Phật Giáo Nguyên Thuỷ Thevarada

Phật Giáo Nguyên Thuỷ Thevarada Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Phật Giáo Nguyên Thuỷ Thevarada, Buddhist Temple, W Mt Houston Road, Houston, TX.

11/11/2021

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN (Dhammacakkappavattana Sutta)

Tiếng Pali — Việt

Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma SamBuddhaSa

Kính Lạy Đấng Thế Tôn Bậc A La Hán Đấng Toàn Tri Diệu Giác

[Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho 5 anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển sau khi Đức Phật đắc đạo]

5 Anh Em Kiều Trần Như là vị đệ tử xuất gia và chứng quả A la hán đầu tiên của đức Phật, là thành viên đầu tiên của giáo đoàn, 5 vị đệ tử ban đầu của Đức Phật gồm:

Kiều Trần Như
Kiều Trần Na
Kiều Trần Nhi
Kiều Trần Thi
Kiều Trần Nga

“Tôi nghe như vầy. Đức Thế Tôn có lần sống ở Vườn Nai ở Isapatana gần Baranasi (Ba-La-Nại). Lúc đó, Phật đã nói với nhóm năm Tỳ kheo như sau:

“Này các Tỳ Kheo, có hai cực đoan mà những người xuất gia phải nên tránh. Hai đó là gì?

1.Sự mê đắm vào khoái lạc giác quan, điều đó thấp hèn, phàm tục, là cách của những người tầm thường, không đáng làm và không lợi lạc

2.Sự dấn thân vào việc tự hành xác bản thân, việc đó là đau đớn, không đáng làm và không lợi lạc.

“Để tránh hai cực đoan này, Như Lai đã chứng ngộ con đường Trung Đạo: Nó mang lại tầm nhìn, nó mang lại tri thức, và nó dẫn đến sự an tĩnh, sự sáng suốt, sự giác ngộ và Niết-bàn. Và con đường Trung Đạo đó là gì...? Đơn giản đó là “Bát Chánh Đạo”, như tên được đặt, bao gồm:

Bát Chánh Đạo là con đường có 8 nhánh là:

1.-Chánh Kiến
2.-Chánh Tư duy
3.-Chánh Ngữ
4.-Chánh Nghiệp
5.-Chánh Mạng
6.-Chánh Tinh Tấn
7.-Chánh Niệm
8.-Chánh Định

Đây là con đường Trung Đạo đã được chứng ngộ bởi Như Lai, nó mang lại tầm nhìn, nó mang lại tri thức, và nó dẫn đến sự an tĩnh, sự giác ngộ và Niết-bàn.

“Chân lý về Khổ (Dukkha) là như vầy: Sinh ra là khổ; già là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; u sầu và ai oán là khổ; đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng là khổ; gặp gỡ những người hay thứ mình không ưa là khổ; xa cách những người hay thứ mình yêu mến là khổ; không được điều mình muốn là khổ. Nói tóm lại, Năm Uẩn dính chấp đều là khổ.

“Chân lý về về Nguồn gốc Khổ là như vầy: Chính sự ‘thèm muốn’ (dục vọng) này tạo ra sự luân hồi và tái sinh (pono-bhavika), và nó bị trói buộc cùng với sự ‘tham muốn si mê’ (nadiràgasahagatà). Nó đi tìm khoái lạc mới chỗ này chỗ khác (tatratratràbhinadini), được gọi là sự thèm muốn khoái lạc giác quan (kama-tanhà), sự thèm muốn được hiện hữu và được trở thành (bhava-tanhà); và sự thèm muốn vì không được hiện hữu (tự hủy diệt)”. [1]

“Chân lý về sự Chấm Dứt Khổ là như vầy: Đó là sự chấm dứt hoàn toàn của dục vọng đã nói trên, xa lìa nó, từ bỏ nó, và giải thoát bản thân khỏi nó, không còn dính mắc vào nó”.
“Chân lý về Con Đường dẫn đến sự Chấm dứt Khổ là như vầy: Đơn giản đó là Bát Chánh Đạo, như tên được đặt, bao gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định”.

“ “Đây là Chân Lý về Khổ (Dukkha)”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta về những điều chưa từng được nghe trước đây. “Sự Khổ này, như là một chân lý cao diệu, nên được hiểu rõ hoàn toàn”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Sự Khổ này, như là một chân lý cao diệu, đã được hiểu rõ hoàn toàn”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với về những điều chưa từng được nghe trước đây.

“ “Đây là Chân Lý về Nguồn gốc Khổ”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Nguồn gốc Khổ này, như là một chân lý cao diệu, nên được từ bỏ hoàn toàn”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Nguồn gốc Khổ này, như là một chân lý cao diệu, đã được từ bỏ hoàn toàn”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây.

“ “Đây là Chân Lý về sự Chấm dứt Khổ”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta về những điều chưa từng được nghe trước đây. “Sự Chấm dứt Khổ này, là một chân lý cao diệu, nên được chứng ngộ”[2]: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Sự Chấm dứt Khổ này, là một chân lý cao diệu, đã được chứng ngộ”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây.

