Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Thuyết Chú Và Những Lời Phật Dạy

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Thuyết Chú Và Những Lời Phật Dạy Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Thuyết Chú Và Những Lời Phật Dạy, Buddhist Temple, Houston, TX.

THỨ TƯ 27/10/2021 NHẰM NGÀY 22/09 LỊCH TÂY TẠNG Tạng LÀ NGÀY LHABAB DUCHEN - PHẬT TRỞ VỀ TỪ CUNG TRỜI ĐAO LỢI - ĐẠI CÁT ...
10/27/2021

THỨ TƯ 27/10/2021 NHẰM NGÀY 22/09 LỊCH TÂY TẠNG Tạng LÀ NGÀY LHABAB DUCHEN - PHẬT TRỞ VỀ TỪ CUNG TRỜI ĐAO LỢI - ĐẠI CÁT TƯỜNG ĐỂ TÍCH LUỸ CÔNG ĐỨC |

Tommorrow is Lhabab Duchen, one of four most auspicious days of year when your merit will be multipled by million times

Theo truyền thống của Mật Tông Tây Tạng (Tạng Mật) thì ngày Vía Đức Thích Ca Hạ Thế Từ Cung Trời Đao Lợi là một ngày cát tường nhất trong năm. Trong ngày này MỌI VIỆC LÀM TỐT hay XẤU ĐỀU TĂNG TRƯỞNG NĂNG LỰC LÊN 10 TRIỆU LẦN

Sắp đến cuối năm rồi khi mọi nghiệp chướng của một năm đã đủ tích luỹ để biểu hiện thành những khó khăn tiêu cực, các hành giả Phật giáo rất tận dụng dịp quý hiếm này để thực hành pháp và làm việc thiện tạo công đức: hành trì mật chú, cúng dường Đạo sư, thực hành các lễ tịnh hoá, phóng sinh, cúng dường Tam bảo, giúp đỡ người khó khăn, cứu trợ người bệnh hoạn, gieo duyên cho những ai chưa biết đến Phật pháp...có vô số thứ có thể dễ dàng làm được.

Xin chia sẻ để những người thân của mình có dịp tận dụng ngày cát tường này.
---
Theo truyền thống của Mật Tông Tây Tạng (Tạng Mật) thì ngày Vía Đức Thích Ca Hạ Thế Từ Cung Trời Đao Lợi là một ngày cát tường nhất trong năm.

Theo lịch sử Phật Giáo thì sau khi thành đạo, trong 41 năm đức Thích Ca thường nhập thiền định vào mùa mưa và thời an cư kiết ha. Chư đệ tử chỉ thấy Ngài ngồi thiền định, nhưng thực ra trong lúc đó có khi Ngài phân thân đi nơi khác hoằng đạo.

Tương truyền là Ngài đã thi triển thần thông đi lên trên cung trời Đao Lợi Thiên và ở tại đó 3 tháng (tính theo thời giờ của nhân gian) để thuyêt pháp cho Hoàng Hậu Ma Gia.

Tương truyền là 7 ngày trước khi Đức Thích Ca hạ thế từ Đao Lợi, Ngài ngưng tàng hình và nhờ đó mà đại đệ tử của Ngài là A Nậu Lâu Đà mới có thể dùng thiên nhãn để thấy được Ngài. Do đó A Nậu Lâu Đà đã thỉnh vị đệ tử Đệ Nhất Thần Thông Mục Kiền Liên bay lên cung trời Đao Lợi để đón Ngài hạ thế. Mục Kiền Liên tuân lời A Nậu Lâu Đà và bay lên Đao Lợi để thỉnh Đức Thích Ca hạ thế và bạch Ngài là chư đệ tử rất nhớ Ngài và xin thỉnh Ngài trở về lại cõi nhân gian để thuyết pháp cho tăng đoàn. Ngài trả lời là sẽ trở về trong 7 ngày. Khoảng thời gian này là lúc đang dựng tượng của vua Ba Tư Nặc.

Ngày Đức Thích Ca hạ thế, một đoàn thể lớn của chư tăng, các vua chúa và dân chúng của 8 nước lân cận họp nhau tề tựu đón mừng. Khi Đức Thích Ca hạ thế, một cái cầu thang bằng vàng bay từ trời xuất hiện trước theo mỗi bước Ngài đi xuống. Bên phải Ngài là vị trời Phạm Thiên , tay cầm phất trần màu trắng và đi xuống trên một cầu thang bằng pha lê trong suốt. Bên trái Ngài là vị trời Đế Thích đi xuống trên một cầu thang bằng bạc, tay cầm lọng che làm bằng châu bảo. Một đoàn thể chư thiên đi theo sau để tiễn đưa Ngài về cõi nhân gian.

Đức Phật tắm ngay sau khi hạ thế, sau này tại đó có xây một ngôi nhà và một bảo tháp để ghi lại dấu tích. Nơi Đức Thích ca hạ thế là thành Sankàsya nước Xá-vệ của Ấn độ, ngày nay còn là một nơi chốn có rất nhiều Phật tử đi hành hương.

Mọi thực hành trong ngày này, Thiện Nghiệp và Bất thiện nghiệp đều tăng trưởng 10 triệu lần.

༄༅། །ན་མོ་གུ་རུ་ཤཱཀྱ་མུ་ན་ཡེ།

Namo guru śākyamunaye!

Lễ tán đến Đấng Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật:

Với tình thương lớn, trong cõi trược ác, đấu

Phát năm trăm lời thệ nguyện thật rộng sâu

Như sen trắng đẹp, nghe danh, không thối chuyển

Chí thành đảnh lễ Đấng Từ Phụ Bổn Sư!

Đấng Đạo Sư Vô Thượng, Bạc Già Phạm, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác Viên Mãn, Thiên Nhân Sư, Phật Đà Thích Ca Năng Nhân, con chí thành đảnh lễ, xin nguyện quy y, thành tâm cúng dường.

ཏ་དྱ་ཐཱ། ཨོཾ་མུ་ནེ་མུ་ནེ་མ་ཧཱ་མུ་ན་ཡེ་སྭ་

TADYATA OM MUNI MUNI MAHA MUNAYE SOHA

Tadya tha! Om mu ni mu ni ma ha mu na ye so ha.

Mong mọi sự tốt lành !

https://thuvienhoasen.org/a30053/kinh-ma-ha-ma-da..

1. Sở dĩ ta đau khổ chính là vì ta mãi đeo đuổi những thứ sai lầm.2. Khi ta vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải ...
08/23/2021

1. Sở dĩ ta đau khổ chính là vì ta mãi đeo đuổi những thứ sai lầm.

2. Khi ta vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi ta đau khổ, hãy nghĩ rằng nỗi đau khổ này cũng không trường tồn.

