Thần Chú Mật Tông Mantra và Dharani

Thần Chú Mật Tông Mantra và Dharani Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Thần Chú Mật Tông Mantra và Dharani, Buddhist Temple, W Mt Houston Road, Houston, TX.

Om Mani Padme Hum

Om Ah Hung Bendza Guru Pema Siddhi Hung

Tayatha Om Bekanze Bekanze Maha Bekanze Radza Samugate Svaha

Om Bendza Satto Hum

Om Cale Cule Cunde Svaha

Namo Samanto Vajra Nai Ham

Om Dzambhala Zalendhaye Savha

06/28/2022

𝐇𝐨𝐦𝐚𝐠𝐞 𝐓𝐨 𝐒𝐢𝐝𝐝𝐡𝐚𝐫𝐭𝐡𝐚 𝐛𝐲 𝐌𝐢𝐧𝐥𝐢𝐧𝐠 𝐓𝐡𝐚𝐧𝐠𝐭𝐨𝐧𝐠 𝐑𝐢𝐧𝐩𝐨𝐜𝐡𝐞

Đạo Sư Bi Mẫn Thích Ca Mâu Ni bởi Minling Thangtong Rinpoche

𝐍𝐲𝐢𝐧𝐠𝐣𝐞́ 𝐜𝐡𝐞𝐧𝐩𝐨̈ 𝐭𝐬𝐨̈𝐝𝐞𝐧 𝐧𝐲𝐢𝐤𝐦𝐚𝐢 𝐳𝐡𝐢𝐧𝐠

Với lòng đại bi Ngài đã chọn thế giới của những xung đột và suy hoại này,

𝐙𝐮𝐧𝐠𝐧𝐞́ 𝐦𝐨̈𝐧𝐥𝐚𝐦 𝐜𝐡𝐞𝐧𝐩𝐨 𝐧𝐠𝐚𝐠𝐲𝐚 𝐭𝐚𝐛

Ngài đã lập năm trăm đại nguyện.

𝐏𝐞́𝐤𝐚𝐫 𝐭𝐚𝐫 𝐧𝐠𝐚𝐤 𝐭𝐬𝐞𝐧𝐭𝐨̈ 𝐜𝐡𝐢𝐫 𝐦𝐢 𝐝𝐨𝐤

Ngài được tán thán như một đóa sen trắng thanh khiết; tất cả những ai nghe đến danh hiệu của ngài sẽ không rơi trở lại vào luân hồi sinh tử.

𝐓𝐨̈𝐧𝐩𝐚 𝐭𝐡𝐮𝐤𝐣𝐞́ 𝐜𝐡𝐞𝐧 𝐥𝐚 𝐜𝐡𝐚𝐤𝐭𝐬𝐚𝐥 𝐥𝐨

Đạo sư tràn đầy từ ái và bi mẫn, con kính lễ ngài!

𝐋𝐚𝐦𝐚 𝐭𝐨̈𝐧𝐩𝐚 𝐜𝐡𝐨𝐦𝐝𝐞𝐧𝐝𝐞́ 𝐝𝐞́𝐳𝐡𝐢𝐧 𝐬𝐡𝐞𝐤𝐩𝐚 𝐝𝐫𝐚𝐜𝐡𝐨𝐦𝐩𝐚 𝐲𝐚𝐧𝐠 𝐝𝐚𝐤𝐩𝐚𝐫 𝐝𝐳𝐨𝐤𝐩𝐚𝐢 𝐬𝐚𝐧𝐠𝐲𝐞́ 𝐩𝐞𝐥 𝐠𝐲𝐚𝐥𝐰𝐚 𝐬𝐡𝐚𝐤𝐲𝐚 𝐭𝐮𝐛𝐩𝐚 𝐥𝐚 𝐜𝐡𝐚𝐤𝐭𝐬𝐚𝐥 𝐥𝐨 𝐂𝐡𝐨̈𝐭𝐨 𝐤𝐲𝐚𝐩𝐬𝐮 𝐜𝐡𝐢-𝐨

Guru, Đạo sư, Thế Tôn, Như Lai, A La Hán, Đức Phật toàn giác, Đấng Chiến Thắng Vinh quang, Đạo sư của dòng tộc Thích ca, con kính lễ và quy y ngài.

𝐓𝐚𝐲𝐚𝐭𝐡𝐚 𝐎𝐦 𝐌𝐮𝐧𝐢 𝐌𝐮𝐧𝐢 𝐌𝐚𝐡𝐚 𝐌𝐮𝐧𝐚𝐲𝐞́ 𝐒𝐨𝐡𝐚

𝐊𝐢́𝐧𝐡 𝐥𝐞̂̃ 𝐂𝐡𝐮̛ 𝐏𝐡𝐚̣̂𝐭 𝐯𝐚̀ 𝐁𝐨̂̀ 𝐓𝐚́𝐭

Cùng các thần chú, được sắp xếp trong hình thức những bài nguyện thích hợp cho các hành giả mọi cấp độ sử dụng và thực hành mỗi ngày.

* * *

06/28/2022

𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐍𝐠𝐡𝐢̃𝐚 𝐓𝐮̛̀𝐧𝐠 𝐓𝐮̛̀ 𝐓𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐓𝐡𝐚̂̀𝐧 𝐂𝐡𝐮́ 𝐏𝐇𝐀̣̂𝐓 𝐓𝐇𝐈́𝐂𝐇 𝐂𝐀 𝐌𝐀̂𝐔 𝐍𝐈 | 𝐓𝐚̣𝐨 𝐏𝐡𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝐋𝐚̀𝐧𝐡 , 𝐋𝐚̀𝐦 𝐒𝐚̣𝐜𝐡 𝐏𝐡𝐢𝐞̂̀𝐧

Trong số các thần chú Phật giáo thường được người Tây Tạng sử dụng, thần chú Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha Mantra) – Om Muni Muni Maha Muniye Soha là một trong những thần chú phổ biến nhất. Cùng với một số thần chú khác, như những thần chú gắn liền với Quán Thế Âm Bồ Tát và Đức Tara Xanh, Lục Độ Phật Mẫu Tara.

