Chánh Pháp Như Lai Sakyamuni

Chánh Pháp Như Lai Sakyamuni Trang chia sẻ những bài pháp, bài giảng chánh Pháp, cùng nhau học Phật, buông bỏ giải thoát 🙏

Tiếp Đãi Nhau Bằng Chánh Pháp Hãy sống làm sao mà mỗi lần:➢ Người ta gặp mình, nghe mình, thấy mặt mình mà lòng bèn Tinh...
06/11/2026

Tiếp Đãi Nhau Bằng Chánh Pháp

Hãy sống làm sao mà mỗi lần:
➢ Người ta gặp mình, nghe mình, thấy mặt mình mà lòng bèn Tinh Tấn hơn.
➢ Người ta nghĩ về Phật, nghĩ về chuyện Tu hành nhiều hơn.

➤➤ Đó gọi là tiếp đãi nhau bằng Chánh Pháp.

Sư Giác Nguyên | Sư Toại Khanh





FB: Nguyễn An

- Nên dâng bao nhiêu nén hương? -Tập tục thắp hương và nến để đảnh lễ Đức Phật trong các nghi lễ khác nhau thường có sự ...
06/08/2026

- Nên dâng bao nhiêu nén hương? -

Tập tục thắp hương và nến để đảnh lễ Đức Phật trong các nghi lễ khác nhau thường có sự khác biệt.

Có những người muốn lễ Phật nhưng không biết nên thắp bao nhiêu nén hương là phù hợp.

Một lần, có người thắc mắc về vấn đề này và được Luang Pu Doo giải đáp:

Luang Pu Doo:

“Thắp bao nhiêu cũng được. Thông thường người ta dùng ba nén để cúng dường Đức Phật, Giáo Pháp và Tăng đoàn. Nhưng thực ra số lượng nào cũng có ý nghĩa riêng của nó”.

Ajaan Suparat:

“Vậy nếu chỉ thắp một nén thì chẳng phải là cúng cho các vị thần linh hay sao thưa Luang Pu?”

Luang Pu:

Thắp 1 nén tượng trưng cho Nhất Tâm.

Thắp 2 nén tượng trưng cho Thân và Tâm, hoặc Thế Gian và Chánh Pháp.

Thắp 3 nén tượng trưng cho Tam Bảo, hoặc Vô Thường (Anicca), Khổ (Dukkha) và Vô Ngã (Anatta).

Thắp 4 nén tượng trưng cho Tứ Thánh Đế.

Thắp 5 nén tượng trưng cho Năm Đức Phật (Na-Mo-Put-Tha-Ya).

Thắp 6 nén tượng trưng cho Sáu Phẩm Chất Cát Tường, tương tự như việc lễ Phật sáu lạy.

Thắp 7 nén tượng trưng cho Thất Giác Chi (Bojjhaṅga).

Thắp 8 nén tượng trưng cho Bát Thánh Đạo.

Thắp 9 nén tượng trưng cho Chín Pháp Siêu Thế (Navalokuttaradhamma).

Thắp 10 nén tượng trưng cho Mười Ba-la-mật (Pāramī).

“Điều quan trọng là hướng tâm cho đúngc dùng gì cũng được”.

Ajaan Suparat:

“Thế còn 11 nén thì có ý nghĩa là…?”

Luang Pu:

“Đó là Mười Ba-la-mật cộng với Nhất Tâm. Cứ thế mà thêm vào thôi. Ôi chao, câu hỏi của con suýt làm ta bí mất rồi!”

Ajaan Suparat:

“Nếu không có hương hay nến thì sao ạ?”

Luang Pu:

“Vậy thì hãy dùng chính mạng sống và trái tim của mình để đảnh lễ. Không cần phải có vật gì bên ngoài cả.

Buddhaṃ Dhammaṃ Saṅghaṃ Jīvitaṃ Me Pūjemi

(Tôi xin dâng hiến đời mình để tôn kính Đức Phật, Giáo Pháp và Tăng đoàn)”

Luang Pu bật cười khi nhìn nét mặt của người hỏi. Người hỏi lúc ấy chỉ còn biết ngỡ ngàng trước sự nhanh trí và trí tuệ của vị Đại Trưởng lão khả kính.