“ “Đây là Chân Lý về Con Đường dẫn đến sự Chấm dứt Khổ”: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Con Đường dẫn đến sự Chấm dứt Khổ này, như là một chân lý cao diệu, nên được thực hành (tu tập) theo: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây. “Con Đường dẫn đến sự Chấm dứt Khổ này, như là một chân lý cao diệu, đã được thực hành (tu tập) theo: như là tầm nhìn, tri thức, trí tuệ, khoa học, ánh sáng, chúng khởi sinh trong ta đối với những điều chưa từng được nghe trước đây.

“Cho đến khi mà tầm nhìn bằng tri kiến thật sự của Ta chưa hoàn toàn thấu rõ về ba sự hiểu biết, về mười hai cách này, đối với Bốn Diệu Đế[3], Ta đã không tuyên bố Ta đã chứng đạt sự Giác Ngộ, đó là sự Giác ngộ tối thượng trong thế giới của trời thần, với Ma vương và Phạm Thiên, trong thế gian này, với các Ẩn sĩ và Bà-la-môn, với các hoàng tử và mọi người.

“Nhưng khi tầm nhìn bằng tri kiến thật sự của Ta đã hoàn toàn thấu rõ về ba sự hiểu biết, mười hai cách này, đối với Bốn Diệu Đế,5 Ta tuyên bố Ta đã chứng đạt sự Giác Ngộ, đó là sự Giác Ngộ tối thượng trong thế giới của trời thần, với Ma vương và Phạm Thiên, trong thế gian này, với các Ẩn sĩ và Bà-la-môn, với các hoàng tử và mọi người.
“Và một tầm nhìn bằng tri kiến thật sự đã khởi sinh trong ta như vậy: Sự giải thoát của tâm ta là tối thắng. Đây là lần đản sinh cuối cùng. Từ đây không còn tái sinh nữa.” ”.

Kinh này do Đức Thế Tôn nói ra. Nhóm năm Tỳ kheo đều hài lòng, và họ cùng hoan hỉ với lời dạy của Phật.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Samyutta nikaya, LVI, 11)1

■ Chú thích:

[1] vibhava-tanhà: (Dục vọng vì không còn được hiện hữu sau khi chết, tư tưởng cho rằng chết là hết, vì vậy con người cứ tìm mọi cách thỏa mãn những dục vọng khoái lạc phàm tục về vật chất và tinh thần trong kiếp này, bất chấp quy luật nghiệp quả và tái sinh.)

[2] “Sự chấm dứt khổ”: (tức là giải thoát, là Niết-bàn, là mục tiêu chính và tối hậu của Đạo Phật, cho nên cần phải ‘làm cho được’, cần phải chứng ngộ được. Diệt khổ là nên diệt cho được.)

[3] Như chúng ta đã thấy trong bốn đoạn kinh đầu, mỗi đoạn nói về một trong bốn Diệu Đế, trong một Diệu Đế có ba vấn đề phải được thấu hiểu. Đó là: 1. Sự hiểu biết rằng đó là chân lý, là lẽ thật (sacca-nàna: hiểu biết đó là chân lý). 2. Sự hiểu biết rằng phải có trách nhiệm hay hành động để thực hành chân lý đó (kicca- nàna: hiểu biết là phải thực hành). 3. Sự hiểu biết rằng trách nhiệm hay hành động thực hành chân lý đó đã được thực hiện (kata-nàna: hiểu biết về kết quả thực hành, sự chứng ngộ đã làm được.)
Khi ba sự hiểu biết nếu được áp dụng vào mỗi chân lý của Bốn Diệu Đế, thì tất cả có mười hai phần, tức mười hai cách hiểu biết hay cách thực hành.

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN (Dhammacakkappavattana Sutta)TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CON LÀ PHẬT SẼ THÀNH    ~Sakyamuni Buddha[Bài th...
11/11/2021

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN
(Dhammacakkappavattana Sutta)

TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CON LÀ PHẬT SẼ THÀNH
~Sakyamuni Buddha

[Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho 5 anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển sau khi Đức Phật đắc đạo]

5 Anh Em Kiều Trần Như là vị đệ tử xuất gia và chứng quả A la hán đầu tiên của đức Phật, là thành viên đầu tiên của giáo đoàn, 5 vị đệ tử ban đầu của Đức Phật gồm:

Kiều Trần Như
Kiều Trần Na
Kiều Trần Nhi
Kiều Trần Thi
Kiều Trần Nga

Đức Phật Chuyển Pháp luân - Bài Kinh Chuyển Pháp Luân cực kỳ quan trọng, là bài giảng pháp đầu tiên mà Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển sau khi Ngài đắc đạo.

Bài Pháp nầy tóm tắt các điểm chính yếu của Ðạo giải thoát, đó là :

TỨ DIỆU ĐẾ
BÁT CHÁNH ĐẠO

Bảy tuần sau khi chứng đạt giác ngộ, Đức Phật không định thuyết pháp. Nhưng vua trời Phạm Thiên và Đế Thích đã cúng dàng thiên nhạc thỉnh cầu Đức Phật chuyển pháp luân vì lợi ích chúng sinh cõi Sa bà.

