.
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, có bốn con đường của chư thiên, có khả năng thanh lọc những chúng sanh chưa được thanh lọc, tẩy sạch những chúng sanh chưa được tẩy sạch.
Bốn điều ấy là gì?
“Ở đây, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật...
Đây là con đường thứ nhất của chư thiên.
“Lại nữa, vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Chánh Pháp...
“Lại nữa, vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Tăng chúng...
“Lại nữa, vị ấy thành tựu các giới được bậc Thánh ái kính, không sứt mẻ... đưa đến định tâm.
Đây là con đường thứ tư của chư thiên.
“Này các Tỳ khưu, đó là bốn con đường của chư thiên, có khả năng thanh lọc những chúng sanh chưa được thanh lọc, tẩy sạch những chúng sanh chưa được tẩy sạch.”

Kinh Thiên Đạo II
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, có bốn con đường của chư thiên để thanh lọc những chúng sanh chưa được thanh lọc.
“Ở đây, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động nơi Đức Phật...
Vị ấy suy nghĩ:
‘Con đường của chư thiên là gì?’
Vị ấy hiểu rằng:
‘Ta đã nghe rằng hiện nay chư thiên lấy sự bất hại (ahiṃsā) làm tối thượng. Ta không làm hại bất cứ ai, dù yếu hay mạnh. Chắc chắn ta đang sống với một trong những con đường của chư thiên.’
Đây là con đường thứ nhất của chư thiên.
“Lại nữa, vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Chánh Pháp...
“Lại nữa, vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Tăng chúng...
“Lại nữa, vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được bậc Thánh ái kính...
Vị ấy suy nghĩ:
‘Ta đã nghe rằng chư thiên lấy sự bất hại làm tối thượng. Ta không làm hại bất cứ ai, dù yếu hay mạnh. Chắc chắn ta đang sống với một trong những con đường của chư thiên.’
Đây là con đường thứ tư của chư thiên.
“Này các Tỳ khưu, đó là bốn con đường của chư thiên để thanh lọc những chúng sanh chưa được thanh lọc.”