—————-

From: Thiền Sư Ottamathara

Con MuỗiTrong từng phút chứ đừng nói từng giờ, cách suy nghĩ và cách sống của chúng ta đều mang đậm cái dấu ấn của con n...
06/03/2026

Con Muỗi
Trong từng phút chứ đừng nói từng giờ, cách suy nghĩ và cách sống của chúng ta đều mang đậm cái dấu ấn của con người của mình từ tiền kiếp. Nghĩa là từ tiền kiếp tôi đã có thói quen như thế nào đó nên bây giờ khi tôi làm chuyện tầm bậy gì đó (ăn chơi, nhậu nhẹt, sân si, bạo lực, ...) thì cái bất thiện đó nó cũng phảng phất cái con người cũ của tôi trong các tiền kiếp.

Khi tôi tu hành cũng vậy, tôi đi nghe pháp, tôi học đạo, tôi ngồi thiền, tôi bố thí, tôi cúng dường, tôi phục vụ cái gì đó. Thì trong việc làm ấy đều phảng phất con người cũ của tôi. Cho nên tại sao mình phải sống chánh niệm? "Mindfulness even if your mind is full". Cái đầu mình đầy nhốc rồi mà mình vẫn phải sống chánh niệm. Là bởi vì nhiều lý do:

1. Là mình không biết mình sẽ chết lúc nào, mình ra đi trong sự tỉnh táo còn tốt hơn là ra đi trong sự hoảng loạn. Ra đi có sự chuẩn bị.

2. Khi mình sống chánh niệm mình sẽ không bỏ lỡ cơ hội chứng đạo, có hiểu không. Cơ hội chứng đạo rất quan trọng.

Có một điều tui nhắc hoài mà sợ bà con không biết hoặc quên. Ba la mật là cái gì? Tui giảng mà tui cũng run lắm. Ba la mật nghĩa là bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có khả năng thực hiện các hạnh lành, ai cũng có khả năng bố thí chút gì đó, ai cũng có khả năng khả năng dắt người khác qua đường, ai trong chúng ta cũng có khả năng làm cái hạnh lành nào đó. Và bất cứ ai trong chúng ta cũng thuận tay trái hoặc tay mặt. Thì cũng vậy, ai trong chúng ta cũng có khả năng làm cho mình và người khác hoặc khổ đau hoặc hạnh phúc. Quý vị có tin điều đó không? Vấn đề là chúng ta thuận tay nào.

Có người rất giỏi trong vấn đề làm cho người khác khổ, và rất dở trong vấn đề làm cho người khác an lạc. Tôi cũng đã từng gặp hạng người đó rồi, tức là tới lúc họ chịu tu rồi thì như Trư Bác Giới mà đi tu.

Có người khả năng làm bậy rất lớn nhưng khi họ hồi đầu thì khả năng tu tập của họ rất bén. Họ luôn luôn phải làm sao đem lại đóng góp cho người khác.

Ngược lại có những người cái khả năng làm thiện của họ lớn hơn khả năng làm ác. Nghĩa là cả đời họ cái chuyện họ nói dối, nói một câu làm người khác đau lòng nó khó dữ lắm. Tui may mắn gặp được vài người có khả năng như thế. Một phần là bản chất hiền lương, một phần là được lớn lên trong một môi trường sống, bối cảnh gia đình rất là đạo đức.

Có một cô năm nay hơn 60 tuổi. Tôi nói với cô: "Cô ơi, cô đầu thai lộn rồi. Người như cô đáng lý phải chết từ lâu rồi vì dễ bị người ta gạt. Nhìn mặt cô tôi cũng quý lắm nhưng cũng rất muốn gạt vì nhìn ngây thơ quá." Cô rất thật thà, nói gì tin nấy. Tôi cho rằng con người của cô một là đại gian, hai là đại hạnh. Đại gian nghĩa là cô có khả năng giả nai quá tốt khiến ai cũng tin.

Cho nên ai trong chúng ta cũng có khả năng làm ác, làm thiện. Ai trong chúng ta cũng có khả năng đem lại nước mắt và nụ cười cho người khác. Vấn đề là khả năng nào vượt trội hơn.

Ba La Mật là gì? Là khả năng làm thiện; nhưng trong làm thiện có 2.