Với Phật nhãn, Đức Phật thấy năm người bạn đồng tu xưa kia của mình và quyết định họ sẽ là những người đầu tiên được nghe giáo pháp của Ngài. Kinh Chuyển Pháp luân chính là bộ kinh đầu tiên Đức Phật thuyết giảng cho năm anh em ông Kiều Trần Như.

Đạo Phật theo con đường ở giữa (Trung Đạo)
“Này các thầy Tỳ Kheo! Có hai cực đoan mà bậc xuất gia phải tránh:

🌞Thứ nhất là chìm đắm trong dục lạc .Đó là điều thắp hèn, phàm tục và vô ích.

🌞Thứ hai là theo lối tu khắc khổ .Đó là điều gây khổ sở và vô ích.

Các thầy hãy từ bỏ hai cực đoan ấy.
Như Lai (Đức Phật thường dùng danh từ này để tự xưng mình) đã thấu hiểu rằng Con đường ở giữa Trung đạo hai cực đoan ấy, tức là không thiên về một bên nào quá đáng mà Như Lai đã áp dụng để phát triển nhãn quan, sự hiểu biết phân minh, tiến đến sự an tịnh đưa đến trí tuệ , giác ngộ (và Niết-bàn hay con đường dứt khổ.

🌞Thế nào là Bát Chánh Đạo?

Này các thầy Tỳ Kheo! Phép tu hành theo con đường ở giữa mà Như Lai đã ngộ là sự tu hành để phát triển nhãn quan, tri kiến, đưa đến sự an tịnh, trí tuệ cao siêu, giác ngộ và Niết-bàn là gì?
– Đó là Bát Chánh Đạo!

Bát Chánh Đạo là con đường có 8 nhánh là:

1.-Chánh Kiến
2.-Chánh Tư duy
3.-Chánh Ngữ
4.-Chánh Nghiệp
5.-Chánh Mạng
6.-Chánh Tinh Tấn
7.-Chánh Niệm
8.-Chánh Định

Tứ Diệu Đế là 4 chân lý cao cả, gốc cơ bản của Phật giáo, là nội dung chính của bài Kinh đầu tiên, kinh Chuyển Pháp Luân của Phật giáo do đức Phật giảng giải

🌞Tứ Diệu Đế là gì?

Tứ Diệu Đế , là bốn chân lí cao cả/ cao thượng; cũng gọi là Tứ thánh đế . Đây là trọng tâm của bài thuyết Pháp này.

1. Khổ Đế: Này các thầy Tỳ Kheo! Bây giờ Như Lai giảng về Chân Lý Cao thượng về sự Khổ: Sanh là sự hợp lại của Ngũ Uẩn, là khổ; Lão/già là khổ, bịnh là khổ, tử/chết là sự tan rã Ngũ Uẩn, là khổ. Buồn rầu, lo lắng, thất bại, rối loạn tâm thần là khổ. Sống chung với người mình không ưa thích là khổ, lìa xa người thân yêu là khổ, ước muốn mà không được là khổ. Nói cách khác, có thân Ngũ Uẩn là khổ, vì ngũ uẩn là vô thường, biến đổi không ngừng.

2.Tập Đế: Này các thầy Tỳ Kheo! Đây là Chân Lý Cao thượng về nguyên nhân của khổ đau: Chính lòng ham muốn được tái sanh, chìm đắm trong dục lạc, tức là, lòng ham muốn chìm đắm trong khoái cảm dục vọng, ham muốn mọi vật được trường tồn vĩnh cữu, lòng ham muốn trong tâm ý rằng sau cái chết thì không còn gì nữa; đó là nguyên nhân của khổ đau.

3. Diệt Đế: Này các thầy Tỳ Kheo! Đây là Chân Lý Cao Thượng về sự diệt khổ đau. Đó là sự chấm dứt lòng ham muốn, không luyến tiếc.

4. Đạo Đế: Này các thầy Tỳ Kheo! Đây là Chân Lý Cao thượng về con đường dẫn đến sự diệt khổ. Đó chính là Bát Chánh Đạo.

🌞Tam Chuyển Pháp Luân, Thập Nhị Hành nghĩa là gì?

Để giúp 5 vị Tỳ Kheo hiểu thấu rõ Tứ Điệu Đế, Đức Phật thực hiện tam chuyển Pháp luân cho mỗi Đế. Có 4 Đế, nên có 12 hành, người Trung Hoa gọi là Thập nhị hành ( 3 chuyển x 4 Đế = 12 hành).

1. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Khổ Đế:

Thị Chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Khổ đế [sự thật về nỗi khổ đau: phiền não, sanh tử luân hồi…] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu.
Khuyến chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết Khổ Đế này.
Chứng chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã chứng nghiệm được Khổ Đế này. Nên nhãn quan, sự biết, sự hiểu, trí tuệ biết rõ, chân hiểu biết và ánh sáng đã phát sanh đến Như Lai. [Ánh sáng ở đây có thể hiểu là “diệt trừ được vô minh”]

2. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Tập Đế:

Thị chuyển: Này các Tỳ Kheo! Khổ Tập Đế [sự thật về các nguyên nhân của đau khổ, phiền não, và sanh tử luân hồi] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu.
Khuyến chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết các nguyên nhân của sự khổ: Khổ Tập Đế.
Chứng chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã chứng nghiệm được Khổ Tập Đế này. Nên nhãn quan, sự biết, sự hiểu, trí tuệ biết rõ, chân hiểu biết và ánh sáng đã phát sanh đến Như Lai.

3. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Diệt Đế:

Thị chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Khổ Diệt Đế [sự thật về việc phải diệt trừ sự khổ đau để đạt được an lạc, thanh tịnh, hạnh phúc và giác ngộ] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu.
Khuyến chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết cần phải dứt bỏ, tiêu diệt sự khổ đau: Khổ Diệt Đế.
Chứng chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã trải nghiệm quyết định tiêu diệt sự khổ đau: Khổ Diệt Đế. Nên nhãn quan, sự biết, sự hiểu, trí tuệ biết rõ, chân hiểu biết và áng sáng đã phát sanh đến Như Lai.

4. Đây là 3 chuyển Pháp luân của Diệt Khổ Đạo Đế (Bát Chánh Đạo):

Thị chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Diệt Khổ Đạo Đế (=Bát Chánh Đạo) [8 con đường có 8 chi nhánh dẩn đến việc diệt trừ khổ đau] là pháp mà trước đây Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu.
Khuyến chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Các thầy nên nhận biết Diệt Khổ Đạo Đế để giúp dẩn đến việc diệt trừ khổ đau.
Chứng chuyển: Này các thầy Tỳ Kheo! Như Lai đã thực nghiệm “Bát Chánh Đạo”. Khi Diệt Khổ Đạo Đế được thực hiện và được phát triển thì nhãn quan, sự hiểu, sự biết, trí tuệ biết rõ, chân hiểu biết và ánh sáng đã phát sanh đến Như Lai.

Sau khi kết thúc tam chuyển Pháp luân - thập nhị hành, Đức Phật Thích ca giảng tiếp: Này các thầy Tỳ Kheo! Nếu Như Lai chưa hoàn toàn thấu triệt Tứ Diệu Đế về ba phương diện và đủ mười hai phương thức một cách hoàn toàn sáng tỏ thì Như Lai đã không xác nhận điều này trước thế gian này gồm có cả chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Đạo sĩ, Giáo sĩ Bà-la-môn, Con người và loài ngoài hạng con người nữa rằng Như Lai đã đạt được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Trong khoảnh khắc ấy tiếng hoan hô vang dội làm rung chuyển mạnh mẽ, chỉ trong nháy mắt đã làm cả 10.000 thế giới trong cõi Phạm Thiên đều rung chuyển theo. Một hào quang vô cùng rực rỡ hơn tất cả hào quang của chư Thiên đã chiếu sáng trên thế gian. Đức Phật liền nói: “Kondanna quả đã giác ngộ! Kondanna quả đã giác ngộ! Từ đó Kondanna được gọi tên là Annata Kondanna, có nghĩa là “Kondanna là người đã giác ngộ”. Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh Pali), quyển V, trang 420.

🌞Ngài Kondanna (Kiều Trần Như) - đệ tử đầu tiên của đức Phật, đã ngộ lời giảng dạy của Đức Phật Thích ca về triết lý vô thường khi Kondanna phát biểu: “Cái gì đã có sanh tất phải có diệt"
Trong Luật tạng có nơi nói rằng Ngài Kondanna thỉnh cầu Đức Phật cho Ngài làm đệ tử của Phật, Đức Phật đã chấp thuận. Kondanna là vị sư xuất gia đầu tiên, Tăng đoàn (Sangha) đã được thành lập từ đó, tiếp theo là 4 vị Tỳ Kheo kia cũng gia nhập tăng đoàn và họ lần lượt chứng quả Arahant. Ngài Kondanna đã ngộ lời giảng dạy của Đức Phật Thích ca về triết lý vô thường khi Kondanna phát biểu:

“Cái gì đã có sanh tất phải có diệt”.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma SamBuddhaSa 🙏🙏🙏

Giáo sư triết học Nguyễn Vĩnh Thường

Mừng Ngày Phật Đản Sinh Con Xin Nguyện Theo Chân Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật mà Tu Tập. Ngày Tam Hợp (Vesakha ...
11/10/2021

Mừng Ngày Phật Đản Sinh Con Xin Nguyện Theo Chân Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật mà Tu Tập.

Ngày Tam Hợp (Vesakha Puja): Lễ Tam Hợp là lễ kỷ niệm 3 dịp trọng đại được diễn ra vào
ngày 8 tháng 4 âm lịch hoặc
ngày 15 tháng 4 âm lịch
hàng năm, tùy theo quốc gia.