Kinh Tương Tự Chư Thiên (Devasamāna Sutta)
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, khi một vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp, chư thiên hoan hỷ và nói rằng người ấy giống như họ.
Bốn pháp ấy là gì?
“Ở đây, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật...
Những vị thiên từ cõi người sau khi chết được tái sanh lên thiên giới nhờ lòng tịnh tín nơi Đức Phật sẽ nghĩ:
‘Vị Thánh đệ tử này có cùng lòng tịnh tín nơi Đức Phật như chúng ta đã có khi từ cõi người tái sanh lên đây. Vị ấy rồi sẽ đến giữa chư thiên.’
“Lại nữa, vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Chánh Pháp...
Đối với Tăng chúng...
“Lại nữa, vị ấy thành tựu các giới được bậc Thánh ái kính, không sứt mẻ, đưa đến định tâm.
Các vị thiên đã tái sanh lên thiên giới nhờ các giới được bậc Thánh ái kính sẽ nghĩ:
‘Vị Thánh đệ tử này có cùng loại giới đức như chúng ta đã có trước đây. Vị ấy rồi sẽ đến giữa chư thiên.’
“Này các Tỳ khưu, khi vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp ấy, chư thiên hoan hỷ và nói rằng người ấy tương tự như họ.”
Chú Thích
Sáu bài kinh đầu trong chương Puññābhisanda Vagga (Phước Lưu) giống như sáu góc nhìn khác nhau của cùng một viên ngọc quý. Đức Phật không chỉ dạy cách tạo phước, mà còn chỉ ra bản chất của phước, sức mạnh của phước và đích đến của phước. Điều đặc biệt là Ngài không nói đến những nghi lễ cầu phước hay tế tự, mà nhấn mạnh đến những phẩm chất nội tâm làm phát sinh một “dòng sông công đức” chảy mãi trong đời sống.
Hình ảnh “Phước Lưu” là cách nói tượng hình đặc biệt. Một giọt nước riêng lẻ có thể nhanh chóng khô cạn, nhưng một dòng sông thì chảy mãi không ngừng. Cũng vậy, một việc lành đơn lẻ chỉ tạo một ít phước báo, nhưng niềm tin vững chắc nơi Tam Bảo, giới hạnh thanh tịnh, tâm bố thí rộng mở và trí tuệ quán chiếu lại trở thành một dòng công đức liên tục sinh khởi ngày đêm. Người ấy dù đang đi, đứng, nằm, ngồi vẫn đang làm cho dòng phước ấy tiếp tục tuôn chảy.
Ba bài kinh đầu tiên trình bày ba tầng cao dần của đời sống tâm linh. Kinh thứ nhất nhấn mạnh tín và giới là nền tảng của mọi thiện pháp. Kinh thứ hai mở rộng bằng bố thí và buông xả, bởi người biết cho đi là người đang phá vỡ nhà tù của lòng ích kỷ. Kinh thứ ba nâng cao hơn nữa bằng trí tuệ quán sinh diệt, vì cuối cùng chỉ có trí tuệ mới có thể đoạn tận khổ đau. Như vậy, con đường tâm linh được xây dựng từ dưới lên trên: từ đức tin, đến hành động thiện lành, rồi thăng hoa thành tuệ giác.
Ba bài kinh tiếp theo lại soi sáng cùng những phẩm chất ấy dưới một góc nhìn khác: góc nhìn của chư thiên. Đức Phật gọi chúng là “Thiên Đạo” – con đường của chư thiên. Điều này thật thú vị, bởi nhiều người nghĩ rằng sinh thiên là nhờ nghi lễ, cầu nguyện hay thần lực. Nhưng theo lời Phật dạy, con đường dẫn đến cõi trời rất giản dị: tin sâu nơi Tam Bảo, giữ giới thanh tịnh và không làm hại bất kỳ ai. Một người sống với tâm từ và sự bất hại đã mang phẩm chất của chư thiên ngay giữa cõi người.
Đỉnh cao của chương kinh là bài “Tương Tự Chư Thiên”. Các vị thiên nhìn thấy một người có tín tâm và giới đức liền vui mừng và nói: “Người ấy giống như chúng ta.” Đây là một hình ảnh vô cùng cảm động. Chư thiên không ca ngợi sự giàu có, sắc đẹp hay quyền lực, mà ca ngợi lòng tin và phẩm hạnh. Điều đó cho thấy trong cái nhìn của bậc Thánh, giá trị chân thật của một con người không nằm ở những gì họ sở hữu, mà nằm ở những gì họ đã chuyển hóa trong tâm mình.
Toàn bộ các bài kinh là một lời nhắc nhở sâu sắc rằng: phước báu không phải là điều bí mật nằm ở tương lai, mà là một dòng năng lượng hiền thiện đang được tạo ra trong từng ý nghĩ, lời nói và hành động của hiện tại. Người sống với tín tâm, giới đức, bố thí và trí tuệ không chỉ đang tích lũy công đức cho đời sau, mà ngay trong hiện tại đã bước đi trên con đường của chư thiên và đang tiến dần đến con đường giải thoát.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
31. I. Sung Mãn (1) (S.v,391)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng...Phật, Thế Tôn". Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ nhất.
4) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... chỉ người có trí tự mình giác hiểu". Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ hai.
5) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời". Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ ba.
6) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.
7) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.
32. II. Sung Mãn (2) (S.v,391)
1-5) ... (giống như kinh trên, đoạn 1-5) ...
6) -- Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử trú ở gia đình, với tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.
7) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.
33. III. Sung Mãn (3) (S.v,392)
2-5) ... (giống như kinh 31, đoạn 2-5) ...
6) -- Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.
7) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.
34. IV. Con Ðường Của Chư Thiên (1) (S.v,392)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) -- Có bốn thiên đạo này của chư Thiên, này các Tỷ-kheo, khiến chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín đối với đức Phật... Ðây là thiên đạo thứ nhất của chư Thiên, khiến chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch.
4-6) ... (như trên đối với Pháp, với chúng Tăng, với các giới) ... " Ðây là thiên đạo thứ tư của chư Thiên, khiến chúng... được thuần bạch.
7) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn thiên đạo của chư Thiên, khiến chúng sanh... được thuần bạch.
35. V. Con Ðường Của Chư Thiên (2) (S.v,393)
1) ...
2) -- Có bốn thiên đạo của chư Thiên này, này các Tỷ-kheo, khiến chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn". Vị ấy suy tư như sau: "Thế nào là thiên đạo của chư Thiên? Nói rằng không sân hận là tối thượng. Ta không làm hại một ai, các chúng sanh di động hay các chúng sanh không di động. Thật vậy, ta sống thành tựu pháp của thiên đạo". Ðây là thiên đạo thứ nhất của chư Thiên khiến các loài chúng sanh... được thuần bạch.
4-5) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp... đối với chúng Tăng...
6) ... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Vị ấy suy tư như sau: "Thế nào là thiên đạo của chư Thiên?". Vị ấy rõ biết như sau: "Ta nghe các chư Thiên nói rằng không sân hận là tối thượng. Ta không làm hại một ai, các chúng sanh di động hay các chúng sanh không di động. Thật vậy, ta sống thành tựu pháp của thiên đạo". Ðây là thiên đạo thứ tư của chư Thiên, khiến các chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến các chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch.
7) Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn thiên đạo của chư Thiên, khiến chúng sanh... được thuần bạch.
36. VI. Ði Ðến Bạn Bè (S.v,394)
1) ...
2) -- Chư Thiên, này các Tỷ-kheo, hoan hỷ nói chuyện bạn bè với ai thành tựu bốn pháp. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn". Chư Thiên nào thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, sau khi mệnh chung ở chỗ này, được sanh ở đây. Chư Thiên ấy suy nghĩ: "Như chúng ta thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, mệnh chung chỗ kia, được sanh chỗ này". Vị Thánh đệ tử cũng thành tựu lòng tịnh tín bất động như vậy. Họ nói với vị ấy: "Hãy đến đây, đến gần chư Thiên".
4-5) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử... đối với Pháp... đối với chúng Tăng...
6) Vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Chư Thiên nào thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, sau khi mệnh chung ở chỗ này, được tái sanh chỗ kia. Họ suy nghĩ như sau: "Chúng ta thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính. Do vậy, chúng ta mệnh chung tại chỗ kia, sanh tại chỗ này". Vị Thánh đệ tử cũng thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính như vậy. Họ nói với vị ấy: "Hãy đến đây, đến gần với chư Thiên".
7) Những ai thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, chư Thiên hoan hỷ nói chuyện bạn bè với họ.