𝐘́ 𝐍𝐆𝐇𝐈̃𝐀 𝐂𝐔̉𝐀 𝐓𝐇𝐀̂̀𝐍 𝐂𝐇𝐔́ Đ𝐔̛́𝐂 𝐁𝐎̂̉𝐍 𝐒𝐔̛ 𝐏𝐇𝐀̣̂𝐓 𝐓𝐇𝐈́𝐂𝐇 𝐂𝐀

𝐓𝐀𝐘𝐀𝐓𝐇𝐀 𝐎𝐌 𝐌𝐔𝐍𝐈 𝐌𝐔𝐍𝐈 𝐌𝐀𝐇𝐀 𝐌𝐔𝐍𝐈𝐘𝐄 𝐒𝐎𝐇𝐀

𝐓𝐀𝐘𝐀𝐓𝐇𝐀 – Có nghĩa là như thế

𝐎𝐌 – Phản chiếu nhận thức về vũ trụ xung quanh. Nó được sử dụng khi bắt đầu trong nhiều thần chú và có thể được coi là mở ra cho sự thật về điều gì sắp xảy ra.

𝐌𝐔𝐍𝐈 – có nghĩa là hiền nhân hay người khôn ngoan.

𝐌𝐀𝐇𝐀 – có ý nghĩa tuyệt vời.

𝐒𝐎𝐇𝐀 – có nghĩa lời chúc mừng

𝐓𝐡𝐚̂̀𝐧 𝐜𝐡𝐮́ 𝐏𝐡𝐚̣̂𝐭 𝐓𝐡𝐢́𝐜𝐡 𝐂𝐚 𝐌𝐚̂𝐮 𝐍𝐢 𝐜𝐨́ 𝐭𝐡𝐞̂̉ đ𝐮̛𝐨̛̣𝐜 𝐜𝐨𝐢 𝐥𝐚̀ 𝐭𝐢𝐧𝐡 𝐭𝐮́𝐲 𝐜𝐮̉𝐚 Đ𝐮̛́𝐜 𝐏𝐡𝐚̣̂𝐭, 𝐛𝐚̉𝐧 𝐜𝐡𝐚̂́𝐭 𝐜𝐮̉𝐚 𝐬𝐮̛̣ 𝐠𝐢𝐚́𝐜 𝐧𝐠𝐨̣̂ 𝐜𝐮̉𝐚 𝐍𝐠𝐚̀𝐢.

Thần chú được cho là mang bản chất giác ngộ bằng chính âm thanh của các âm tiết. Một cái gì đó tràn đầy năng lượng nhưng khó giải thích. Vì vậy, bản dịch chính xác đôi khi có thể có được trong kinh nghiệm của năng lượng thần chú chứ không phải là những gì chúng ta tập trung vào cái gọi là ý nghĩa của các từ.

Thần chú được miêu tả là “một âm thanh sáng tạo được coi là biểu hiện bản chất sâu xa nhất của sự hiểu biết về vạn vật”, do đó việc đọc thần chú “có thể gợi lên một cách công thức hoặc thậm chí là huyền diệu” một trạng thái siêu việt của tâm trí và năng lượng.

Ngoài ra, thần chú là âm thanh thuần túy của bài phát biểu khai ngộ. Đó là tiếng Phạn, chứ không phải tiếng Tây Tạng. Trên thực tế, các bản dịch gần như không thể chuyển tải hết được ý nghĩa nội hàm của thần chú. Tuy nhiên, những gì chúng ta có thể làm là giải thích các âm tiết.

Đ𝐚̂𝐲 𝐥𝐚̀ 𝐥𝐨̛̀𝐢 𝐠𝐢𝐚̉𝐢 𝐭𝐡𝐢́𝐜𝐡 𝐜𝐮̉𝐚 𝐋𝐚𝐦𝐚 𝐙𝐨𝐩𝐚 𝐑𝐢𝐧𝐩𝐨𝐜𝐡𝐞 𝐯𝐞̂̀ 𝐭𝐡𝐚̂̀𝐧 𝐜𝐡𝐮́ 𝐜𝐮̉𝐚 Đ𝐮̛́𝐜 𝐏𝐡𝐚̣̂𝐭 𝐓𝐡𝐢́𝐜𝐡 𝐂𝐚 𝐌𝐚̂𝐮 𝐍𝐢:

𝐓𝐀𝐘𝐀𝐓𝐇𝐀 – Có nghĩa là như thế

𝐎𝐌 – Tất cả tri thức về ba thân thể của một vị Phật và của cơ thể Thiêng liêng của Đức Phật. Hiểu biết về hai con đường giác ngộ (Phương pháp và Trí tuệ), và của hai chân lý (tuyệt đối và tương đối) có chứa tất cả sự tồn tại trong đó.

𝐌𝐔𝐍𝐈 – Kiểm soát sự đau khổ của ba cõi thấp và về quan niệm sai lầm về bản ngã hiện hữu.

𝐌𝐔𝐍𝐈 – Kiểm soát đau khổ của tất cả chúng sinh trong 6 cõi luân hồi và trên những tư tưởng tự ái ân.

𝐌𝐀𝐇𝐀 𝐌𝐔𝐍𝐈𝐘𝐄 – Kiểm soát những đau khổ gây ra bởi ảo tưởng tinh tế và qua tâm trí nhị nguyên.

𝐒𝐎𝐇𝐀 – Để tâm trí tiếp nhận, hấp thụ và giữ các phước lành của thần chú.