Đức Phật Đản Sinh
Đức Phật Thành Đạo
và Đức Phật Nhập Niết Bàn.

Đây là ngày lễ quan trọng nhất của Phật Giáo, và ngày Đản Sinh nầy đều được mọi tông phái tôn trọng. Vì thế, mọi thiện nghiệp chúng ta thực hiện đều được tăng trưởng hàng triệu lần.

Làm Việc Lành Tránh Điều Dữ .
Ăn Chay ,Phóng Sanh ,Bố Thí .
Giữ Giới tích tụ Công Đức.
Giữ Thân Khẩu Ý Thanh Tịnh.

Và Chúng ta nên ăn chay để thực hành bi mẫn hướng về chúng sinh, thể hiện tâm đại bi bằng hành động. Ngoài ra, hãy thực hành tất cả các thiện nghiệp yêu thương, bi mẫn, đỉnh lễ, đi nhiễu, cúng dường, bố thí, che chở cho những người khốn khó, giúp đỡ những người đang bị khổ ách… để tích lũy công đức, đạt giác ngộ, vì lợi ích của bản thân và tất cả chúng sinh hữu tình

Con Xin Chia Sẽ 5 Bài Kinh trong Tạng Pali

Kinh Phước Đức Mahamangala sutta (Sutta Nipata II) trong tạng Pali

https://www.facebook.com/100049572223433/posts/296844905311248/?d=n

Kinh Rải Tâm Từ Metta Sutta

https://www.facebook.com/100049572223433/posts/301246654871073/?d=n

Kinh Châu Báu Ratana Sutta

https://www.facebook.com/100049572223433/posts/299289931733412/?d=n

Kinh Chuyển Pháp Luân
(Dhammacakkappavattana Sutta)

https://www.facebook.com/100049572223433/posts/308331944162544/?d=n

Kinh Pháp Cú
(Dhammapada Sutta)

https://www.facebook.com/100049572223433/posts/316283936700678/?d=n

Và Hôm nay con xin giới thiệu về Niệm Ân Đức Phật và Tam Quy Y:

🌞 Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma SamBuddhaSa

Thành Kính Đảnh Lễ Đức Thế Tôn,Bậc A La Hán, Đấng Toàn Tri Diệu Giác

https://www.facebook.com/100049572223433/posts/311476887181383/?d=n

Niệm Danh Hiệu Đức Phật dễ phát sinh Đức Tin nơi Đức Phật và Ý nghĩa danh hiệu của Đức Phật

🌞Người Niệm danh hiệu Đức Phật sẽ có Đức Tin Trong Sạch nơi TAM BẢO:

PHẬT PHÁP TĂNG

Có trí tuệ sáng suốt
Phước Thiện Tăng Trưởng
Tránh Mọi Tai Hoạ
Thân Tâm Thường An Lạc
Xa Lìa Mọi Phiền Não
Thoát Khỏi Vòng Luân Hồi
Tâm Thiện Trong Sạch Thanh Tịnh

Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma SamBuddhaSa

Theo kinh điển Đức Phật sinh năm 623 T.C.N, xuất gia năm 29 tuổi, thành đạo năm 35 tuổi. Ngài hoằng dương Chánh Pháp trong 45 năm và nhập diệt năm 543 T.C.N. khi Ngài 80 tuổi.

🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏🙏

KÍNH MỪNG LỄ PHẬT ĐẢN SANH CON XIN GỬI ĐẾN BÀI KINH THỨ 3METTA SUTTA  (KINH RẢI TÂM TỪ)http://www.tathagata.org/sites/de...
11/10/2021

KÍNH MỪNG LỄ PHẬT ĐẢN SANH CON XIN GỬI ĐẾN BÀI KINH THỨ 3

METTA SUTTA (KINH RẢI TÂM TỪ)

http://www.tathagata.org/sites/default/files/Niem_Rai_Tam_Tu.pdf

LÀ NHỮNG LỜI DẠY CỦA ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT CON XIN NGUYỆN MÃI TRONG LÒNG 🙏🙏🙏

Ý Nghĩa Của Kinh Rải Tâm Từ (Metta Sutta ):

Thứ nhất, bài kinh là để các thầy Tỳ kheo trì tụng để làm cho tâm an tịnh với tâm từ ái hướng về sự bình an của mỗi chúng sinh và chư thiên thần xung quanh. Thứ hai, bài kinh là một “thông điệp” của Đức Phật với thế gian về lòng Từ Ái, lòng yêu thương bao trùm nên được mở rộng cho của tất cả mọi người và chúng sinh. Và chính lòng yêu thương bao trùm đó sẽ đem lại sự bình an và những trạng thái Cao Đẹp nhất của tâm.