3. Đừng nên có thái độ bất mãn người khác hoài mà hãy quay về kiểm điểm chính ta. Bất mãn người khác là tự chuốc khổ cho chính mình.

4. Đừng có khẳng định về tư tưởng cách nghĩ của ta quá, như vậy sẽ ta đỡ phải hối hận, cắn rứt và đau khổ hơn.

5. Khi ta thành thật được với chính mình, thế giới sẽ không ai lừa dối ta.

6. Do ta cứ xem những chuyện đơn thuần thành quá nghiêm trọng nên ta sẽ rất đau khổ.

7. Từ bi là vũ khí lớn nhất của ta và của tất cả mọi người.

8. Ta hãy cần đối diện với sự thật thì ta mới vượt qua được sự thật.

9. Một người không biết yêu thương chính mình thì người đó sẽ không bao giờ biết yêu thương mọi người xung quanh.

10. Có lúc ta muốn thầm hỏi mình, ta đang đeo đuổi cái gì? Ta sống vì cái gì?

11. Nếu ta có thể đứng ở góc độ của người để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi.

12. Thế giới này vốn không thuộc về mình, do đó mình không cần bỏ nó. Cái mình cần vứt bỏ chính là tính Chấp của mình. Mọi vạn vật nó đều cung ứng cho mình nhưng nó không thể thuộc về mình mãi mãi.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT !
Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Hãy nhớ những lời Phật dậy để cho bản thân mình tốt hơn và bỏ chấp với những khổ đau nhé !

37 PHẨM TRỢ ĐẠO LÀ GÌ? BAO GỒM NHỮNG GÌ? Ý NGHĨA RẤT QUAN TRỌNG DÀNH CHO MỌI NGƯỜI TU TẬP 37 phẩm trợ đạo hay “Tam thập ...
08/11/2021

37 PHẨM TRỢ ĐẠO LÀ GÌ? BAO GỒM NHỮNG GÌ? Ý NGHĨA RẤT QUAN TRỌNG DÀNH CHO MỌI NGƯỜI TU TẬP

37 phẩm trợ đạo hay “Tam thập thất bồ đề phần” là ba mươi bảy pháp môn hỗ trợ người tu hành trên con đường đạt đến trạng thái tỉnh thức, giác ngộ. Trong giáo lý của đạo Phật, 37 phẩm trợ đạo là con đường chính nằm trong “Tứ Diệu đế” hay cụ thể là Đạo đế. Vì vậy, người tu hành khi hiểu và tu tập theo 37 phẩm trợ đạo sẽ diệt trừ được mọi tham chấp, phiền muộn, vô minh.

37 phẩm trợ đạo

37 phẩm trợ đạo là gì?

37 phẩm trợ đạo được chia ra làm 7 phần là:

1.Tứ niệm xứ (Tứ niệm trụ)

2.Tứ Chánh Cần

3.Tứ Như Ý Túc

4.Ngũ Căn

5.Ngũ Lực

6.Thất Giác Chi

7.Bát Chánh đạo

Nội dung cụ thể của từng phần bao hàm các điều sau:

🌞 1.Tứ niệm xứ

Tứ Niệm xứ hay Tứ Niệm trụ, tứ ý chỉ, tứ niệm có nghĩa là 4 phạm trù thân – thọ – tâm – pháp. 4 phạm trù này cũng chính là mấu chốt để người tu hành tập trung ý niệm của mình khi tu tập.

Tại sao lại là 4 phạm trù này? Theo giáo lý nhà Phật, khi ta muốn thấu hiểu bất cứ điều gì thì phải dùng quán niệm. “Quán” tức là vận dụng trí tuệ để tư duy, phân tích, thấu hiểu được bản chất của sự việc. “Niệm” tức là nhớ, suy nghĩ đến đối tượng đang cần quan sát, tư duy. Như vậy, chỉ khi ta thật sự tập trung vào một trong 4 phạm trù này khi tu tập thì ta mới hoàn toàn ngăn chặn được những tạp niệm khởi lên trong tâm mình.

Vậy phân tích Tứ Niệm xứ ta thấy được:

Quán niệm về thân hay Thân niệm trụ, Thân niệm xứ: Có nghĩa là thực hành phép thiền định về thân. Ta ý thức được sự bình yên của cuộc sống hiện tại thông qua việc quán thân trong hơi thở (ý thức, nhận biết mình đang hít vào, thở ra, hơi thở nông – sâu), quán thân trong cử chỉ đi – đứng – nằm – ngồi (ý thức, tập trung trong mọi hoạt động của thân thể), quán thân hiểu được thân thể này là vô thường.
Quán niệm về thọ hay Thọ niệm trụ, Thọ niệm xứ: “Thọ” có nghĩa là cảm thọ, là sự chấp nhận. Thọ có 3 trạng thái: “Lạc thọ” – cảm giác sung sướng, thích thú; “Khổ thọ” – cảm giác khổ đau, buồn chán; “Bất khổ bất lạc thọ” – cảm giác trung dung, không quá sung sướng, không quá khổ đau. Như vậy, quán niệm về thọ tức là ta thực hành nhận thức cảm giác, cảm xúc của bản thân. Ta chấp nhận chúng dù có dễ chịu, trung tính hay khó chịu vì ta biết các cảm giác này là vô thường, là không kéo dài mãi mãi.
Quán niệm về tâm hay Tâm niệm trụ, Tâm niệm xứ: Tức là thực hành nhận diện các biểu hiện của “tâm” trong đời sống. Tâm có thể tồn tại ở các dạng: Tâm thiện, tâm ác, tâm tham, tâm ích kỷ… “Quán niệm về tâm” tức là thực hành quan sát về tâm của chính mình để hiểu sự có mặt, sự thay đổi trạng thái của nó.
Quán niệm về pháp hay Pháp niệm trụ, Pháp niệm xứ: Trong đạo Phật, “pháp” được hiểu với ý nghĩa rất rộng, gồm cả vật chất, tinh thần, tâm lý, vật lý, vũ trụ, nhân sinh. Quán niệm về pháp tức là hiểu rằng mọi pháp đều phụ thuộc vào nhau, tác động lẫn nhau, hiểu được mối liên hệ của bản thân và vũ trụ, hiểu được mọi pháp đều vô ngã.