𝐌𝐨̣̂𝐭 𝐜𝐚̂𝐮 𝐭𝐫𝐢́𝐜𝐡 𝐭𝐮̛̀ 𝐋𝐚𝐦𝐚 𝐓𝐡𝐮𝐛𝐭𝐞𝐧 𝐘𝐞𝐬𝐡𝐞:

“Đọc một câu thần chú ... không có nghĩa là chỉ lặp lại giọng nói của những âm tiết. Nhiều thiền giả niệm chú nhận ra rằng, hành động đọc thần chú vượt qua âm thanh và lời nói bên ngoài. Nó giống như nghe một âm thanh tinh tế bên trong hệ thống thần kinh của chúng ta.”

𝐒𝐮̛̉ 𝐃𝐮̣𝐧𝐠 𝐓𝐡𝐚̂̀𝐧 𝐂𝐡𝐮́ 𝐂𝐮̉𝐚 𝐏𝐡𝐚̣̂𝐭 𝐓𝐡𝐢́𝐜𝐡 𝐂𝐚 𝐌𝐚̂𝐮 𝐍𝐢 𝐓𝐫𝐨𝐧𝐠 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐜 𝐓𝐇𝐈𝐄̂̀𝐍 Đ𝐈̣𝐍𝐇

Tia sáng của dòng ánh sáng từ hình tượng của Đức Phật trước mặt bạn. Ánh sáng này đi vào cơ thể và nhanh chóng loại bỏ tất cả các năng lượng tiêu cực, che chướng và những trở ngại, giải phóng bạn để tiến bộ nhanh chóng trên con đường giác ngộ.

Hãy tưởng tượng ánh sáng này chảy không chỉ cho bạn, mà còn cho tất cả chúng sinh nằm trong không gian xung quanh bạn. Hãy tưởng tượng rằng, tất cả họ đều nhận được cảm hứng và phước lành từ thần chú. Do đó, khi bạn niệm thần chú của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nó cũng giống như một thực hành tích lũy công đức cho chính bạn.

Khi bạn trì tụng thần chú Phật Thích Ca Mâu Ni, nghĩ rằng bạn đang tịnh hóa bản thân và tất cả chúng sinh trong sáu cõi. Làm sạch tất cả các phiền não và nhận được tất cả những phẩm chất của Đức Phật.

Sau đó, một bản sao của Phật hấp thụ vào bạn, bạn sẽ biết mình phải làm gì để có thể giác ngộ giống như Phật Thích Ca. Tuy nhiên, để đạt được trạng thái đó, bạn phải trải qua các tầng thiền cao cấp. Bây giờ, hình dung mình là Phật Thích Ca, bạn “vận chuyển” chùm tia sáng từ mỗi lỗ chân lông của cơ thể.


Mỗi chùm sáng mang một vị Phật trên đầu và hấp thụ vào vô số chúng sinh, vô số cõi Ngạ quỹ, vô số thú vật, vô số con người và a-tu-la…mỗi người đều được thanh lọc.

Mỗi người trong số họ sẽ biết cần làm gì để trở thành Phật, và tất cả chư Phật đều hấp thụ vào bạn, trong trái tim của bạn. Một cách khác để hình dung ra là tất cả chư Phật đi ra ngoài và hấp thụ vào họ, và tất cả chúng sinh đều được giác ngộ như Phật Thích Ca Mâu Ni.

𝐓𝐀𝐘𝐀𝐓𝐇𝐀 𝐎𝐌 𝐌𝐔𝐍𝐈 𝐌𝐔𝐍𝐈 𝐌𝐀𝐇𝐀 𝐌𝐔𝐍𝐈𝐘𝐄 𝐒𝐎𝐇𝐀

06/13/2021

THẦN CHÚ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT VÀ LỢI ÍCH KHI TRÌ TỤNG THẦN CHÚ NGÀI ĐỊA TẠNG

ĐỊA Tạng Vương Bồ Tát
Bodhisattva King Kṣitigarbha of the Great Vow

Địa Tạng Bồ Tát tên
Tiếng Phạn là Ksitigarbha
Tiếng Tạng là Saayi Nyingpo

🌞Thần chú Địa Tạng Vương Bồ tát là một trong những thần chú phổ biến trong Phật giáo Đại Thừa, đặc biệt là ở Đông Á. Ngài thường được gọi là Bồ tát của chúng sinh dưới địa ngục, vì lời thề nguyện sẽ không đạt được Phật quả cho đến khi địa ngục hoàn toàn trống rỗng.

Phiên bản dài:
CHHIM BHO CHHIM BHO CHIM CHHIM BHO / AKASHA CHHIM BHO / VAKARA CHHIM BHO / AMAVARA CHHIM BHO / VARA CHHIM BHO / VACHIRA CHHIM BHO / AROGA CHHIM BHO / DHARMA CHHIM BHO / SATEVA CHHIM BHO / SATENI HALA CHHIM BHO / VIVA ROKA SHAVA CHHIM BHO / UVA SHAMA CHHIM BHO / NAYANA CHHIM BHO / PRAJÑA SAMA MONI RATNA CHHIM BHO / KSHANA CHHIM BHO / VISHEMA VARIYA CHHIM BHO / SHASI TALA MAVA CHHIM BHO / VI AH DRASO TAMA HELE / DAM VE YAM VE / CHAKRASE / CHAKRA VASILE / KSHILI PHILE KARAVA / VARA VARITE / MADERE PRARAVE / PARECHARA BHANDHANE / ARADANE / PHAN CHI CHA CHA / HILE MILE AKHATA THAGEKHE / THAGAKHI LO / THHARE THHARE MILE MADHE / NANTE KULE MILE / ANG KU CHITABHE / ARAI GYIRE VARA GYIRE / KUTA SHAMAMALE / TONAGYE TONAGYE / TONAGULE / HURU HURU HURU / KULO STO MILE / MORITO / MIRITA / BHANDHATA / KARA KHAM REM / HURU HURU