1. Làm thiện với ý cầu giải thoát gọi là Ba La Mật.

2. Làm thiện mà cầu quả nhân thiên, mong cho kiếp sau được đẹp, được giàu, tài giỏi, quyền lực... thì gọi là thiện hữu lậu, thiện sanh tử. Thiện hữu lậu nghĩa là thiện mà vẫn còn dính líu đến con đường sanh tử.

Phần nhiều Phật tử chưa phải là Phật tử thật sự vì họ đến với đạo không với cái ý nguyện cầu giải thoát. Là sao?

1. Có khi chỉ vì đi theo truyền thống gia đình; bà ngoại đi chùa, má đi chùa, thế là tôi đi chùa.

2. Gia đình có chuyện buồn, hữu sự vái tứ phương. Đang có tâm sự trùng trùng, không biết nói với ai; đem vô chùa gởi. Kiếm thầy chùa để tâm sự, khóc lóc.

3. Người quen rủ đi chùa. Đi chùa vì tò mò. Lúc đầu chở bạn đi chùa rồi ngồi chờ bạn về. Ngồi lâu quá muỗi đốt; thế là vô chùa nghe pháp. Nghĩa là biết Phật nhờ mấy con muỗi.

Tôi có nghe câu này rất là Phật pháp về mấy con muỗi:

"Vì mày tao phải đập tao,
vì tao tao mới đập mày,
vì mày tao đập cả tao lẫn mày,
vì tao tao đập cả mày lẫn tao."

Cái câu này nhiều người không hiểu đạo họ nghe họ cứ đơ cái mặt ra. Còn người hữu duyên nghe có khi đắc thánh.

Tức là cuộc sống này là thương trường, là nơi ta phải trả giá, nên mới gọi là chợ đời. Mọi thứ phải được mua và bán. Cho nên có khi muốn có một nụ cười phải trả 1 cái giá rất là đắt. Ví dụ như khi bạn đang bị nhức răng, đang bị nợ nần, đang bị truy nã, gia đạo đang có vấn đề, ... Chúng ta có cười được không? Không.

Nghĩa là chúng ta phải có một cuộc sống, sức khỏe, tài chánh ổn định đến mức nào đó, chúng ta mới có thể cười được, đúng không? Muốn có 1 nụ cười không phải dễ. Chúng ta phải có một nền tảng như thế nào đó: sức khỏe, tâm lý, tài chánh, quan hệ xã hội, ... thì mới có thể cười được.

Trích bài giảng
Khái Niệm Về Vô Thường Vô Ngã
Hành Giả Tứ Niệm Xứ
Sư Giác Nguyên thuyết pháp
Kalama xin tri ân bạn dieulienhoa67 ghi chép

Con Muỗi
Trong từng phút chứ đừng nói từng giờ, cách suy nghĩ và cách sống của chúng ta đều mang đậm cái dấu ấn của con người của mình từ tiền kiếp. Nghĩa là từ tiền kiếp tôi đã có thói quen như thế nào đó nên bây giờ khi tôi làm chuyện tầm bậy gì đó (ăn chơi, nhậu nhẹt, sân si, bạo lực, ...) thì cái bất thiện đó nó cũng phảng phất cái con người cũ của tôi trong các tiền kiếp.

Khi tôi tu hành cũng vậy, tôi đi nghe pháp, tôi học đạo, tôi ngồi thiền, tôi bố thí, tôi cúng dường, tôi phục vụ cái gì đó. Thì trong việc làm ấy đều phảng phất con người cũ của tôi. Cho nên tại sao mình phải sống chánh niệm? "Be mindful, even if your mind is full". Cái đầu mình đầy nhốc rồi mà mình vẫn phải sống chánh niệm. Là bởi vì nhiều lý do:

1. Là mình không biết mình sẽ chết lúc nào, mình ra đi trong sự tỉnh táo còn tốt hơn là ra đi trong sự hoảng loạn. Ra đi có sự chuẩn bị.

2. Khi mình sống chánh niệm mình sẽ không bỏ lỡ cơ hội chứng đạo, có hiểu không. Cơ hội chứng đạo rất quan trọng.

Có một điều tui nhắc hoài mà sợ bà con không biết hoặc quên. Ba la mật là cái gì? Tui giảng mà tui cũng run lắm. Ba la mật nghĩa là bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có khả năng thực hiện các hạnh lành, ai cũng có khả năng bố thí chút gì đó, ai cũng có khả năng khả năng dắt người khác qua đường, ai trong chúng ta cũng có khả năng làm cái hạnh lành nào đó. Và bất cứ ai trong chúng ta cũng thuận tay trái hoặc tay mặt. Thì cũng vậy, ai trong chúng ta cũng có khả năng làm cho mình và người khác hoặc khổ đau hoặc hạnh phúc. Quý vị có tin điều đó không? Vấn đề là chúng ta thuận tay nào.