🌞 2.Tứ chánh cần

“Cần” có nghĩa là tinh cần để đoạn trừ cái ác, sự biếng nhác của bản thân trên con đường hành thiện. “Tứ chánh cần” tức là bốn phương tiện như sau:

Nỗ lực ngăn ngừa những việc ác tâm nhưng chưa sinh ra.
Không tái phạm, vượt qua được những việc ác đã lỡ phát sinh ra.
Thực hành làm những điều thiện đã có sẵn.
Thực hành làm cho những điều thiện phát sinh nhiều thêm.
37 phẩm trợ đạo

🌞 3.Tứ Như Ý Túc

“Như ý” tức là đạt được như ý mình. “Túc” nghĩa là chân, sự nương tựa, sự đầy đủ. “Tứ Như Ý Túc” có nghĩa là 4 phương tiện giúp ta đạt được thành tựu như ý muốn. 4 phương tiện đó bao gồm: Dục Như Ý túc, Tinh tấn Như Ý túc, Nhất tâm tứ Như Ý túc và Quán Như Ý túc. Cụ thể,

Dục Như Ý túc: Tức là mong muốn được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, sống một cuộc đời thanh cao, đẹp đẽ.
Tinh tấn Như Ý túc: Tức là chuyên nhất, kiên định, tinh thần tu tập mạnh mẽ để đạt được mục đích giải thoát.
Nhất tâm tứ Như Ý túc: Tức là chuyên tâm nhất nhất vào mục đích, không tán loạn để đạt được thành công.
Quán Như Ý túc: Tức là quan sát pháp mình đang tu bằng trí tuệ sáng suốt, đạt đến trạng thái thiền định.

🌞 4.Ngũ căn

“Ngũ căn” tức là năm nền tảng căn bản để phát sinh thiện pháp, là con đường đưa về chánh đạo. Năm can ấy bao gồm: Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn và Huệ căn.

Tín căn: Tức là tin tưởng tuyệt đối, chắc chắn vào Tam bảo và đạo lý Tứ Diệu đế. Niềm tin này được xây dựng từ lý trí, từ tư duy kỹ càng, từ trí tuệ sau khi đã tìm hiểu một cách kỹ càng và minh bạch.
Tấn căn: Tức là siêng năng, kiên trì, nỗ lực đến cùng trong việc thực hành tu tập đạt đến giải thoát mà không bao giờ được thoái lui.
Niệm căn: Tức là nhớ, suy nghĩ đến những phương tiện trợ duyên trên con đường hướng đến giải thoát. “Niệm” ở đây là: Nhớ thực hành bố thí (niệm thí); Nhớ đến việc trì tịnh giới nhằm diệt trừ các phiền não, nghiệp chướng (niệm giới); Nhớ đến cách tu tập bốn thiền định nhằm thanh lọc tất cả phiền não (niệm thiên).
Định căn: Tức là tập trung tâm tưởng vào một chỗ, không để ngoại cảnh tác động khiến cho dao động.
Huệ căn: Tức là hiểu rõ được chân lý của muôn pháp, tiêu trừ phiền não, hình thành năng lực thiện pháp.

🌞 5.Ngũ lực

“Ngũ lực” là sức mạnh sinh ra trong quá trình tu hành, giúp duy trì sự kiên định liên tục để đạt đến sự giải thoát. Nếu ví ngũ căn như 5 cánh tay thì ngũ lực chính là sức mạnh của 5 cánh tay. Nội dung của ngũ lực bao gồm:

Tín lực: Sức mạnh sinh ra từ tín căn có khả năng phá hủy những tà tín.
Tấn lực: Sức mạnh sinh ra từ tinh tấn căn, có khả năng phá hủy sự lười biếng của thân.
Niệm lực: Sức mạnh sinh ra từ niêm căn, có khả năng phá hủy mọi tà niệm đồng thời giữ gìn chánh niệm bằng tứ niệm xứ.
Định lực: Sức mạnh sinh ra từ định căn, có khả năng chống lại những loạn tưởng, diệt dục phiền não.
Huệ lực: Sức mạnh sinh ra từ huệ căn, có khả năng giải thoát bằng cách phá hủy quán ngộ Tứ đế, thành tựu trí tuệ.

🌞 6.Thất Giác Chi

Tức là 7 phương tiện giúp chúng sinh đi đến giải thoát giác ngộ. Đó là:

Niệm giác chi: Tiêu diệt tà niệm, vọng tâm để hiểu rõ chân tướng vô thường, khổ não, vô ngã của vạn vật trong vũ trụ.
Trạch pháp giác chi: Tức là từ việc phân tích một cách khách quan các pháp để nhìn ra đâu là thật, đâu là giả.
Tinh tấn giác chi: Đề cao tầm quan trọng của việc kiên trì, nỗ lực, cố gắng để đạt tới sự giải thoát.
Hỷ giác chi: Tức nói đến sự hoan hỷ, tinh thần phấn chấn, vui thích trên con đường tu đạo vốn nhiều khó khăn.
Khinh an giác chi: Tức là tâm an tịnh, thư thái, không bị giao động.
Định giác chi: Tức là tập trung trí tuệ đến mức kiên định để đạt đến sự giải thoát giác ngộ.
Xả giác chi: Tức là thản nhiên, tự tại trước những nghịch cảnh.

🌞 8.Bát chánh đạo

37 phẩm trợ đạo

Là con đường 8 nhánh (hoặc 8 con đường đúng đắn) đưa chúng sinh đạt tới giải thoát. Tám nhánh của con đường đó là :

Chánh kiến: Tức là biết đúng, hiểu đúng về chính bản thân mình và vạn vật xung quanh, từ đó diệt trừ các chấp ngã mê lạc.

Chánh tư duy: Tức là suy nghĩ, nghiền ngẫm những chân lý Phật dạy để từ đó thật sự hiểu đúng và kiên định trên con đường tu tập.

Chánh ngữ: Tức là nói sao cho đúng, nói sao cho ngay thẳng, hợp lý và công bằng. Đồng thời, lời nói cần tránh gây chia rẽ bất hòa, tránh dùng lời nói thô tục để làm nhục kẻ khác, tránh nói chuyện vô bổ

Chánh nghiệp: Tức là làm việc chân chính, làm điều thiện lương đúng với lẽ phải. Mục đích của việc này là để tạo ra công đức để thoát khỏi luân hồi sinh tử.

Chánh mạng: Tức là làm ăn sinh sống bằng nghề thiện lương, tránh nghề sát sinh, bài bạc, buôn bán vũ khí, vũ trường…

Chánh tinh tấn: Tức là siêng năng, kiên định vào con đường tu tập.

Chánh niệm: Tức là ghi nhớ, suy nghĩ về những đạo lý đúng đắn, chân chính, từ đó diệt trừ tà tâm, phát triển chánh tâm.