06/03/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 3.6.2026

TÍN TÂM KIÊN CỐ VÀ KIẾP SAU
Kinh Cấp Cô Độc II (Dutiyānāthapiṇḍikasuttaṃ)
Kinh Cấp Cô Độc III (Tatiyānāthapiṇḍikasuttaṃ)
Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu – Sarakāni - SN 55.27. 28

Lớp Phật Pháp BuddhadhammaMôn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA Bài học ngày 3.6.2026TÍN TÂM KIÊN CỐ VÀ KIẾP SAUKinh Cấ...
06/03/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 3.6.2026

TÍN TÂM KIÊN CỐ VÀ KIẾP SAU
Kinh Cấp Cô Độc II (Dutiyānāthapiṇḍikasuttaṃ)
Kinh Cấp Cô Độc III (Tatiyānāthapiṇḍikasuttaṃ)
Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu – Sarakāni - SN 55.27. 28


Phàm phu không học đạo đối diện với cái chết bằng một tâm thức giao động. Sự "vô tín" (không tin Tam Bảo) tạo ra một cảm giác bơ vơ, mất phương hướng như người bị ném giữa đại dương đêm tối; trong khi sự thiếu giới đức hoạt động như một loại độc tố nội tâm, kích hoạt các cận tử nghiệp bất thiện, đẩy tâm vào các viễn cảnh của đọa xứ. Trái lại, Bậc Thánh đệ tử (Nhập Lưu) đối diện với cái chết bằng một tâm thế vững chãi như một ngọn núi. Bốn phẩm chất Dự lưu (Tin Phật, Pháp, Tăng và Giới hạnh trọn vẹn) không còn là các khái niệm lý thuyết, mà đã trở thành bản chất cấu trúc tâm thức của họ. Họ có một tâm thế vững chãi rằng dù thân xác này rã rời, dòng tâm thức tiếp theo chắc chắn sẽ hướng thượng.