Có người rất giỏi trong vấn đề làm cho người khác khổ, và rất dở trong vấn đề làm cho người khác an lạc. Tôi cũng đã từng gặp hạng người đó rồi, tức là tới lúc họ chịu tu rồi thì như Trư Bác Giới mà đi tu.

Có người khả năng làm bậy rất lớn nhưng khi họ hồi đầu thì khả năng tu tập của họ rất bén. Họ luôn luôn phải làm sao đem lại đóng góp cho người khác.

Ngược lại có những người cái khả năng làm thiện của họ lớn hơn khả năng làm ác. Nghĩa là cả đời họ cái chuyện họ nói dối, nói một câu làm người khác đau lòng nó khó dữ lắm. Tui may mắn gặp được vài người có khả năng như thế. Một phần là bản chất hiền lương, một phần là được lớn lên trong một môi trường sống, bối cảnh gia đình rất là đạo đức.

Có một cô năm nay hơn 60 tuổi. Tôi nói với cô: "Cô ơi, cô đầu thai lộn rồi. Người như cô đáng lý phải chết từ lâu rồi vì dễ bị người ta gạt. Nhìn mặt cô tôi cũng quý lắm nhưng cũng rất muốn gạt vì nhìn ngây thơ quá." Cô rất thật thà, nói gì tin nấy. Tôi cho rằng con người của cô một là đại gian, hai là đại hạnh. Đại gian nghĩa là cô có khả năng giả nai quá tốt khiến ai cũng tin.

Cho nên ai trong chúng ta cũng có khả năng làm ác, làm thiện. Ai trong chúng ta cũng có khả năng đem lại nước mắt và nụ cười cho người khác. Vấn đề là khả năng nào vượt trội hơn.

Ba La Mật là gì? Là khả năng làm thiện; nhưng trong làm thiện có 2.

1. Làm thiện với ý cầu giải thoát gọi là Ba La Mật.

2. Làm thiện mà cầu quả nhân thiên, mong cho kiếp sau được đẹp, được giàu, tài giỏi, quyền lực... thì gọi là thiện hữu lậu, thiện sanh tử. Thiện hữu lậu nghĩa là thiện mà vẫn còn dính líu đến con đường sanh tử.

Phần nhiều Phật tử chưa phải là Phật tử thật sự vì họ đến với đạo không với cái ý nguyện cầu giải thoát. Là sao?

1. Có khi chỉ vì đi theo truyền thống gia đình; bà ngoại đi chùa, má đi chùa, thế là tôi đi chùa.

2. Gia đình có chuyện buồn, hữu sự vái tứ phương. Đang có tâm sự trùng trùng, không biết nói với ai; đem vô chùa gởi. Kiếm thầy chùa để tâm sự, khóc lóc.

3. Người quen rủ đi chùa. Đi chùa vì tò mò. Lúc đầu chở bạn đi chùa rồi ngồi chờ bạn về. Ngồi lâu quá muỗi đốt; thế là vô chùa nghe pháp. Nghĩa là biết Phật nhờ mấy con muỗi.

Tôi có nghe câu này rất là Phật pháp về mấy con muỗi:

"Vì mày tao phải đập tao,
vì tao tao mới đập mày,
vì mày tao đập cả tao lẫn mày,
vì tao tao đập cả mày lẫn tao."

Cái câu này nhiều người không hiểu đạo họ nghe họ cứ đơ cái mặt ra. Còn người hữu duyên nghe có khi đắc thánh.

Tức là cuộc sống này là thương trường, là nơi ta phải trả giá, nên mới gọi là chợ đời. Mọi thứ phải được mua và bán. Cho nên có khi muốn có một nụ cười phải trả 1 cái giá rất là đắt. Ví dụ như khi bạn đang bị nhức răng, đang bị nợ nần, đang bị truy nã, gia đạo đang có vấn đề, ... Chúng ta có cười được không? Không.