Chánh định: Tức là kiên định để thấy rõ bản chất thực sự của sự vật hiện tượng, từ đó diệt trừ những vọng tưởng tham-sân-si.
Kết luận

37 phẩm trợ đạo là “con đường lớn” chỉ dẫn, đưa người tu hành đi đúng hướng trên con đường hướng đến cõi niết bàn giải thoát. Nói theo thầy Thích Thông Lạc thì nếu người tu hành có hiểu biết về 37 phẩm trợ đạo thì sẽ không bao giờ có thể “đi chệch” khỏi đường lối của Phật giáo, tức là không dễ bị các pháp môn ngoại đạo làm lung lay, lừa dối. Vì thế, trước khi thực hành tu tập, người tu hành cần nghiên cứu kỹ lưỡng về 37 pháp môn này.

08/11/2021

TỨ DIỆU ĐẾ
BÁT CHÁNH ĐẠO

Đức Phật dạy bài pháp về Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo Vi Diệu Thù Thắng

Bảy tuần sau khi chứng đạt giác ngộ, Đức Phật không định thuyết pháp. Nhưng vua trời Phạm Thiên và Đế Thích đã cúng dàng thiên nhạc thỉnh cầu Đức Phật chuyển pháp luân vì lợi ích chúng sinh cõi Sa bà.

Với Phật nhãn, Đức Phật thấy năm người bạn đồng tu xưa kia của mình và quyết định họ sẽ là những người đầu tiên được nghe giáo pháp của Ngài. Kinh Chuyển Pháp luân chính là bộ kinh đầu tiên Đức Phật thuyết giảng cho năm anh em ông Kiều Trần Như.

Đạo Phật theo con đường ở giữa (Trung Đạo)
“Này các thầy Tỳ Kheo! Có hai cực đoan mà bậc xuất gia phải tránh:

🌞Thứ nhất là chìm đắm trong dục lạc .Đó là điều thắp hèn, phàm tục và vô ích.

🌞Thứ hai là theo lối tu khắc khổ .Đó là điều gây khổ sở và vô ích.

Các thầy hãy từ bỏ hai cực đoan ấy.
Như Lai (Đức Phật thường dùng danh từ này để tự xưng mình) đã thấu hiểu rằng Con đường ở giữa Trung đạo hai cực đoan ấy, tức là không thiên về một bên nào quá đáng mà Như Lai đã áp dụng để phát triển nhãn quan, sự hiểu biết phân minh, tiến đến sự an tịnh đưa đến trí tuệ , giác ngộ (và Niết-bàn hay con đường dứt khổ.

🌞Thế nào là Bát Chánh Đạo?

Này các thầy Tỳ Kheo! Phép tu hành theo con đường ở giữa mà Như Lai đã ngộ là sự tu hành để phát triển nhãn quan, tri kiến, đưa đến sự an tịnh, trí tuệ cao siêu, giác ngộ và Niết-bàn là gì?
– Đó là Bát Chánh Đạo!

Bát Chánh Đạo là con đường có 8 nhánh là:

1.-Chánh Kiến
2.-Chánh Tư duy
3.-Chánh Ngữ
4.-Chánh Nghiệp
5.-Chánh Mạng
6.-Chánh Tinh Tấn
7.-Chánh Niệm
8.-Chánh Định

Tứ Diệu Đế là 4 chân lý cao cả, gốc cơ bản của Phật giáo, là nội dung chính của bài Kinh đầu tiên, kinh Chuyển Pháp Luân của Phật giáo do đức Phật giảng giải

🌞Tứ Diệu Đế là gì?

Tứ Diệu Đế , là bốn chân lí cao cả/ cao thượng; cũng gọi là Tứ thánh đế . Đây là trọng tâm của bài thuyết Pháp này.

1. Khổ Đế: Này các thầy Tỳ Kheo! Bây giờ Như Lai giảng về Chân Lý Cao thượng về sự Khổ: Sanh là sự hợp lại của Ngũ Uẩn, là khổ; Lão/già là khổ, bịnh là khổ, tử/chết là sự tan rã Ngũ Uẩn, là khổ. Buồn rầu, lo lắng, thất bại, rối loạn tâm thần là khổ. Sống chung với người mình không ưa thích là khổ, lìa xa người thân yêu là khổ, ước muốn mà không được là khổ. Nói cách khác, có thân Ngũ Uẩn là khổ, vì ngũ uẩn là vô thường, biến đổi không ngừng.

2.Tập Đế: Này các thầy Tỳ Kheo! Đây là Chân Lý Cao thượng về nguyên nhân của khổ đau: Chính lòng ham muốn được tái sanh, chìm đắm trong dục lạc, tức là, lòng ham muốn chìm đắm trong khoái cảm dục vọng, ham muốn mọi vật được trường tồn vĩnh cữu, lòng ham muốn trong tâm ý rằng sau cái chết thì không còn gì nữa; đó là nguyên nhân của khổ đau.

3. Diệt Đế: Này các thầy Tỳ Kheo! Đây là Chân Lý Cao Thượng về sự diệt khổ đau. Đó là sự chấm dứt lòng ham muốn, không luyến tiếc.

4. Đạo Đế: Này các thầy Tỳ Kheo! Đây là Chân Lý Cao thượng về con đường dẫn đến sự diệt khổ. Đó chính là Bát Chánh Đạo.

🌞Tam Chuyển Pháp Luân, Thập Nhị Hành nghĩa là gì?

Để giúp 5 vị Tỳ Kheo hiểu thấu rõ Tứ Điệu Đế, Đức Phật thực hiện tam chuyển Pháp luân cho mỗi Đế. Có 4 Đế, nên có 12 hành, người Trung Hoa gọi là Thập nhị hành ( 3 chuyển x 4 Đế = 12 hành).

1. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Khổ Đế:

Thị Chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Khổ đế [sự thật về nỗi khổ đau: phiền não, sanh tử luân hồi…] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu.
Khuyến chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết Khổ Đế này.
Chứng chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã chứng nghiệm được Khổ Đế này. Nên nhãn quan, sự biết, sự hiểu, trí tuệ biết rõ, chân hiểu biết và ánh sáng đã phát sanh đến Như Lai. [Ánh sáng ở đây có thể hiểu là “diệt trừ được vô minh”]

2. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Tập Đế:

Thị chuyển: Này các Tỳ Kheo! Khổ Tập Đế [sự thật về các nguyên nhân của đau khổ, phiền não, và sanh tử luân hồi] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu.
Khuyến chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết các nguyên nhân của sự khổ: Khổ Tập Đế.
Chứng chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã chứng nghiệm được Khổ Tập Đế này. Nên nhãn quan, sự biết, sự hiểu, trí tuệ biết rõ, chân hiểu biết và ánh sáng đã phát sanh đến Như Lai.

3. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Diệt Đế:

Thị chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Khổ Diệt Đế [sự thật về việc phải diệt trừ sự khổ đau để đạt được an lạc, thanh tịnh, hạnh phúc và giác ngộ] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu.
Khuyến chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết cần phải dứt bỏ, tiêu diệt sự khổ đau: Khổ Diệt Đế.
Chứng chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã trải nghiệm quyết định tiêu diệt sự khổ đau: Khổ Diệt Đế. Nên nhãn quan, sự biết, sự hiểu, trí tuệ biết rõ, chân hiểu biết và áng sáng đã phát sanh đến Như Lai.

4. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Diệt Khổ Đạo Đế (Bát Chánh Đạo):

Thị chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Diệt Khổ Đạo Đế (=Bát Chánh Đạo) [8 con đường có 8 chi nhánh dẩn đến việc diệt trừ khổ đau] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu.
Khuyến chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết Diệt Khổ Đạo Đế để giúp dẫn đến việc diệt trừ khổ đau.
Chứng chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã thực nghiệm “Bát Chánh Đạo”. Khi Diệt Khổ Đạo Đế được thực hiện và được phát triển thì nhãn quan, sự hiểu, sự biết, trí tuệ biết rõ, chân hiểu biết và ánh sáng đã phát sanh đến Như Lai.

Sau khi kết thúc tam chuyển Pháp luân - thập nhị hành, Đức Phật Thích ca giảng tiếp: Này các thầy Tỳ Kheo! Nếu Như Lai chưa hoàn toàn thấu triệt Tứ Diệu Đế về ba phương diện và đủ mười hai phương thức một cách hoàn toàn sáng tỏ thì Như Lai đã không xác nhận điều này trước thế gian này gồm có cả chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn, Con người và loài ngoài hạng con người nữa rằng Như Lai đã đạt được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Trong khoảnh khắc ấy tiếng hoan hô vang dội làm rung chuyển mạnh mẽ, chỉ trong nháy mắt đã làm cả 10.000 thế giới trong cõi Phạm Thiên đều rung chuyển theo. Một hào quang vô cùng rực rỡ hơn tất cả hào quang của chư Thiên đã chiếu sáng trên thế gian. Đức Phật liền nói: “Kondanna quả đã giác ngộ! Kondanna quả đã giác ngộ! Từ đó Kondanna được gọi tên là Annata Kondanna, có nghĩa là “Kondanna là người đã giác ngộ”. Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh Pali), quyển V, trang 420.

🌞Ngài Kondanna (Kiều Trần Như) - đệ tử đầu tiên của đức Phật, đã ngộ lời giảng dạy của Đức Phật Thích ca về triết lý vô thường khi Kondanna phát biểu: “Cái gì đã có sanh tất phải có diệt"
Trong Luật tạng có nơi nói rằng Ngài Kondanna thỉnh cầu Đức Phật cho Ngài làm đệ tử của Phật, Đức Phật đã chấp thuận. Kondanna là vị sư xuất gia đầu tiên, Tăng đoàn (Sangha) đã được thành lập từ đó, tiếp theo là 4 vị Tỳ Kheo kia cũng gia nhập tăng đoàn và họ lần lượt chứng quả Arahant. Ngài Kondanna đã ngộ lời giảng dạy của Đức Phật Thích ca về triết lý vô thường khi Kondanna phát biểu:

“Cái gì đã có sanh tất phải có diệt”.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma SamBuddhaSa 🙏🙏🙏

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 🙏🙏🙏

Giáo sư triết học Nguyễn Vĩnh Thường

Kinh Di Giáo 🌞 Lời dạy của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi Nhập Niết BànKinh Giáo huấn vắn tắt của Phật l...
08/10/2021

Kinh Di Giáo

🌞 Lời dạy của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi Nhập Niết Bàn

Kinh Giáo huấn vắn tắt của Phật lúc sắp niết bàn (cũng gọi là kinh Giáo huấn để lại của Phật)

Đức Phật nói Kinh Di Giáo và những lời phú chúc
Lúc bấy giờ các đệ tử Ngài đều có mặt đông dủ, chỉ trừ ông Ca Diếp vì đi thuyết pháp xa, chưa kịp về. Ngài hội tất cả đệ tử và tín đồ đến quanh Ngài và dặn dò một lần cuối. Ngài phú chúc như sau:

(a) Y, bát của Ngài sẽ truyền cho ông Ma Ha Ca Diếp.

(b) Các đệ tử phải lấy giới luật làm thầy.

(c) Ở đầu các Kinh, phải nêu lên 4 chữ: “Như thị ngã văn”.

(d) Xá lợi của Ngài sẽ chia làm 3 phần:

- Một phần cho thiên cung,

- Một phần cho long cung,

- Một phần chia cho tám vị Quốc vương ở Ấn Độ.

Sau đây là lời phú chúc của Ngài đã để lại trong giờ phút cuối cùng:

“Này ! Các người phải tự thắp đuốc lên mà đi ! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát ! Đừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác, đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các người !”

“Này ! Các người đừng dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì quý giá. Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ có đạo ta là quý báu. Chỉ có Chân lý của đạo ta là bất di, bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hỡi các người rất thân yêu của ta !”.

🌞 Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chuyển đẩy bánh xe chánh pháp lần đầu tiên hóa độ tôn giả Kiều Trần Như, thuyết pháp lần cuối cùng hóa độ tôn giả Tu Bạt Đà La. Những người có thể hóa độ, Ngài đã hóa độ tất cả. Hôm nay, trong rừng Sa la, giữa cây song thọ, Ngài sắp niết bàn. Bấy giờ là lúc giữa đêm, hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động, Ngài đã vì các đệ tử mà nói tóm tắt những điều cốt yếu của chánh pháp.

Các thầy Tỷ kheo, sau khi Như lai diệt độ, các thầy phải trân trọng tôn kính tịnh giới, như mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu Như lai ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy.