Có nhiều Phiên bản ngắn:
Oṃ Ha Ha Ha Vismaye Svāhā – Om Ha Ha Ha Win Sam Mo Ti So Ha

Om Pramardane Svaha Om Pra Mani Dani Soha

Om Ah Ksh*ti Garbha Thaleng Hum

Om / Namo Ksitigarbha Bodhisattva hoặc Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

🌞Lợi ích khi trì tụng thần chú Địa Tạng Vương

Thần chú Địa Tạng Vương Bồ tát có thể sử dụng khi ai đó gặp phải bất kỳ vấn đề khó khăn nào trong cuộc sống. Tụng niệm thần chú này 108 lần mỗi ngày sẽ giúp hóa giải mọi khó khăn, đau khổ của một người.
Thần chú cũng được dùng cho việc tiêu trừ nghiệp chướng và xóa bỏ những trở ngại trong việc thực hành các phương pháp bí truyền của Mật Tông Tây Tạng. Ở Việt Nam, kinh Địa Tạng thừa được dùng cho việc cầu siêu, ma chay hay tuần thất (giai đoạn thân trung ấm 49 ngày).

“Việc thực hành tụng niệm thần chú Địa Tạng Vương đặc biệt có lợi cho những người có vấn đề về sức khoẻ nghiêm trọng, những vấn đề nặng nề, khó khăn về tài chính hoặc đang gặp nguy hiểm như thiên tai, động đất...” – Lama Zopa Rinpoche

Đây là trích đoạn được lấy từ chương 13 (chương cuối) của kinh Địa Tạng.
Đức Phật nói với Akasagarbha: Lắng nghe, lắng nghe chăm chú! Bây giờ, tôi sẽ kể cho bạn về những lợi ích khi niệm thần chú Địa Tạng Vương Bồ tát, từng cái một. Trong tương lai, bất kỳ người đàn ông hay phụ nữ tốt nào bày tỏ lòng tôn kính Địa Tạng Vương và nghe kinh này, hơn nữa là dâng hương, hoa quả, thực phẩm...để khen ngợi Bồ tát, sẽ đạt được những lợi ích sau:

1. Sự bảo vệ của chư thiên.
2. Gia tăng hàng ngày công đức.
3. Không bị tụt lùi trên con đường giác ngộ.
4. Sự giàu có và quần áo và thực phẩm phong phú.
5. Không xảy ra bệnh.
6. Không xảy ra thiên tai lũ lụt,hỏa hoạn.
7. Không bị quấy rối bởi cướp hay trộm cắp.
8. Sự ngưỡng mộ và tôn trọng của tất cả những người gặp phải.
9. Hỗ trợ bởi các vị thần và ma quỷ.
10. Biến đổi cơ thể phụ nữ thành cơ thể đàn ông khi tái sinh.
11. Là con gái của một triều đình hoàng gia nếu được tái sinh như một người nữ.
12. Sở hữu một hình dáng trang nghiêm và duyên dáng.
13. Tái sinh thường xuyên trên cõi trời.
14. Đôi khi trở thành một hoàng đế hay một vị vua.
15. Sở hữu sức mạnh kỳ diệu như việc biết cuộc sống trước đây của một người.
16. Tất cả những lời cầu nguyện sẽ được trả lời.
17. Hạnh phúc cho các thành viên trong gia đình.
18. Loại bỏ tất cả những diễn biến bất ngờ và khó chịu.
19. Xoá bỏ vĩnh viễn những nghiệp xấu.
20. Luôn luôn được an toàn dù bất cứ nơi nào.
21. Luôn luôn cảm thấy an toàn và thích thú trong giấc mơ.
22. Tịnh hóa nghiệp xấu cho những người đã chết.
23. Được những lời khen ngợi của các vị Thánh.
24. Sở hữu trí tuệ thông minh và cơ thể khỏe mạnh.
25. Giàu lòng bi mẫn
26. Đạt được giác ngộ.

06/12/2021

Phật A Di Đà (tiếng Phạn: Amitabha) là một vị Phật rất được tôn kính trong đạo Phật Đại thừa, đặc biệt là những Phật tử theo Tịnh Độ tông. Tên của Ngài (vô lượng quang – vô lượng thọ) có nghĩa là “ánh sáng vô hạn” hoặc “tuổi thọ vô hạn”. Ngài đại diện cho lòng từ bi vô lượng của chư Phật, và được hình dung như màu sắc phong phú, ấm áp khi mặt trời lặn.

Tại Tây Tạng, nơi Phật giáo Kim Cương thừa (một nhánh khác của Đại thừa) được thực hành thì A Di Đà là một trong năm vị Phật phi lịch sử, mang tính biểu tượng và ngự trị 5 phương khác nhau trong mạn-đà-la.

Thần chú Phật A Di Đà phiên bản ngắn:
Oṃ Amitābha Hrīḥ
Oṃ Amideva Hrīḥ

Các vị Phật khác trong bộ này bao gồm: Đại Nhật Như Lai ở vị trí trung tâm (Vairocana), A Súc Bệ Như Lai ở hướng Đông (Akshobhya), Bảo Sanh Như Lai ở hướng Nam (Ratnasambhava) và Bất Không Thành Tựu Như Lai ngự trị phương Bắc (Amoghasiddhi).

Phật A Di Đà có tầm quan trọng rất lớn trong Phật giáo phương Đông, nơi Ngài được gọi là A Mi Đà (Amida). Ngài cũng có một hình dạng Bồ tát tên là Amitayus, có nghĩa là “vô lượng thọ”. Trong một số truyền thống, Amitabha và Amitayus được mô tả giống nhau về bản chất, nhưng ở một số trường phái khác thì khác biệt.

Phật A Di Đà thường được miêu tả cùng với 2 vị trợ thủ: Bồ Tát Quán Thế Âm, người xuất hiện bên trái của Ngài và Bồ Tát Đại Thế Chí, người xuất hiện trên phải của Ngài.