Kinh Văn
1023. sāvatthinidānaṃ. tena kho pana samayena anāthapiṇḍiko gahapati ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. atha kho anāthapiṇḍiko gahapati aññataraṃ purisaṃ āmantesi — “ehi tvaṃ, ambho purisa, yenāyasmā ānando tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato ānandassa pāde sirasā vanda — ‘anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. so āyasmato ānandassa pāde sirasā vandatī’ti. evañca vadehi — ‘sādhu kira, bhante, āyasmā ānando yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṃ tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyā’”ti.
“evaṃ, bhante”ti kho so puriso anāthapiṇḍikassa gahapatissa paṭissutvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ ānandaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho so puriso āyasmantaṃ ānandaṃ etadavoca — “anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. so āyasmato ānandassa pāde sirasā vandati. evañca vadati — ‘sādhu kira, bhante, āyasmā ānando yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṃ tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyā’”ti. adhivāsesi kho āyasmā ānando tuṇhībhāvena.
atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. nisajja kho āyasmā ānando anāthapiṇḍikaṃ gahapatiṃ etadavoca — “kacci te, gahapati, khamanīyaṃ, kacci yāpanīyaṃ? kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṃ paññāyati, no abhikkamo”ti? “na me, bhante, khamanīyaṃ na yāpanīyaṃ. bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṃ paññāyati, no paṭikkamo”ti.
“catūhi kho, gahapati, dhammehi samannāgatassa assutavato puthujjanassa hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ. katamehi catūhi? idha, gahapati, assutavā puthujjano buddhe appasādena samannāgato hoti. tañca panassa buddhe appasādaṃ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, assutavā puthujjano dhamme appasādena samannāgato hoti. tañca panassa dhamme appasādaṃ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, assutavā puthujjano saṅghe appasādena samannāgato hoti. tañca panassa saṅghe appasādaṃ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, assutavā puthujjano dussīlyena samannāgato hoti. tañca panassa dussīlyaṃ attani samanupassato hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ. imehi kho, gahapati, catūhi dhammehi samannāgatassa assutavato puthujjanassa hoti uttāso, hoti chambhitattaṃ, hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“catūhi kho, gahapati, dhammehi samannāgatassa sutavato ariyasāvakassa na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ. katamehi catūhi? idha, gahapati, sutavā ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. tañca panassa buddhe aveccappasādaṃ attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, sutavā ariyasāvako dhamme aveccappasādena samannāgato hoti — svākkhāto bhagavatā dhammo ... pe ... paccattaṃ veditabbo viññūhīti. tañca panassa dhamme aveccappasādaṃ attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, sutavā ariyasāvako saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti — suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ... pe ... anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti. tañca panassa saṅghe aveccappasādaṃ attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ.
“puna caparaṃ, gahapati, sutavā ariyasāvako ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. tāni ca panassa ariyakantāni sīlāni attani samanupassato na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ. imehi kho, gahapati, catūhi dhammehi samannāgatassa sutavato ariyasāvakassa na hoti uttāso, na hoti chambhitattaṃ, na hoti samparāyikaṃ maraṇabhayan”ti.
“nāhaṃ, bhante ānanda, bhāyāmi. kyāhaṃ bhāyissāmi! ahañhi, bhante, buddhe aveccappasādena samannāgato homi — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe aveccappasādena samannāgato homi — suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ... pe ... anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti. yāni cimāni, bhante, bhagavatā gihisāmīcikāni sikkhāpadāni desitāni, nāhaṃ tesaṃ kiñci attani khaṇḍaṃ samanupassāmī”ti. “lābhā te, gahapati, suladdhaṃ te, gahapati! sotāpattiphalaṃ tayā, gahapati, byākatan”ti. sattamaṃ
(Đoạn mở đầu của bài kinh này giống như bài kinh trước, ngoại trừ việc cư sĩ Anāthapiṇḍika cho tho thỉnh Tôn giả Ānanda đến, cho đến đoạn dưới đây:)
“Con không thể chịu đựng nổi, bạch Tôn giả, con không thấy giảm nhẹ. Những cảm thọ đau đớn khốc liệt đang gia tăng trong con, không hề thuyên giảm, và chỉ thấy sự gia tăng của chúng chứ không thấy giảm bớt.”
“Này gia chủ, đối với kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp, người đang có bốn điều này, thì sẽ có sự kinh hãi, có sự hoảng hốt, có nỗi sợ hãi cái chết đang cận kề.Bốn điều gì?