Giữ tịnh giới thì các thầy không được buôn, bán, đổi chác, sắm sửa đất nhà, nuôi người, tôi tớ và súc vật, lo việc gieo trồng, kinh doanh tài bảo. Tất cả việc này, hãy tránh như tránh hố lửa. Kể cả việc chặt phá cỏ cây và đào cuốc đất đai. Những việc chế thuốc thang, coi bói tướng, coi thiên văn, đoán thời tiết, tính lịch số, đều không thích hợp với các thầy. Các thầy hãy tiết chế cơ thể, ăn đúng thì giờ, sống bằng cách sống trong sạch, không được tham dự thế sự, lãnh sứ mạng liên lạc. Chú thuật, thuốc tiên, giao hảo quyền quí, và thân thiết với họ, rồi hèn hạ, ngạo mạn, tất cả đều không được làm. Phải tự đoan tâm, chánh niệm cầu độ. Không được che dấu lầm lỗi, tỏ ra kỳ dị để mê hoặc quần chúng. Đối với bốn sự hiến cúng thì phải biết tự lượng và biết vừa đủ. Hễ được hiến cúng thì không nên tích trữ.

Đó là Như Lai nói tóm tắt về sự giữ giới. Giới thì chính thuận với căn bản của sự giải thoát, nên Như Lai mệnh danh Ba la đề mộc xoa. Nhờ giới mà phát sinh thiền định, và trí tuệ có năng lực hủy diệt thống khổ.

Thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy giữ tịnh giới, đừng cho vi phạm, thiếu sót. Ai giữ tịnh giới thì người đó có thiện pháp. Không có tịnh giới thì mọi thứ công đức không thể phát sinh. Do đó mà biết tịnh giới là chỗ yên ổn nhất, làm nơi trú ẩn cho mọi thứ công đức.

Các thầy Tỷ kheo, đã ở trong tịnh giới thì phải chế ngự năm thứ giác quan, không cho phóng túng vào trong năm thứ dục lạc. Như kẻ chăn trâu, cầm gậy mà coi giữ, không cho phóng túng, phạm vào lúa má của người. Phóng túng năm thứ giác quan, thì không những chỉ có năm thứ dục lạc, mà có thể sẽ không còn giới hạn nào nữa, không thể cấm chế. Như con ngựa hung hãn mà không được chế ngự bằng giây cương, thì sẽ mang người lao xuống hầm hố. Giặc cướp làm hại, khổ chỉ một đời, còn giặc giác quan họa đến nhiều kiếp: tai hại rất nặng, các thầy không thể không cẩn thận. Thế nên người có trí thì chế ngự mà không theo, giữ như giữ giặc, không cho phóng túng. Giả sử phóng túng năm thứ giác quan thì cũng không bao lâu ta sẽ thấy chúng tàn diệt tất cả.

Các thầy Tỷ kheo, năm thứ giác quan do tâm chủ động, vì vậy mà các thầy lại phải thận trọng chế ngự tâm mình. Tâm còn đáng sợ hơn cả rắn độc, thú dữ, giặc thù, lửa dữ bùng cháy lan tràn cũng chưa đủ để ví dụ cho tâm. Như một kẻ tay bưng bát mật mà chuyển động chạy nhảy, chỉ thấy bát mật chứ không thấy hố sâu, như thế không khác gì voi điên mà không có móc sắt, vượn khỉ mà được cây rừng, thì sẽ hung hăng nhảy vọt, khó mà ngăn cản; các thầy phải cấp tốc tỏa chiết, đừng cho phóng túng. Phóng túng tâm ra thì làm tan nát việc thiện của người. Chế ngự tâm lại một chỗ thì không việc gì không thành. Thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy nỗ lực tinh tiến mà chiết phục tâm mình.

Các thầy Tỷ kheo, thọ dụng đồ ăn thức uống, hãy coi như việc uống thuốc, ngon không ham, dở không bỏ, vừa đủ duy trì cơ thể cho khỏi đói khát. Như ong lấy hoa, chỉ lấy mùi vị mà không tổn thương hương sắc, người xuất gia cũng vậy. Thọ dụng cúng phẩm của người vừa khỏi đói khát thì thôi, không được ham cầu cho nhiều, phá vỡ thiện niệm của họ. Hãy bắt chước kẻ khôn ngoan, biết lượng sức lực con trâu của mình chịu đựng nhiều ít, không dùng quá sức đến nỗi kiệt lực.

Các thầy Tỷ kheo, ban ngày thì nỗ lực thực tập thiện pháp, không để thì giờ lướt mất, đầu đêm cuối đêm cũng đừng phế bỏ, giữa đêm lại phải tụng niệm để tự tiêu trừ điều ác, sinh trưởng điều thiện. Đừng vì lý do ngủ nghỉ mà để đời mình trôi đi, không được một chút ích lợi. Hãy nhớ ngọn lửa vô thường đốt cháy thế gian, để sớm cầu tự độ, đừng ham ngủ nghỉ. Giặc phiền não thường rình giết ta, dữ hơn kẻ thù, tại sao ta có thể ngủ nghỉ mà không tự cảnh giác? Phiền não ngủ trong tâm, cũng như rắn hổ mang màu đen nằm ngủ trong nhà, các thầy phải dùng móc sắt giữ giới mà cấp tốc móc kéo nó ra. Rắn ngủ ra rồi mới nên yên tâm ngủ nghỉ. Không ra mà ngủ thì thật là kẻ không biết hổ thẹn. Sự hổ thẹn là phục sức đẹp nhất trong mọi thứ phục sức. Như cái móc sắt, sự hổ thẹn có năng lực chế ngự mọi thứ phi pháp của con người. Thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy luôn luôn biết hổ thẹn, sỉ nhục, đừng bao giờ, dầu chỉ tạm thời mà thôi, được phép quên mất đức tính ấy. Mất hổ thẹn là mất công đức. Có hổ thẹn là có thiện pháp, không hổ thẹn thì không khác gì cầm thú.

Các thầy Tỷ kheo, nếu ai cắt xả thân thể các thầy ra từng đốt, các thầy cũng phải tự kềm chế tâm mình, đừng cho giận dữ. Lại phải giữ lấy miệng lưỡi, đừng để phát ra lời tiếng không tốt. Tâm giận dữ nổi lên là tự hại đạo nghiệp, hư mất công đức. Đức tính của Nhẫn, giữ giới và khổ hạnh không thể sánh bằng. Thực hành đức Nhẫn mới được mệnh danh là bậc thượng nhân có sức mạnh. Kẻ nào không thể tiếp nhận cái độc nhục mạ một cách hoan hỷ như uống nước cam lộ, kẻ ấy không thể được ca tụng là người nhập đạo có trí. Tại sao, vì giận dữ thì phá hủy hết thảy thiện pháp và danh tiếng đáng quí, hiện tại vị lai không ai muốn nhìn. Sự giận dữ hơn cả ngọn lửa ác liệt, vì thế mà các thầy phải đề phòng một cách thường trực, đừng cho xâm nhập tâm trí. Giặc cướp công đức không chi hơn giận dữ. Thế gian hưởng thụ dục lạc, không phải là kẻ hành đạo, không có phương pháp để tự khống chế, thế nên giận dữ thì còn có thể tha thứ được. Còn người xuất gia hành đạo là kẻ loại bỏ dục vọng, vậy mà giận dữ thì thật bất đáng; không khác gì giữa bầu trời mây trong mát mà sấm sét lóe lửa là điều không thích hợp.