Bằng lòng từ bi vô lượng, Phật A Di Đà đã “tạo ra” cõi Tịnh độ ở phương Tây như một nơi “nương tựa” để Phật tử tu tập sau khi rời khỏi cõi trần.
Theo một số bản kinh của Tịnh độ tông, cõi Tịnh độ là những gì chúng ta có thể nghĩ về một chiều song song hoặc vũ trụ thay thế được xây dựng bởi công đức vô hạn của một vị Phật trong vô số thực hành của mình.

Ở cõi Tây phương cực lạc, mọi thứ đều giúp hành giả thuận lợi trên con đường tu tập đạt được giác ngộ. Bạn không phải lo lắng về việc kiếm tiền, kiếm nơi chốn hoặc thời gian để thiền. Bạn được sinh ra và trưởng thành trong một hoa sen, và giáo lý của Đức Phật thịnh hành ở khắp mọi nơi. Từ những chú chim, nước chảy cho đến những chiếc lá trên cành đều chứa đựng những lời dạy nhiệm màu.
Tịnh độ là một loại “thiên đường” mà nhiều Phật tử khao khát được vãng sanh về. Khát vọng này là chủ đề trung tâm của cái được gọi là Phật giáo Tịnh độ. Vì vậy, nhiều Phật tử theo trường phái này thường xuyên gọi danh hiệu của Phật A Di Đà qua một thực hành được gọi là “niệm Phật“.
Trong trường phái Kim Cương thừa, các hành giả Mật Tông trì tụng thần chú của Phật A Di Đà như một phương pháp rèn luyện tâm để có thể vãng sanh về cõi cực lạc trong thời khắc chuyển giao giữa Sống- Chết-Tái Sinh được gọi là Thân trung ấm.

Nhiều người tin rằng, Đức Phật A Di Đà có thể mang lại cho họ tất cả những phẩm chất giác ngộ, nhưng điều đặc biệt quan trọng là phải tập trung vào Ngài vào lúc chết. Để làm điều này, hành giả phải suy niệm về Phật A Di Đà và lặp lại câu thần chú của mình.

Giống như nhiều câu thần chú Mật tông khác, thần chú vãng sang Phật A Di Đà cũng có nhiều phiên bản khác nhau và thường bắt đầu bằng âm tiết “Om”. “Om” được cho là âm thanh đầu tiên của vũ trụ. Điều này khá thú vị khi nó dường như đồng nghĩa với tiếng “Ùm” của vụ nổ Bigbang tạo ra vũ trụ mà các nhà khoa học đã cho rằng.

Thần chú Phật A Di Đà phiên bản ngắn:
Oṃ Amitābha Hrīḥ
Oṃ Amideva Hrīḥ

Thần chú Phật A Di Đà là một biến thể của danh hiệu Ngài. Amideva chỉ là cách phát âm tiếng Tây Tạng của Amitabha. Từ Amideva được sử dụng trong các truyền thống Tây Tạng không phải là “Thần tiên”, mà là do người Tây Tạng phát âm sai tên của Amitābha.
Ngoài ra, một số học giả Phật giáo Tây Tạng nói rằng, Dewa (cách đánh vần của người Tây Tạng) là viết tắt của Dewachen, tên của Sukhāvatī (Tịnh độ) trong tiếng Tây Tạng.

Thần chú Phật A Di Đà phiên bản dài:
NAMO RATNA TRA YAYA / OM NAMO BHAGAVATE
APARIMITA AYUR JÑANA / SUPINISH CHITATAYE / JORA JAYA TATHAGATAYA / ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA / TADYATHA OM PUNYE PUNYE / MAHA PUNYE / APARIMITA PUNYE / AYU PUNYE / MAHA PUNYE / AYUR JÑANA / SARVA RUPA SIDDHI AYUR JÑANA / KE CHE BHRUM / OM BHRUM / AH BHRUM / SVA BHRUM / HA BHRUM / CHE BHRUM / OM SARVA SAMSKARA PARISHUDDHA DHARMATE / GAGANA SAMUDGATE SVABHAVA VISHUDDHE / MAHA NAYA PARIVARA YE SVAHA

Đây là thần chú thường được trì tụng để chuẩn bị cho một thực hành A Di Đà khác, thậm chí còn mạnh mẽ hơn được gọi là Phowa (chuyển di tâm thức).
Một thực hành về cái chết khi hành giả hướng tâm thức của mình vào “trái tim của Phật A Di Đà”, trải nghiệm chính xác những gì xảy ra vào lúc lâm trung. Nhưng thực hành Phowa bị nghiêm cấm thử một mình; nó nên được thực hành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của một vị Lạt ma có trình độ.
Ở phương Đông, niệm Phật hay trì tụng thần chú Phật A Di Đà là một truyền thống phổ biến để hỗ trợ người sắp chết sớm vãng sanh về cõi cực lạc.

06/12/2021

Lợi ích khi tụng niệm thần chú Bất Động Minh Vương
Thần chú Bất Động Minh Vương là một thần chú cực kỳ mạnh mẽ trong việc loại bỏ cảm xúc tiêu cực, cắt đứt mọi trở ngại khiến một người không thể nhận ra con đường giác ngộ. Thần chú cũng là một phương tiện hữu ích thường được thực hành bởi những người không thể làm chủ được bản thân.

Đây là một thần chú thể hiện sự tức giận bao gồm những từ phải được hiểu dưới góc nhìn Phật giáo Mật Tông. Ví dụ: Caṇḍa có nghĩa là “bạo lực”, mahāroṣaṇa có nghĩa là “cơn thịnh nộ lớn”, và sphoṭaya có nghĩa là “tiêu diệt”.