Nghĩa là chúng ta phải có một cuộc sống, sức khỏe, tài chánh ổn định đến mức nào đó, chúng ta mới có thể cười được, đúng không? Muốn có 1 nụ cười không phải dễ. Chúng ta phải có một nền tảng như thế nào đó: sức khỏe, tâm lý, tài chánh, quan hệ xã hội, ... thì mới có thể cười được.

Trích bài giảng
Khái Niệm Về Vô Thường Vô Ngã
Hành Giả Tứ Niệm Xứ
Sư Giác Nguyên thuyết pháp
Kalama xin tri ân bạn dieulienhoa67 ghi chép

ĐÔI CHÚT VỀ TU TẬP “Tu tập là bỏ được cái gì, Chứ không phải là đạt được cái gì!”_(())_Buông bỏ, là bỏ đi cái bàn tay bủ...
05/26/2026

ĐÔI CHÚT VỀ TU TẬP

“Tu tập là bỏ được cái gì,
Chứ không phải là đạt được cái gì!”
_(())_

Buông bỏ, là bỏ đi cái bàn tay bủn xỉn, mở rộng nó ra
Bỏ cái bủn xỉn gọi là bố thí.
Bỏ cái vô đạo đức, vô hạnh thì đó gọi là giới.

Bỏ cái phóng tâm, bỏ cái thất niệm gọi là Thiền và Định và Tuệ, nhớ nha !
Bỏ cái phóng dật gọi là Định
Bỏ cái thất niệm gọi là Tuệ. Nhớ !!!

Bỏ cái Vô minh để có được cái Minh.
Bỏ cái Tà để có được cái Chánh.

Và nên nhớ, cái tinh thần của Phật pháp,
cái này nó quan trọng lắm

Anh không cần mong tôi được Chánh,
mà chỉ cần mong anh bỏ cái Tà.

Nhớ nha! Nhớ nha!
Bài giảng hôm nay đặt biệt tôi nói cái chữ buông bỏ,
đặt biệt tôi nói nhấn mạnh cái chữ buông bỏ.
Anh không cần hướng đến cái Chánh, mà chỉ cần anh bỏ cái Tà của anh là tự nhiên anh được Chánh.
Anh không cần cầu làm Thánh, anh chỉ làm sao anh đừng là Phàm nữa.
Anh không có cần cầu Niết bàn, mà anh chỉ làm sao đừng có còn sanh tử nữa.

Sanh tử có nhiều nghĩa lắm! Sanh tử là chết kiếp này, sanh qua kiếp khác ... đó là sanh tử. Hồi nãy thiện, bây giờ ác … đó là sanh tử. Hồi nãy vui bây giờ buồn ... đó là sanh tử.
Nhớ cái đó! Cái cuối cùng lúc vầy lúc khác, lúc sanh lúc diệt … đó là sanh tử.

Tu tập như thế nào để khi mà chứng A La Hán rồi tắt thở không còn sanh, không còn diệt nữa thì cái đó mới gọi là cái rốt ráo, nhớ nha !!!

Cho nên ở đây, vấn đề ở đây tu không phải để đắc cái gì, mà là bỏ cái gì. Tôi đã nói không biết là bao nhiêu lần, tất cả hành giả đến với thiền viện, hay là tu tập tại nhà luôn luôn nằm gọn gàng trong hai hạng sau đây:

Một là tu để đắc cái gì, và
Hai là tu để bỏ cái gì

Thì theo tôi,
thì tôi chọn cái tu để bỏ cái gì cho an toàn hơn!

Là vì sao? Là vì cái cần bỏ mình biết rõ, đây là bủn xỉn, đây là ganh tị, tật đố, nhỏ mọn, hẹp hòi, hèn hạ, ti tiện, đê hèn... còn mà để đắc cái này cái kia làm sao mình biết đó là cái cần đắc?

Và chưa kể trên cái hành trình để đi tìm cái mình đắc đó, cực kỳ nguy hiểm rất dễ ngộ nhận.