Bài kệ Rải Tâm Từ (Metta Sutta )

Kinh Tụng Tiếng Pali - Việt

Aham avero homi
Nguyện cho tôi thoát được mọi oan trái

Abyāpajjho homi
Tâm không phiên nāo

Anīgho homi
Thân không đau đớn

Sukhī-attānam pariharāmi
Thân tâm được an lạc

Mama matapitu
Nguyện cầu cho cha mẹ

Acariya ca nātimittā ca
Thầy tổ, bà con, bạn bè

Sabrahmā-carino ca
và đạo hữu

Averā hontu
Thoát khỏi mọi oan trái

Abyāpajjhā hontu
Tâm không phiền nāo

Anīgha hontu
Thân không đau đớn

Sukhī-attānam pariharantu.
Giữ gìn thân tâm được an lạc.

Imasmim ārāme sabbe yogino
Nguyện cầu cho tất cả thiền sinh nơi đây

Averā hontu
Thoát khỏi mọi oan trái

Abyāpajjhā hontu
Tâm không phiền nāo

Anīgha hontu
Thân không đau đớn

Sukkhī-attānam pariharantu.
Giữ gìn thân tâm được an lạc.

Imasmim ārāne sabbe bhikkhu
Nguyện cầu cho tất cả chư tăng

Sāmanera ca
Sa di nam

Upāsaka-upasikāyo ca
và nữ cư sī ở nơi đây

Averā hontu
Thoát khỏi mọi oan trái

Abyāpajjhā hontu
Tâm không phiên nāo

Anīgha hontu
Thân không đau đớn

Sukkhī-attānam pariharantu
Giữ gìn thân tâm được an lạc.

Amhākam catupaccaya-dāyakā
Nguyện cầu cho tất cả thí chủ cúng dường tứ vật dụng

Averā hontu
Thoát khỏi mọi oan trái

Abyāpajjha hontu
Tâm không phiền nāo

Anīgha hontu
Thân không đau đớn

Sukkhī-attānam pariharantu
Giữ gìn thân tâm được an lạc.

Amhākam ārakkha devata
Nguyện cầu cho tất cả chư thiên

Imasmim vihāre
Hộ trì ở tu viện này

Imasmim āvāse
Hộ trì ở nơi trú ngự này

Imasmim ārāme
Hộ trì ở khu vực này

Arakkha devatā
Các chư thiên hộ trì

averā hontu
Thoát khỏi mọi oan trái

Abyāpajjhā hontu
Tâm không phiên nāo

Anīgha hontu
Thân không đau đớn

Sukkhī-attānam pariharantu
Giữ gìn thân tâm được an lạc.

Sabbe sattā
Nguyện cầu cho tất cả chúng sanh

Sabbe pānā
Các loài có hô hấp

Sabbe bhūta
Các loài động vật

Sabbe puggalā
Các loài sinh vật

Sabbe attabhāva-pariyāpannā
Nguyện cầu cho tất cả các loài có thân và tâm

Sabba itthiyo
Tất cả nữ giới

Sabbe purisā
Tất cả nam giới

Sabbe ariyā
Tất cả bậc thánh

Sabbe anariyā
Nguyện cầu cho người phàm

Sabbe devā
Cho chư thiên

Sabbe manussā
Cho loài người và chúng sanh

Sabbe vinipātikā.
Trong bốn cõi khổ

Averā hontu
Thoát khỏi mọi oan trái

Abyāpajjhā hontu
Tâm không phiên nāo

Anīgha hontu
Thân không đau đớn

Sukkhī-attānam pariharantu
Giữ gìn thân tâm được an lạc.

Dukkhā muccantu
Hết khổ đau

Yatha-laddha-sampattito mavigacchantu
Không bị tước đoạt hạnh phúc đā có

Kamassakā
Mỗi chúng sinh là chủ nhân của nghiệp do mình tạo ra

Puratthimāya disāya
Nơi hướng đông

Pacchimāya disāya
Nơi hướng tây

Uttarāya disāya
Nơi hướng bắc

Dakkhināya disāya
Nơi hướng nam

Puratthimāya anudisāya
Nơi hướng đông nam

Pacchimāya anudisāya
Nơi hướng tây bắc

Uttarāya anudisāya
Nơi hướng đông bắc

Dakkhināya anudisāya
Nơi hướng tây nam

Hetthimāya disāya
Nơi hướng dưới

Uparimāya disāya.
Nơi hướng trên

Sabbe sattā
Nguyện cầu cho tất cả chúng sanh

Sabbe pānā
Các loài có hô hấp

Sabbe bhūta
Các loài động vật

Sabbe puggalā
Các loài sinh vật

Sabbe attabhāva-pariyāpannā
Nguyện cầu cho tất cả các loài có thân và tâm

Sabba itthiyo
Tất cả nữ giới

Sabbe purisā
Tất cả nam giới

Sabbe ariyā
Tất cả bậc thánh

Sabbe anariyā
Nguyện cầu cho người phàm

Sabbe devā
Chư thiên

Sabbe manussā
Loài người và chúng sanh

Sabbe vinipātikā.
Trong bốn cõi khổ

Averā hontu
Thoát khỏi mọi oan trái

Abyāpajjhā hontu
Tâm không phiên nāo

Anīgha hontu
Thân không đau đớn

Sukkhī-attānam pariharantu
Giữ gìn thân tâm được an lạc.