Sự “hung tợn” của Bất Động Minh Vương thể hiện ý chí mãnh liệt trong việc biến đổi tâm thông qua các thực hành bí truyền. Năng lượng của cơn giận dữ hướng về Phật tánh và phá vỡ mọi trở ngại ngăn cản, xuyên qua tấm màn vô minh để nhìn thấy rõ bản chất thật của vạn pháp. Đây không phải là “sự giận dữ” thông thường của con người, mà là “sự giận dữ” phát sinh từ lòng bi mẫn lớn lao của Bất Động Minh Vương vì đau khổ của chúng sinh.

THẦN CHÚ:

Namo Samanto Vajra Nai Ham

06/06/2021

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN (Dhammacakkappavattana Sutta)

Tiếng Pali — Việt

Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma SamBuddhaSa

Kính Lạy Đấng Thế Tôn Bậc A La Hán Đấng Toàn Tri Diệu Giác

[Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho 5 anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển sau khi Đức Phật đắc đạo]

“Tôi nghe như vầy. Đức Thế Tôn có lần sống ở Vườn Nai ở Isapatana gần Baranasi (Ba-La-Nại). Lúc đó, Phật đã nói với nhóm năm Tỳ kheo như sau:

“Này các Tỳ Kheo, có hai cực đoan mà những người xuất gia phải nên tránh. Hai đó là gì?

1.Sự mê đắm vào khoái lạc giác quan, điều đó thấp hèn, phàm tục, là cách của những người tầm thường, không đáng làm và không lợi lạc

2.Sự dấn thân vào việc tự hành xác bản thân, việc đó là đau đớn, không đáng làm và không lợi lạc.

“Để tránh hai cực đoan này, Như Lai đã chứng ngộ con đường Trung Đạo: Nó mang lại tầm nhìn, nó mang lại tri thức, và nó dẫn đến sự an tĩnh, sự sáng suốt, sự giác ngộ và Niết-bàn. Và con đường Trung Đạo đó là gì...? Đơn giản đó là “Bát Chánh Đạo”, như tên được đặt, bao gồm:

Bát Chánh Đạo là con đường có 8 nhánh là:

1.-Chánh Kiến
2.-Chánh Tư duy
3.-Chánh Ngữ
4.-Chánh Nghiệp
5.-Chánh Mạng
6.-Chánh Tinh Tấn
7.-Chánh Niệm
8.-Chánh Định

Đây là con đường Trung Đạo đã được chứng ngộ bởi Như Lai, nó mang lại tầm nhìn, nó mang lại tri thức, và nó dẫn đến sự an tĩnh, sự giác ngộ và Niết-bàn.

“Chân lý về Khổ (Dukkha) là như vầy: Sinh ra là khổ; già là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; u sầu và ai oán là khổ; đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng là khổ; gặp gỡ những người hay thứ mình không ưa là khổ; xa cách những người hay thứ mình yêu mến là khổ; không được điều mình muốn là khổ. Nói tóm lại, Năm Uẩn dính chấp đều là khổ.

“Chân lý về về Nguồn gốc Khổ là như vầy: Chính sự ‘thèm muốn’ (dục vọng) này tạo ra sự luân hồi và tái sinh (pono-bhavika), và nó bị trói buộc cùng với sự ‘tham muốn si mê’ (nadiràgasahagatà). Nó đi tìm khoái lạc mới chỗ này chỗ khác (tatratratràbhinadini), được gọi là sự thèm muốn khoái lạc giác quan (kama-tanhà), sự thèm muốn được hiện hữu và được trở thành (bhava-tanhà); và sự thèm muốn vì không được hiện hữu (tự hủy diệt)”. [1]

“Chân lý về sự Chấm Dứt Khổ là như vầy: Đó là sự chấm dứt hoàn toàn của dục vọng đã nói trên, xa lìa nó, từ bỏ nó, và giải thoát bản thân khỏi nó, không còn dính mắc vào nó”.
“Chân lý về Con Đường dẫn đến sự Chấm dứt Khổ là như vầy: Đơn giản đó là Bát Chánh Đạo, như tên được đặt, bao gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định”.

“ “Đây là Chân Lý về Khổ (Dukkha)”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta về những điều chưa từng được nghe trước đây. “Sự Khổ này, như là một chân lý cao diệu, nên được hiểu rõ hoàn toàn”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Sự Khổ này, như là một chân lý cao diệu, đã được hiểu rõ hoàn toàn”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với về những điều chưa từng được nghe trước đây.

“ “Đây là Chân Lý về Nguồn gốc Khổ”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Nguồn gốc Khổ này, như là một chân lý cao diệu, nên được từ bỏ hoàn toàn”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Nguồn gốc Khổ này, như là một chân lý cao diệu, đã được từ bỏ hoàn toàn”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây.

“ “Đây là Chân Lý về sự Chấm dứt Khổ”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta về những điều chưa từng được nghe trước đây. “Sự Chấm dứt Khổ này, là một chân lý cao diệu, nên được chứng ngộ”[2]: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Sự Chấm dứt Khổ này, là một chân lý cao diệu, đã được chứng ngộ”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây.

“ “Đây là Chân Lý về Con Đường dẫn đến sự Chấm dứt Khổ”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Con Đường dẫn đến sự Chấm dứt Khổ này, như là một chân lý cao diệu, nên được thực hành (tu tập) theo: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Con Đường dẫn đến sự Chấm dứt Khổ này, như là một chân lý cao diệu, đã được thực hành (tu tập) theo: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây.

“Cho đến khi mà tầm nhìn bằng tri kiến thật sự của Ta chưa hoàn toàn thấu rõ về ba sự hiểu biết, về mười hai cách này, đối với Bốn Diệu Đế[3], Ta đã không tuyên bố Ta đã chứng đạt sự Giác Ngộ, đó là sự Giác ngộ tối thượng trong thế giới của trời thần, với Ma vương và Phạm Thiên, trong thế gian này, với các Ẩn sĩ và Bà-la-môn, với các hoàng tử và mọi người.