Tôi nói hoài giống như nói giỡn mà là thật:
Cứ nghe nó mát mát lạnh lạnh, mát mát rợn rợn,
Rồi bắt đầu nó “khoái” rồi đó.
Hồi đó nó ngồi mười lăm phút bây giờ ngồi nó quất cho ba tiếng là thấy “khoái” rồi đó.
Ngày xưa nhớ dở bây giờ nhớ giỏi, ngày xưa đi nghe đạo không hiểu, bây giờ nghe tới đâu hiểu đến đó là bắt đầu thấy “khoái” rồi đó.

Quá nguy hiểm !!!

Mà cái quan trọng nhất không học: Không phải học để có trí mà là để bớt ngu. Không phải học để giỏi mà để bớt dốt. Không phải ngồi thiền để được niệm mà là để không còn phóng dật nữa. Không phải tu để được Tuệ mà là để bớt Vô minh.

Phải nhớ cái đó, nó rất là quan trọng.

Tu không phải để thành Thánh,
mà là để không còn là Phàm !!!

_( Sư Giác Nguyên | Sư Toại Khanh )_

Chìm NổiĐức Phật dùng hình ảnh người ở dưới nước để Ngài mô tả các loại chúng sinh.Hạng thứ 1: Lặn xuống rồi đi mất luôn...
05/24/2026

Chìm Nổi

Đức Phật dùng hình ảnh người ở dưới nước để Ngài mô tả các loại chúng sinh.

Hạng thứ 1: Lặn xuống rồi đi mất luôn, chìm luôn không ngoi lên nổi. Hạng này hoàn toàn thành tựu với pháp đen bất thiện.

Hạng thứ 2: Nổi lên rồi lại chìm xuống, tức là trong dòng sanh tử luân hồi nó có may mắn, lâu lâu cũng gặp được bạn lành, gặp được thầy bạn minh sư thiện hữu rồi nghe được một mớ rồi lặn luôn.

Hạng thứ 3: Từ dưới nước nổi lên rồi đứng yên đó, tức là mấy cái loại phàm phu như mình. Cũng có tu rồi đứng yên đó chờ có một người nào đó đi ngang họ đẩy một phát nữa hoặc là kéo vô bờ. Hạng này gọi là hạng thiện phàm phu, nghĩa là chìm thì không chìm mà lửng lửng chờ có thầy bạn tới họ đẩy cho. Thí dụ những người mà gặp được Phật là những người vậy đó, chờ Ngài kéo một tay vào bờ hoặc là Ngài đẩy một tay vào lưng để cho đi tới.

Hạng thứ 4: Nổi lên rồi nhìn quanh, bắt đầu quan sát. Mấy người này có hy vọng lắm, là vì sao ? Bởi khi họ nhìn quanh quan sát coi bến bờ nằm ở đâu, cách họ bao xa và ai là người họ có thể kêu cứu, có thể nhờ cậy. Hạng này được gọi là Tu đà hoàn.

Hạng thứ 5: Vị Tư đà hàm là vị trồi lên rồi bơi tới, bơi vào bờ hoặc bơi về phía trước nhưng mà đại khái là bơi chứ không có đứng yên.

Hạng thứ 6: Vị A na hàm thì trong lúc bơi tìm được cái chỗ để nghĩ ngơi trước khi vào bờ.

Hạng thứ 7: Vị A la hán thì giống như người từ ở dưới nước nổi lên nhìn quanh, bơi tới kiếm chỗ nghĩ ngơi qua hết, vị này đã vào bờ được rồi, đứng trên bờ ngon lành rồi, không còn mắc mớ gì dòng chảy bên dưới chân mình nữa.

Trích bài giảng KTC.7.13 Tùy Miên
Kalama xin tri ân bạn elteetee ghi chép

KHI A-TÌ-ĐÀM BẮT ĐẦU PHÁ HUỶ CHÍNH MÌNH(Đọc Tuệ Sỹ, phẩm Phân Biệt Thế Gian – A-tì-đạt-ma Câu-xá, Tập II)Có những cuốn s...
05/23/2026

KHI A-TÌ-ĐÀM BẮT ĐẦU PHÁ HUỶ CHÍNH MÌNH
(Đọc Tuệ Sỹ, phẩm Phân Biệt Thế Gian – A-tì-đạt-ma Câu-xá, Tập II)