Ở đây, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp có lòng không tin (vô tín) đối với Đức Phật, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng không tin đối với Đức Phật đó, sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp có lòng không tin đối với Chánh pháp, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng không tin đối với Chánh pháp đó, sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp có lòng không tin đối với Tăng-già, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng không tin đối với Tăng-già đó, sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp là người không giới hạnh, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm về sự thiếu giới hạnh đó, sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Này gia chủ, đối với kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp sở hữu bốn điều này, thì sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Này gia chủ, đối với vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp, người thành tựu bốn điều này, thì không có sự kinh hãi, không có sự hoảng hốt, không có nỗi sợ hãi cái chết đang cận kề. Bốn điều gì?
Ở đây, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu lòng tin bất động nơi Đức Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là... bậc Thầy của chư thiên và loài người, là Phật, là Đức Thế Tôn.’ Khi vị ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng tin bất động nơi Đức Phật đó, sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu lòng tin bất động nơi Chánh pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng... được người trí tự mình kinh nghiệm.’ Khi vị ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng tin bất động nơi Chánh pháp đó, sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu lòng tin bất động nơi Tăng-già như sau: ‘Giáo hội đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc thực hành diệu hạnh... là phước điền vô thượng ở đời.’ Khi vị ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng tin bất động nơi Giáo hội Tăng-già đó, sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu các giới hạnh được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại... đưa đến định tâm. Khi vị ấy tự quán xét trong nội tâm về các giới hạnh được các bậc Thánh ái kính đó, sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.
Này gia chủ, đối với vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu bốn điều này, thì không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.”
“Con không hề sợ hãi, bạch Tôn giả Ānanda. Tại sao con lại phải sợ hãi? Vì rằng, bạch Tôn giả, con thành tựu lòng tin bất động nơi Đức Phật… nơi Chánh pháp… nơi Giáo hội Tăng-già. Và đối với các giới quy định học tập của hàng cư sĩ được Đức Thế Tôn thuyết giảng, con không thấy trong nội tâm mình có bất kỳ giới nào bị phá hoại cả.”
“Thật là một lợi ích lớn cho ông, này gia chủ! Thật là một sự khéo đắc cho ông, này gia chủ! Ông đã tuyên bố, này gia chủ, về quả vị của bậc Dự lưu (Nhập lưu).”
Kinh Cấp Cô Độc III
(Bài kinh này hoàn toàn trùng khớp với kinh số 12:41 thuộc Tương Ưng Bộ). [388-389]
Chú Thích
Về câu nói của kẻ phàm phu khi đối diện cái chết: Sớ giải chú thích rằng, từ “quán xét trong nội tâm” (attani samanupassato) nghĩa là khi một người nằm trên giường bệnh cận kề cái chết, họ bắt đầu hồi tưởng và kiểm tra lại hành trang tâm linh của mình.
Tâm lý kẻ phàm phu phá giới: Kẻ phàm phu không có niềm tin, khi nhìn lại cuộc đời, họ chỉ thấy một khoảng trống rỗng về đức tin và một chuỗi các hành vi vi phạm giới luật (adhamma). Sự trống rỗng này tạo ra cảm giác “Kinh hãi” (tāsa) – trạng thái run rẩy của tâm lý sợ sa đọa; “Hoảng hốt” (santāsa) – sự hoảng loạn của cơ thể và ý thức trước một tương lai bất định ở cõi xấu; và “Sợ hãi cái chết cận kề” (maraṇabhaya).
Tâm lý bậc Thánh cư sĩ: Ngược lại, khi Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) tự kiểm tra nội tâm, ông nhận ra bốn phẩm chất Dự Lưu (Sotāpanna-aṅgāni) của mình đều tròn vẹn, sáng chói như những viên ngọc không tỳ vết. Sớ giải nhấn mạnh câu trả lời của ông: "Tại sao con lại phải sợ hãi?" không phải là lời tự mãn, mà là sự xác tín dựa trên hiện thực rằng "Cửa địa ngục đã đóng hoàn toàn" đối với ông. Lời chúc mừng của Tôn giả Ānanda: "Thật là một lợi ích lớn cho ông!" là lời ấn chứng công khai rằng một vị cư sĩ bận rộn với việc kinh doanh vẫn có thể đạt đến sự tự tại tuyệt đối trước cái chết nhờ vào việc an trú trong Thánh Quả.
Về kinh Kinh Cấp Cô Độc III
Vì bài kinh này được ghi nhận là trùng khớp hoàn toàn với kinh 12:41 (Kinh Năm Lo Sợ), Chú giải tập trung vào việc làm rõ năm điều oán hận:
Năm điều oán hận sợ hãi phát sanh từ việc sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, và uống rượu. Một người phá năm giới này sẽ tự nuôi dưỡng một nguồn năng lượng oán thù, sợ hãi ngay trong hiện tại (lo sợ bị luật pháp trừng phạt, lo sợ bị trả thù) và gieo nhân chịu khổ bách hại ở tương lai. Bậc Dự Lưu dứt tuyệt năm điều này nên tâm luôn đạt đến trạng thái vững tâm vô úy (Abhaya).
Sớ Giải
1023. sattame samparāyikaṃ maraṇabhayanti samparāyahetukaṃ maraṇabhayaṃ gihisāmīcikānīti gihīnaṃ anucchavikāni. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
1023. “Sattame samparāyikaṃ maraṇabhayanti” — Trong kinh thứ bảy, cụm từ “samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ” nghĩa là: sự sợ hãi về cái chết liên quan đến đời sau (samparāyahetukaṃ maraṇabhayaṃ), tức là nỗi sợ hãi cái chết phát sinh do nguyên nhân thuộc về kiếp sau.
Gihisāmīcikānīti gihīnaṃ anucchavikāni — Cụm từ “gihisāmīcikāni” nghĩa là: những điều thích hợp với người cư sĩ, những quy tắc phù hợp với gia chủ.