Các thầy Tỷ kheo, hãy tự xoa đầu mình, đã bỏ sự trang sức và đồ tốt đẹp, mình mặc áo hoại sắc, tay cầm đồ thích ứng, khất thực để sống; tự thấy như vậy mà kiêu ngạo còn nổi lên, thì phải cấp tốc tỏa chiết. Tăng thêm kiêu ngạo là điều mà thế nhân còn không nên có, huống chi người xuất gia nhập đạo là kẻ vì giải thoát, tự giáng mình xuống mà đi khất thực?

Các thầy Tỷ kheo, tâm lý dua nịnh quanh co trái ngược đạo pháp, thế nên các thầy phải chất trực tâm mình. Phải ý thức dua nịnh quanh co chỉ để dối trá, mà người nhập đạo thì không thể như vậy. Vì thế mà các thầy cần phải ngay thẳng tâm mình, lấy đức tính chất trực làm căn bản.

Các thầy Tỷ kheo, phải biết kẻ ham muốn nhiều, thì vì nhiều sự cầu lợi nên khổ não cũng nhiều. Còn ít ham muốn thì không cầu hồ, không dục vọng, nên không có cái họa đó. Chỉ có như thế mà thôi, sự ít ham muốn cũng đã phải thực tập, huống chi sự ấy còn đem lại đủ các công đức. Người ít ham muốn thì không dua nịnh quanh co để cầu được lòng người, cũng không bị các giác quan lôi kéo. Thực hành đức tính ít ham muốn thì lòng bình thản, không lo sợ, gặp cảnh ngộ nào cũng thấy thừa thãi, không bao giờ có cảm giác thiếu thốn. Có ít ham muốn là có niết bàn. Đó là hạnh ít ham muốn.

Các thầy Tỷ kheo muốn giải thoát khổ não thì các thầy hãy cứu xét sự biết vừa đủ. Chính sự biết vừa đủ là giàu sang, vui thú và yên ổn. Biết vừa đủ thì nằm trên đất cũng thấy vui thích, không biết vừa đủ thì ở thiên đường cũng vẫn bất mãn. Không biết vừa đủ thì giàu mà nghèo, biết vừa đủ thì nghèo mà giàu. Không biết vừa đủ thì luôn luôn bị cả năm thứ dục lạc lôi kéo, làm cho người biết vừa đủ phải xót thương. Đó là hạnh biết vừa đủ.

Các thầy Tỷ kheo muốn cầu yên tĩnh, vô vi và an lạc, thì các thầy hãy thoát ly mọi sự ồn ào và bối rối, ở đơn độc và ở một cách thư thái. Người ở yên tĩnh thì chúa trời Đế thích và chư thiên đều tôn kính. Vì thế mà các thầy hãy thoát ly đồ chúng của mình, và đồ chúng của người, ở đơn độc, thư thái và thanh vắng, dùng “tư duy tu” mà cắt đứt gốc rễ đau khổ. Nếu thích đồ chúng thì sẽ bị đồ chúng quấy phá, như cây đại thọ mà cả bầy chim chóc tập hợp lại thì vẫn bị cái họa khô gãy. Thế gian ràng buộc mà chìm ngập thống khổ, thì cũng không khác gì voi già mà sa xuống bùn lầy, hết mong thoát khỏi. Đó là hạnh siêu thoát.

Các thầy Tỷ kheo, nỗ lực tinh tiến thì không có việc gì khó khăn. Thế nên các thầy phải thực hành sự nỗ lực tinh tiến. Nước nhỏ mà chảy mãi thì có thể xuyên thủng cả đá. Nếu người hành đạo mà hay biếng nhác phế bỏ, thì cũng như kéo lửa chưa nóng mà đã ngừng, dầu thiết tha có lửa, lửa cũng khó mà có được. Đó là hạnh tinh tiến.

Các thầy Tỷ kheo, cầu thiện tri thức, cầu thiện hộ trì và cầu thiện hỗ trợ, đều không bằng không quên chánh niệm. Không quên chánh niệm thì giặc phiền não hết cách xâm nhập tâm trí. Thế nên các thầy hãy luôn luôn tập trung chánh niệm lại nơi tâm trí. Mất chánh niệm là mất công đức. Nếu chánh niệm có sức lực vững mạnh, thì dẫu phải vào trong đám giặc ngũ dục, cũng không bị chúng sát hại; tựa như tướng sĩ lâm trận mà mặc áo giáp lát đồng, thì không còn sợ hãi gì nữa. Đó là hạnh không quên chánh niệm.

Các thầy Tỷ kheo, tập trung tâm lại thì tâm sẽ ở trong thiền định. Tâm ở trong thiền định thì có thể thấu triệt trạng thái chuyển biến của vũ trụ. Vì thế mà các thầy phải luôn luôn tinh tiến, nỗ lực thực tập thiền định. Thiền định được thì tâm hết tán loạn. Tiếc nước thì phải đắp đê sửa bờ cho khéo, hành giả cũng vậy, hãy vì nước trí tuệ mà thực tập thiền định để giữ cho nó khỏi chảy mất. Đó là hạnh thiền định.

Các thầy Tỷ kheo, có trí tuệ thì hết đam mê, luôn luôn tự thức tỉnh và tự dò xét, không để lầm lỗi có thể có được, như thế là trong chánh pháp của Như lai, người ấy có khả năng thực hiện giải thoát. Không như thế thì đã không phải xuất gia, lại không phải thế tục, không còn biết gọi là gì. Trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc nhất vượt biển sinh lão bịnh tử, là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh, là thần dược cho mọi kẻ bịnh tật, là búa sắc chặt cây phiền não. Vì thế mà các thầy hãy dùng cái tuệ văn tư tu chứng để tự tăng tiến ích lợi. Có trí tuệ soi chiếu, thì dẫu mắt thịt, cũng vẫn là kẻ thấy rõ nhất. Đó là hạnh trí tuệ.