Dukkhā muccantu
Hết khổ đau

Yatha-laddha-sampattito mavigacchantu
Không bị tước đoạt hạnh phúc đā có

Kamassakā
Mỗi chúng sinh là chủ nhân của nghiệp do mình tạo ra

Uddham yāva bhavaggā ca
Xa đến cõi cao nhất

Adho yāva avīccito
Trong toàn thể vū trụ

Samantā cakkavālesu
Xuống đến cõi thấp nhất

Ye sattā pathavī-carā
Tất cả chúng sanh đi trên đất

Abyāpajjha niverā ca
Được thoát khỏi phiền nāo và thù hận

Niddukkhā ca nupaddavā
Tránh được đau đớn và hiểm nguy

Uddham yāva bhavaggā ca
Xa đến cõi cao nhất

Adho yāva avīccito
Xuống đến cõi thấp nhất

Samantā cakkavālesu
Trong toàn thể vū trụ

Ye sattā udakecarā
Tất cả chúng sanh sống trong nước

Abyāpajjha niverā ca
Được thoát khỏi phiền nāo và thù hận

Niddukkhā ca nupaddavā
Tránh được đau đớn và hiểm nguy

Uddham yāva bhavaggā ca
Xa đến cõi cao nhất

Adho yāva avīccito
Xuống đến cõi thấp nhất

Samantā cakkavālesu
Trong toàn thể vū trụ

Ye sattā akāsecarā
Tất cả chúng sanh ở trong không gian

Abyāpajjha niverā ca
Được thoát khỏi phiền nāo và thù hận

Niddukkhā ca nupaddavā
Tránh được đau đớn và hiểm nguy

Imāya dhammā nudhammapatipattiyā
Bằng sự thực hành đúng chánh pháp

Budham pūjemi
Con xin cúng dường Đức Phật

Imāya dhammā nudhammapatipattiyā
Bằng sự thực hành đúng chánh pháp

Dhamam pūjemi
Con xin cúng dường Pháp Bảo

Imāya dhammā nudhammapatipattiyā
Bằng sự thực hành đúng chánh pháp

Sangham pūjemi
Con xin cúng dường Tăng Bảo

Imāya dhammā nudhammapatipattiyā
Bằng sự thực hành đúng chánh pháp

Mātāpitaro pūjemi
Con xin cúng dường cha mẹ

Imāya dhammā nudhammapatipattiyā
Bằng sự thực hành đúng chánh pháp

Acariye pūjemi
Con xin cúng dường thầy tổ

Addhā imāya
Với việc hành thiền này

Patipadāya
Nguyện cho tôi thoát khỏi

Jarāmaranamhā
Sự khổ của già

Parimusisāmi
Và chết

Idam me pūnnam
Nguyện cho những phước lành của tôi

Asavakkhayāvaham hotu
Dẫn đến sự tận diệt những lậu hoặc

Idam me pūnnammagga-phala
Nguyện cho giới đức (trong sạch) của tôi

Nānassa paccayo hotu
Sẽ là duyên lành dẫn đến Đạo và quả

Idam no pūnna-bhāgam
Chúng tôi xin hồi hướng phước báu này

Sabbasattānam dema
Đến tất cả chúng sanh

Sabbe sattā sukhitā hontu
Nguyện cho tất cả chúng sanh được an vui

Sadhu!Sadhu!Sadhu
Lành thay! Lành thay! Lành thay!

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

Nguyện Cho Tất Cả Chúng Sinh
Cùng Chia Trọn Vẹn Phước Lành Hôm Nay
Nguyện Cho Tất Cả Từ Đây
Luôn Luôn An Lạc Vui Vẻ Hạnh Phúc

Nguyện Cho Chư Vị Long ,Thiên
Trên Trời Dưới Đất Oai Thiêng Phép Màu
Cùng Chia Công Đức Dầy Sâu
Hộ Trì Chánh Pháp Bền Lâu Muôn Đời

Đây là bài kinh Đức Phật thuyết giảng cho nhiều Tỳ kheo đang tu tập trong rừng vắng, những nơi được xem là có nhiều chư thiên thần bậc thấp và những chúng sinh khác xung quanh, kể cả những chúng sinh khuất mặt. Các Tỳ kheo đôi khi cảm thấy bất an hoặc cảm thấy mình đang quấy rầy những chúng sinh và thiên thần khuất mặt.

Thứ nhất, bài kinh là để các thầy Tỳ kheo trì tụng để làm cho tâm an tịnh với tâm từ ái hướng về sự bình an của mỗi chúng sinh và chư thiên thần xung quanh. Thứ hai, bài kinh là một “thông điệp” của Đức Phật với thế gian về lòng Từ Ái, lòng yêu thương bao trùm nên được mở rộng cho của tất cả mọi người và chúng sinh. Và chính lòng yêu thương bao trùm đó sẽ đem lại sự bình an và những trạng thái Cao Đẹp nhất của tâm.