“Nhưng khi tầm nhìn bằng tri kiến thật sự của Ta đã hoàn toàn thấu rõ về ba sự hiểu biết, mười hai cách này, đối với Bốn Diệu Đế,5 Ta tuyên bố Ta đã chứng đạt sự Giác Ngộ, đó là sự Giác Ngộ tối thượng trong thế giới của trời thần, với Ma vương và Phạm Thiên, trong thế gian này, với các Ẩn sĩ và Bà-la-môn, với các hoàng tử và mọi người.
“Và một tầm nhìn bằng tri kiến thật sự đã khởi sinh trong ta như vậy: Sự giải thoát của tâm ta là tối thắng. Đây là lần đản sinh cuối cùng. Từ đây không còn tái sinh nữa.” ”.

Kinh này do Đức Thế Tôn nói ra. Nhóm năm Tỳ kheo đều hài lòng, và họ cùng hoan hỉ với lời dạy của Phật.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Samyutta nikaya, LVI, 11)1

■ Chú thích:

[1] vibhava-tanhà: (Dục vọng vì không còn được hiện hữu sau khi chết, tư tưởng cho rằng chết là hết, vì vậy con người cứ tìm mọi cách thỏa mãn những dục vọng khoái lạc phàm tục về vật chất và tinh thần trong kiếp này, bất chấp quy luật nghiệp quả và tái sinh.)

[2] “Sự chấm dứt khổ”: (tức là giải thoát, là Niết-bàn, là mục tiêu chính và tối hậu của Đạo Phật, cho nên cần phải ‘làm cho được’, cần phải chứng ngộ được. Diệt khổ là nên diệt cho được.)

[3] Như chúng ta đã thấy trong bốn đoạn kinh đầu, mỗi đoạn nói về một trong bốn Diệu Đế, trong một Diệu Đế có ba vấn đề phải được thấu hiểu. Đó là: 1. Sự hiểu biết rằng đó là chân lý, là lẽ thật (sacca-nàna: hiểu biết đó là chân lý). 2. Sự hiểu biết rằng phải có trách nhiệm hay hành động để thực hành chân lý đó (kicca- nàna: hiểu biết là phải thực hành). 3. Sự hiểu biết rằng trách nhiệm hay hành động thực hành chân lý đó đã được thực hiện (kata-nàna: hiểu biết về kết quả thực hành, sự chứng ngộ đã làm được.)
Khi ba sự hiểu biết nếu được áp dụng vào mỗi chân lý của Bốn Diệu Đế, thì tất cả có mười hai phần, tức mười hai cách hiểu biết hay cách thực hành.

06/06/2021

RATANA SUTTA (KINH CHÂU BÁU)

https://budsas.net/dlpp/bai150/index.htm

Buddha Jayanti Tripitaka Series
Tạng Sri Lanka

Bản tụng tiếng Pali - Việt

224. Yānīdha bhūtāni samāgatāni
bhummāni vā yāni va antalikkhe,
sabbeva bhūtā sumanā bhavantu
athopi sakkacca suṇantu bhāsitaṃ.

Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin mở lòng hoan hỷ
Lắng nghe lời dạy này.

225. Tasmā hi bhūtā nisāmetha sabbe
mettaṃ karotha mānusiyā pajāya,
divā ca ratto ca haranti ye baliṃ
tasmā hi ne rakkhatha appamattā.

Tất cả chúng Thiên nhân
Hãy đồng tâm hoan hỷ
Mở rộng tấm lòng từ
Luôn chuyên cần gia hộ
Những người nam, nữ nào
Ngày đêm thường bố thí.

226. Yaṃ kiñci vittaṃ idha vā huraṃ vā
saggesu vā yaṃ ratanaṃ paṇītaṃ,
na no samaṃ atthi tathāgatena
idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Phàm những tài sản gì
Đời này hay đời sau
Hoặc châu báu thù thắng
Hiện hữu trên cõi trời
Không gì sánh bằng được
Với Thiện Thệ Như Lai
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

227. Khayaṃ virāgaṃ amataṃ paṇītaṃ
yadajjhagā sakyamunī samāhito,
na tena dhammena samatthi kiñci
idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Ly dục diệt phiền não
Pháp bất tử thù diệu
Phật Thích Ca Mâu Ni
Đã chứng đắc tịch tịnh
Chẳng Pháp nào sánh bằng
Như vậy chính Pháp Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

228. Yaṃ buddhaseṭṭho parivaṇṇayī suciṃ
samādhimānantarikaññamāhu,
samādhinā tena samo na vijjati
idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Bậc Vô Thượng Chánh Giác
Hằng ca ngợi pháp Thiền
Trong sạch, không gián đoạn
Chẳng thiền nào sánh bằng
Như vậy chính Pháp Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

229. Ye puggalā aṭṭha sataṃ pasatthā
cattāri etāni yugāni honti,
te dakkhiṇeyyā sugatassa sāvakā
etesu dinnāni mahapphalāni,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Thánh tám vị bốn đôi
Được bậc thiện tán thán
Đệ tử Đấng Thiện Thệ
Xứng đáng được cúng dường
Bố thí các vị ấy
Được kết quả vô thượng
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

230. Ye suppayuttā manasā daḷhena
nikkāmino gotamasāsanamhi,
te pattipattā amataṃ vigayha
laddhā mudhā nibbutiṃ bhuñjamānā,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Thiện hạnh tâm kiên cố
Ly dục trong Chánh Đạo
Của Phật Gotama
Chứng nhập vị bất tử
Hưởng tịch tịnh dễ dàng
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

231. Yathindakhīlo paṭhaviṃsito siyā
catubbhi vātehi asampakampiyo,
tathūpamaṃ sappurisaṃ vadāmi
yo ariyasaccāni avecca passati,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Ví như cột trụ đá
Khéo y cứ lòng đất
Dầu có gió bốn phương
Cũng không hề lay động
Ta nói bậc chân nhân
Liễu ngộ Tứ Thánh Đế
Cũng tự tại bất động
Trước tám Pháp thế gian
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