Có những cuốn sách không chỉ truyền đạt tri thức. Chúng làm thay đổi cách ta nhìn thế giới.
Phẩm Phân Biệt Thế Gian trong A-tì-đạt-ma Câu-xá, Tập II là một cuốn như vậy. Và bản dịch & chú giải của Tuệ Sỹ khiến điều đó hiện ra với toàn bộ chiều sâu của nó.
Thoạt nhìn, Câu-xá giống một bản đồ khổng lồ của vũ trụ Phật giáo: núi Tu-di, tam giới, lục đạo, chư thiên. Nhưng đọc Tuệ Sỹ mới thấy, tất cả những gì tưởng như thần thoại ấy thật ra đang mô tả những hình thức khác nhau mà tâm thức và nghiệp cấu thành thế giới.
Ở đây, vũ trụ học không còn là thiên văn học. Nó trở thành hiện tượng học của tâm thức.
Tam giới không còn đơn thuần là ba tầng không gian siêu hình. Qua diễn giải của Tuệ Sỹ, dục giới là thế giới mà hiện hữu còn bị chi phối bởi ham muốn. Sắc giới là nơi dục vọng đã lắng xuống nhưng tâm thức vẫn còn bám vào hình tướng. Vô sắc giới là trạng thái mà tâm thức không còn nương vào sắc để tồn tại. Các cảnh giới trong Câu-xá vì thế không chỉ là “nơi chốn”, mà là những thế giới được tạo thành bởi nghiệp và tâm thức.
Điều đáng kinh ngạc là: chính khi đi tới tận cùng của phân tích, A-tì-đàm bắt đầu làm lộ ra những nan đề ngay trong nền tảng của mình, từ đó mở ra những chuyển động lớn của tư tưởng Phật giáo sau này. Hữu bộ muốn bảo vệ tính thực hữu của các pháp để giữ cho nghiệp, nhân quả và giải thoát vẫn còn nền tảng. Nhưng càng đi sâu vào phân tích, A-tì-đàm càng làm lung lay chính ý niệm về thực hữu, nhường chỗ cho một thế giới của những tiến trình duyên sinh.
Từ đây, một nghịch lý triết học bắt đầu hiện ra.
Nếu mọi thực thể đều không ngừng sinh diệt, thì điều gì tiếp tục từ đời này sang đời khác? Nếu không có một chủ thể thường hằng, thì ai tái sinh, ai chịu nghiệp, ai giải thoát?
Vấn đề của A-tì-đàm không phải giữ lại một thực thể bất biến, mà là làm sao để nghiệp vẫn tiếp tục mà không phải thừa nhận một cái ngã thường hằng.
Chính từ đây, các thuyết về tương tục, trung hữu và dòng thức dần được hình thành như một nỗ lực giải thích sự tiếp nối của nghiệp mà không rơi vào ngã luận.
Câu-xá vì thế đứng giữa một nan đề:
Nếu hoàn toàn không có gì tiếp nối, nghiệp sẽ mất nền tảng; nhưng nếu có một thực thể tồn tại xuyên suốt, toàn bộ nỗ lực phủ định bản ngã của Phật học sẽ bắt đầu lung lay.
Và một câu hỏi khác xuất hiện. Nếu mọi thứ đều chỉ là duyên hợp và sinh diệt, thì điều gì khiến tâm thức vẫn tiếp tục bám trú vào một thế giới sinh diệt như thế?
Chính tại điểm này, A-tì-đàm bắt đầu chạm tới giới hạn của chính mình, mở đường cho sự xuất hiện của Duy thức và xa hơn nữa là tư tưởng Trung quán.
Điều đặc biệt là Tuệ Sỹ không né tránh những khủng hoảng nội tại ấy. Với ông, Câu-xá không phải một hệ thống cần được bảo vệ, mà là một biến cố lớn trong lịch sử tư tưởng. Vì thế, phần chú giải của Dịch sư luôn mở văn bản ra những đối thoại lớn hơn: từ thần thoại Veda, kosmos Hy Lạp cho đến triết học hiện đại và các tranh luận giữa những hệ tư tưởng lớn của Phật giáo.
Đối thoại đó không phải để biện minh cho Phật giáo. Ngược lại, ông liên tục giải trừ lối đọc trực nghĩa của các mô hình vũ trụ, mở chúng ra chiều sâu biểu tượng cùng cấu trúc kinh nghiệm của tâm thức.
Cho nên, đọc bản dịch của Tuệ Sỹ là bước vào một cách lĩnh hội rất khác. Ông vừa đi rất sát văn bản, vừa khiến văn bản tự mở ra những chiều nghĩa khác của nó. Đó là lý do cuốn sách này khó đọc, nhưng chính vì thế mà đáng đọc.
Và cũng từ đó, điều đặc biệt của A-tì-đàm hiện ra:
A-tì-đàm đạt tới chiều sâu lớn nhất đúng vào lúc nó bắt đầu phá hủy nền móng của chính mình.
Nhưng không phải để sụp đổ.
Mà để mở đường cho những chuyển động lớn tiếp theo của tư tưởng Phật giáo.
Lê Hòa - miên di
------------------
• Cuốn sách còn mở ra nhiều chiều suy tư và giá trị khác mà trong phạm vi một bài viết nhỏ không thể nói hết. Đề tài sẽ được khảo sát sâu rộng hơn trong một tiểu luận, mời độc giả đón đọc.
☘️⬇️• Sách dự kiến phát hành thượng tuần tháng 6. Độc giả có thể đăng ký trước qua inbox.