Các thầy Tỷ kheo, nếu hý luận đủ thứ thì tâm trí rối loạn. Như vậy, tuy đã xuất gia mà chưa được siêu thoát. Thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy từ bỏ tức khắc sự hý luận rối loạn tâm trí. Các thầy muốn thực hiện cái vui tịch diệt, thì chỉ có cách cấp tốc diệt trừ cái họa hý luận. Đó là hạnh không hý luận.

Các thầy Tỷ kheo, đối với mọi thứ công đức, các thầy hãy thường xuyên nhất tâm tu tập, tránh sự phóng dật như tránh giặc thù. Thể hiện lòng đại bi, Như lai đã nói chánh pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành. Hoặc trong rừng núi, hoặc cạnh đầm vắng, hoặc dưới đại thọ, các thầy hãy ở một cách thư thái, trong tịnh thất nhỏ, nhớ và chiêm nghiệm chánh pháp đã tiếp nhận, đừng để quên mất. Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình sẽ chết đi một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận. Như lai như vị lương y, biết bịnh mà chỉ thuốc, còn uống hay không, không phải lỗi của lương y. Lại như người dẫn đường rất tốt, chỉ dẫn đường tốt cho người, nhưng nghe rồi mà không đi, thì không phải lỗi của người dẫn đường.

Các thầy Tỷ kheo, đối với bốn chân lý, các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không được giữ sự hoài nghi, mà không cầu giải đáp. Thế tôn nói lên ba lần như vậy, nhưng không ai chất vấn. Vì lẽ chư Tăng không có ai còn hoài nghi gì nữa. Bấy giờ tôn giả A nâu lâu đà quán sát tâm trí chư Tăng, rồi thưa với Ngài, bạch đức Thế tôn, mặt trăng có thể làm cho nóng lên, mặt trời có thể làm cho lạnh đi, nhưng bốn chân lý mà đức Thế tôn đã dạy thì không thể làm cho khác đi được. Ngài dạy khổ thì thật là khổ, không thể làm cho vui lên; tập là nguyên nhân của khổ, thì không còn có nguyên nhân nào khác nữa; diệt là khổ diệt vì nguyên nhân đã diệt, mà nguyên nhân diệt thì kết quả cũng diệt; đạo là phương pháp diệt khổ nên thật là đạo, không có đạo nào khác hơn. Bạch đức Thế tôn, đối với bốn chân lý, các vị Tỷ kheo đây đã quyết định, không còn hoài nghi gì nữa.

Chư Tăng lúc ấy, những người tu học chưa hoàn tất, thì thấy Phật diệt độ hãy còn bi cảm. Những người mới vào chánh pháp, nghe Phật nói liền được hóa độ, như trong đêm tối mà điện chớp sáng là thấy ngay đường đi. Còn những người tu học đã hoàn tất, đã vượt qua biển khổ, thì chỉ nghĩ rằng, đức Thế tôn diệt độ sao mà mau chóng như vậy.

Do đó, Tôn giả A nâu lâu đà tuy đã bạch Phật, rằng chư Tăng ai cũng thấu triệt bốn chân lý, nhưng đức Thế tôn muốn làm cho tất cả đều được kiên định, nên vẫn đem tâm đại bi mà huấn dụ thêm nữa. Các thầy tỷ kheo, không nên buồn rầu; nếu Như lai ở đời lâu đến một đại kiếp đi nữa, thì sự kết hợp nào rồi cũng phải tan rã. Kết hợp mà không tan rã là điều không thể có được. Chánh pháp tư lợi lợi tha đã có đầy đủ. Như lai sống cho lâu cũng không còn ích lợi gì nữa. Ai có khả năng tiếp nhận hóa độ, thì ở trên chư thiên hay ở trong nhân loại, Như lai đã hóa độ tất cả. Ai chưa thể tiếp nhận hóa độ, thì Như lai cũng đã tạo yếu tố hóa độ cho họ. Từ nay về sau, đệ tử của Như lai hãy triển chuyển thực hành. Như thế là pháp thân của Như lai thường trú bất diệt.

Thế nên, các thầy Tỷ kheo, phải ý thức toàn bộ cuộc đời là chuyển biến vô thường, có kết hợp thì có tan rã, đừng lo buồn gì cả. Ngược lại, cuộc đời như thế thì các thầy phải nỗ lực tinh tiến để sớm cầu tự độ, đem ánh sáng trí tuệ diệt trừ hắc ám vô minh. Vũ trụ quả thật mỏng manh, không một thứ chi bền bỉ. Như lai được diệt độ thì cũng như trừ được cơn bịnh khủng khiếp. Đây là vật tội ác và đáng bỏ, giả hiệu là thân thể mà lại chìm ngập trong biển cả già bịnh sống chết, như thế người có trí tuệ ai lại không hoan hỷ khi trừ bỏ được thân này như trừ bỏ kẻ thù?

Các thầy Tỷ kheo, hãy thường nhất tâm, nỗ lực cần cầu tuệ giác giải thoát. Toàn thể vũ trụ, dầu pháp biến động hay pháp bất động, đều là trạng thái bất an và tan rã. Thôi, các thầy hãy yên lặng, không nên nói nữa. Thì giờ sắp hết, Như lai muốn diệt độ. Trên đây là những lời giáo huấn tối hậu của Như lai.

🌞 Kết Luận :

Đức Phật đã nhập Niết Bàn, nhưng gương sáng của đời Ngài vẫn còn chiếu sáng rực trước mắt chúng ta. Suốt một đời, trong 80 năm trời, không một lúc nào Ngài xao lãng mục đích tối thượng là hóa độ chúng sanh đang trầm luân trong bể khổ. Khi còn tại gia, Ngài là người ở trong địa vị có diễm phúc nhất, cao nhất của người đời, thế mà Ngài vẫn không màng tưởng đến; khi vào trong đạo, Ngài là người ở trong địa vị cao chót vót của Đạo, thế mà Ngài vẫn không chịu ở yên trong địa vị ấy, lại vất vả duỗi rong trên mọi nẻo đường bụi bặm, g*i góc để đưa dắt chúng sanh lên con đường hạnh phúc an vui và giải thoát hoàn toàn. Lòng thương của Phật thật là vô lượng, ân đức của Phật thật vô biên.

Sự hy sinh cao cả, lòng từ bi rộng lớn, trí tuệ sáng suốt, ý chí dũng mãnh của Ngài không những là bao nhiêu gương sáng cho riêng hàng Phật tử, mà còn cho tất cả mọi người.



Kinh Di Giáo
Dịch Giả: Hòa Thượng Thích Trí Quang

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Address

Houston, TX
77088

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Thuyết Chú Và Những Lời Phật Dạy posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share