232. Ye ariyasaccāni vibhāvayanti
gambhīrapaññena sudesitāni,
kiñcāpi te honti bhusappamattā
na te bhavaṃ aṭṭhamaṃ ādiyanti,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Bậc thấu triệt Thánh Đế
Đã được khéo thuyết giảng
Bởi trí tuệ uyên thâm
Dù cho có phóng dật
Cũng không thể tái sanh
Nhiều hơn trong bảy kiếp
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

233. Sahāvassa dassanasampadāya
tayassu dhammā jahitā bhavanti
sakkāyadiṭṭhi vicikicchitañca
sīlabbataṃ vāpi yadatthi kiñci,
catūhapāyehi ca vippamutto
cha cābhiṭhānāni abhabbo kātuṃ
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Những bậc kiến cụ túc
Đoạn trừ ba kiết sử
Là thân kiến, hoài nghi
Luôn cả giới cấm thủ
Thoát khỏi bốn đọa xứ
Không làm sáu trọng tội
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

234. Kiñcāpi so kammaṃ karoti pāpakaṃ
kāyena vācā uda cetasā vā,
abhabbo so tassa paṭicchādāya
abhabbatā diṭṭhapadassa vuttā,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Dầu có làm tội gì
Bằng thân, khẩu hoặc ý
Các ngài chẳng bao giờ
Che dấu điều đã phạm
Bởi vì đức tánh này
Được gọi là thấy Pháp
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

235. Vanappagumbe yathā phussitagge
gimhānamāse paṭhamasmiṃ gimhe,
tathūpamaṃ dhammavaraṃ adesayi
nibbānagāmiṃ paramaṃ hitāya,
idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Ví như cây trong rừng
Đâm chồi đầu mùa hạ
Cũng vậy Đức Thế Tôn
Thuyết giảng Pháp ưu việt
Dẫn đến ngộ Niết-bàn
Là lợi ích tối thượng
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.


236. Varo varaññū varado varāharo
anuttaro dhammavaraṃ adesayi,
idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Đức Phật bậc vô thượng
Liễu thông Pháp vô thượng
Ban bố Pháp vô thượng
Chuyển đạt Pháp vô thượng
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.


237. Khīṇaṃ purāṇaṃ navaṃ natthi sambhavaṃ
virattacittā āyatike bhavasmiṃ,
te khīṇabījā avirūḷhicchandā
nibbanti dhīrā yathāyam padīpo,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Nghiệp cũ đã tiêu mòn
Nghiệp mới không phát khởi
Nhàm chán kiếp tái sinh
Chủng tử dục đoạn tận
Bậc trí chứng Niết-bàn
Ví như ngọn đèn tắt
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

238. Yānīdha bhūtāni samāgatāni
bhummāni vā yāni va antalikkhe,
tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ
buddhaṃ namassāma suvatthi hotu.

Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Phật
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên, loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.

239. Yānīdha bhūtāni samāgatāni
bhummāni vā yāni va antalikkhe,
tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ
dhammaṃ namassāma suvatthi hotu.

Phàm chúngThiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Pháp
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.

240. Yānīdha bhūtāni samāgatāni
bhummāni vā yāni va antalikkhe,
tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ
saṅghaṃ namassāma suvatthi hotu.

Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Tăng
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên, loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.

Là một trong 3 bài kinh hộ trì và phúc chúc

Kinh Phước Đức - Mangala Sutta

Kinh Châu Báu - Ratana Sutta

Kinh Tâm Từ - Metta Sutta

Ratana Sutta Kinh Châu Báu là bài kinh rất phổ thông trong các quốc độ theo truyền thống PG Theravada và hầu như được các Phật tử thuần thành đọc tụng thuộc lòng. Các Chú giải đều ghi duyên sự bài kinh từ câu chuyện ở thành Vesali (Tỳ-xá-ly), kinh đô xứ Vajji (Bạt-kỳ) chịu 3 tai ương: nạn đói, ma quỷ quấy phá, và bệnh dịch. Bộ tộc Licchavi cai trị xứ này, gửi một phái đoàn đến thành Vương-Xá (Rajagaha), xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) của vua Bimbisara (Bình-sa, Tần-bà-sa-la) gặp Đức Phật lúc bấy giờ đang ngự tại Tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana). Họ thỉnh cầu Ngài đến Vesali để giải trừ các tai ương ấy. Khi Ngài đến nơi cùng với vua trời Đế-thích (Sakka) và chư thiên, phần lớn các loài ma quỷ hoảng sợ bỏ trốn. Trời đổ mưa xối xả rửa sạch thành phố. Đức Phật đọc lên bài kinh Ratana Sutta, bảo ngài Ananda ghi nhớ rồi đi vòng quanh thành phố, vừa đi vừa rải nước chứa trong bình bát và đọc tụng bài kinh nầy. Khi ngài Ananda tuân lời Đức Phật làm theo như thế, những ma quỷ còn lại đều bỏ chạy và bệnh dịch được tiêu trừ. Dân chúng vui mừng đến gặp Đức Phật và Tăng đoàn để cúng dường và tạ ơn. Đức Phật giảng lại bài kinh nầy cho tất cả những ai đến gặp Ngài. Hàng ngàn người sau khi nghe xong đã mở Pháp nhãn và đắc thánh quả. Duyên sự nầy cũng được đề cập trong Chú giải Pháp cú, kệ 290.

Do duyên sự đó, Ratana Sutta Kinh Châu Báu ngày nay thường được tụng đọc để xua tan bệnh tật, rủi ro, và ma quỷ.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma SamBuddhaSa

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 🙏🙏🙏

Address

W Mt Houston Road
Houston, TX
77088

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thần Chú Mật Tông Mantra và Dharani posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share