ĐỨC PHẬT MÔ TẢ TÌNH TRẠNG ĐẠO ĐỨC CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNGMột thời Thế Tôn đang đi trên con đường lớn giữa thành Madhurā và ...
05/22/2026

ĐỨC PHẬT MÔ TẢ TÌNH TRẠNG ĐẠO ĐỨC CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG

Một thời Thế Tôn đang đi trên con đường lớn giữa thành Madhurā và thành Verañjā. Nhiều vị gia chủ nam và gia chủ nữ cũng đang đi trên con đường lớn giữa thành Madhurā và thành Verañjā. Bấy giờ Thế Tôn rời con đường, đến ngồi dưới gốc một cây nào đó [trên một chỗ ngồi đã được soạn sẵn].

Các vị gia chủ nam và gia chủ nữ đã thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc một cây nào đó. Sau khi thấy, họ đã đi đến nơi Thế Tôn ngự; sau khi đến gần, đảnh lễ Thế Tôn, họ đã ngồi xuống một bên. Khi các vị gia chủ nam và gia chủ nữ ấy đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đã nói điều này:

"Này các gia chủ, có bốn loại hình chung sống/giao tiếp này. Bốn loại ấy là gì?
1. Một xác sống nam sống chung với một xác sống nữ,
2. Một xác sống nam sống chung với một vị thiên nữ,
3. Một vị thiên nam sống chung với một xác sống nữ,
4. [và] Một vị thiên nam sống chung với một vị thiên nữ."

Này các gia chủ, đó quả thực là bốn loại hình chung sống:

1. Cả hai đều người ác giới,
Bỏn xẻn, ưa mắng nhiếc cay;
Họ là vợ với chồng đấy,
Như hai xác sống chung vầy cùng nhau.

2. Chồng người ác giới xấu xa,
Bỏn xẻn, mắng nhiếc, chẳng qua hạng tồi;
Vợ hiền đức hạnh sáng ngời,
Rộng tay, không xẻn, thảnh thơi tâm hồn;
Thiên nữ nàng ấy cũng chung,
Cùng chồng xác sống não nùng đắng cay.

3. Chồng người đức hạnh vẹn toàn,
Rộng tay, không xẻn, lòng chan chứa đầy;
Vợ thì ác giới đêm ngày,
Bỏn xẻn, mắng nhiếc, đắng cay cửa nhà;
Xác kia nàng ấy cũng là,
Cùng chồng thiên tử, xót xa duyên đời.

4. Cả hai tin tưởng, rộng tay,
Thu thúc, sống đúng Pháp Thầy dạy răn;
Họ là chồng vợ ái ân,
Lời thương tiếng mến, đãi đằng cùng nhau.
Lợi nhiều đến với họ mau,
An vui, thoải mái dạt dào sinh sôi;
Kẻ thù buồn bã đứng ngồi,
Thấy hai người bạn đồng thời giới cao.
Đời này sống Pháp thanh tao,
Giới và hạnh nguyện cùng đồng cả hai;
Cõi trời hoan hỷ tương lai,
Vui trong dục lạc, mấy ai sánh bằng."

AN4.53-54, A.II.58-60

Address

Houston, TX

Opening Hours

9am - 2pm

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chánh Pháp Như Lai Sakyamuni posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share