Sesaṃ sabbattha uttānamevāti — Phần còn lại ở khắp mọi nơi đều rõ ràng, dễ hiểu.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
III. Phẩm Saranàni
27.VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2) (S.v,385)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Lúc bấy giờ, gia chủ Anàthapindika bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
3-5) ... (giống như kinh trước, chỉ khác, đây là Tôn giả Ananda chứ không phải Tôn giả Sàriputta, và Tôn giả Ananda đi chỉ có một mình, cho đến... có dấu hiệu tăng trưởng, không có giảm thiểu).
6) -- Này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu bốn pháp nên run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn?
7) Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Phật. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Phật, vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với Pháp. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với Pháp; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín đối với chúng Tăng. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với chúng Tăng; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu ác giới. Khi vị ấy tự thấy sự thành tựu ác giới của mình; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Do thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
😎 Do thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không có sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn? Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật: "Ðây là là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn". Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Phật, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... chỉ người có trí tự mình giác hiểu". Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với Pháp, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ... lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời"... về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Khi tự thấy sự thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính của mình, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thành tựu bốn pháp này, này Gia chủ, bậc Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau.
9) -- Thưa Tôn giả Ananda, con không sợ hãi. Sao con có thể sợ hãi? Con đã thành tựu lòng tịnh tín đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... thưa Tôn giả, phàm có những học giới hòa kính (sàmici) tại gia do Thế Tôn thuyết giảng, con thấy không có tự mình vi phạm một giới nào.
10) -- Lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ! Khéo lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ ! Gia chủ đã tuyên bố về Dự lưu quả rồi.
28.VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3) (S.v,387)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:
3) -- Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, làm cho tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù (pancabhayàni), thành tựu bốn Dự lưu phần, và nhờ trí tuệ, Thánh lý (nàya) được khéo thấy, được khéo thông đạt, nếu vị ấy muốn, sẽ tự mình tuyên bố về mình như sau: "Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận các loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta là bậc Dự lưu, không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ". Thế nào là năm sự sợ hãi, hận thù được tịnh chỉ?
4) Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người sát sanh; do duyên sát sanh, sự sợ, hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, sự khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ sát sanh, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ... khởi lên cho người lấy của không cho..... khởi lên cho người tà hạnh trong các dục..... khởi lên cho người nói láo...
Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người say đắm rượu men, rượu nấu; do duyên say đắm rượu men, rượu nấu, sự sợ hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
Năm sự sợ hãi, hận thù này được tịnh chỉ.
5) Với bốn Dự lưu phần nào, vị ấy được thành tựu?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn..". đối với Pháp... đối với chúng Tăng... vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.
6) Thánh lý nào được vị ấy khéo thấy với trí tuệ, khéo thông đạt?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo như lý tác ý lý duyên khởi: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, nên hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt... nên lão tử diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này vậy.
Ðây là Thánh lý, với trí tuệ, được khéo thấy, khéo thông đạt.
7) Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, được tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù này, được thành tựu bốn Dự lưu phần này, và Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, khéo thông đạt thời nếu muốn, vị ấy có thể tự mình tuyên bố về mình như sau: "Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ

Address

13913 S Post Oak Road
Houston, TX
77045

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phap Luan Buddhist Culture Center Inc posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Phap Luan Buddhist Culture Center Inc:

Share