Vì vậy, kinh này thường được nhiều người tụng bằng miệng hay trong tâm trước khi bước vào giờ thiền, để cho tâm của thiền sinh được an tịnh. Không phải chỉ riêng Phật tử tại gia, mà các Tăng Ni ở các xứ Phật giáo Nguyên thủy cũng thường tụng đọc trước mỗi giờ thiền tập, đặc biệt là trước khi ngồi thiền ở một nơi mới.

Kinh này thường được dịch là kinh “Lòng Từ” (Metta sutta). “Metta” có nghĩa là “lòng từ ái, thương yêu; tâm từ”. Tuy ở đây tên kinh không nói đến lòng Bi mẫn (karuna), nhưng vì ai đã có tâm Từ thì cũng khởi sinh lòng Bi mẫn, thương xót; vì cả hai thường đi song hành. Do vậy nhiều bản dịch đã dịch là kinh "Từ Bi”, vì chữ “Từ Bi” vốn rất quen thuộc và dễ nhớ đối với những Phật tử tại gia và những người mới bước vào đạo Phật.

11/10/2021

RATANA SUTTA (KINH CHÂU BÁU)

https://budsas.net/dlpp/bai150/index.htm

Buddha Jayanti Tripitaka Series
Tạng Sri Lanka

Bản tụng tiếng Pali - Việt

224. Yānīdha bhūtāni samāgatāni
bhummāni vā yāni va antalikkhe,
sabbeva bhūtā sumanā bhavantu
athopi sakkacca suṇantu bhāsitaṃ.

Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin mở lòng hoan hỷ
Lắng nghe lời dạy này.

225. Tasmā hi bhūtā nisāmetha sabbe
mettaṃ karotha mānusiyā pajāya,
divā ca ratto ca haranti ye baliṃ
tasmā hi ne rakkhatha appamattā.

Tất cả chúng Thiên nhân
Hãy đồng tâm hoan hỷ
Mở rộng tấm lòng từ
Luôn chuyên cần gia hộ
Những người nam, nữ nào
Ngày đêm thường bố thí.

226. Yaṃ kiñci vittaṃ idha vā huraṃ vā
saggesu vā yaṃ ratanaṃ paṇītaṃ,
na no samaṃ atthi tathāgatena
idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Phàm những tài sản gì
Đời này hay đời sau
Hoặc châu báu thù thắng
Hiện hữu trên cõi trời
Không gì sánh bằng được
Với Thiện Thệ Như Lai
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

227. Khayaṃ virāgaṃ amataṃ paṇītaṃ
yadajjhagā sakyamunī samāhito,
na tena dhammena samatthi kiñci
idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Ly dục diệt phiền não
Pháp bất tử thù diệu
Phật Thích Ca Mâu Ni
Đã chứng đắc tịch tịnh
Chẳng Pháp nào sánh bằng
Như vậy chính Pháp Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

228. Yaṃ buddhaseṭṭho parivaṇṇayī suciṃ
samādhimānantarikaññamāhu,
samādhinā tena samo na vijjati
idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Bậc Vô Thượng Chánh Giác
Hằng ca ngợi pháp Thiền
Trong sạch, không gián đoạn
Chẳng thiền nào sánh bằng
Như vậy chính Pháp Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

229. Ye puggalā aṭṭha sataṃ pasatthā
cattāri etāni yugāni honti,
te dakkhiṇeyyā sugatassa sāvakā
etesu dinnāni mahapphalāni,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Thánh tám vị bốn đôi
Được bậc thiện tán thán
Đệ tử Đấng Thiện Thệ
Xứng đáng được cúng dường
Bố thí các vị ấy
Được kết quả vô thượng
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

230. Ye suppayuttā manasā daḷhena
nikkāmino gotamasāsanamhi,
te pattipattā amataṃ vigayha
laddhā mudhā nibbutiṃ bhuñjamānā,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Thiện hạnh tâm kiên cố
Ly dục trong Chánh Đạo
Của Phật Gotama
Chứng nhập vị bất tử
Hưởng tịch tịnh dễ dàng
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

231. Yathindakhīlo paṭhaviṃsito siyā
catubbhi vātehi asampakampiyo,
tathūpamaṃ sappurisaṃ vadāmi
yo ariyasaccāni avecca passati,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Ví như cột trụ đá
Khéo y cứ lòng đất
Dầu có gió bốn phương
Cũng không hề lay động
Ta nói bậc chân nhân
Liễu ngộ Tứ Thánh Đế
Cũng tự tại bất động
Trước tám Pháp thế gian
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

232. Ye ariyasaccāni vibhāvayanti
gambhīrapaññena sudesitāni,
kiñcāpi te honti bhusappamattā
na te bhavaṃ aṭṭhamaṃ ādiyanti,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Bậc thấu triệt Thánh Đế
Đã được khéo thuyết giảng
Bởi trí tuệ uyên thâm
Dù cho có phóng dật
Cũng không thể tái sanh
Nhiều hơn trong bảy kiếp
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

233. Sahāvassa dassanasampadāya
tayassu dhammā jahitā bhavanti
sakkāyadiṭṭhi vicikicchitañca
sīlabbataṃ vāpi yadatthi kiñci,
catūhapāyehi ca vippamutto
cha cābhiṭhānāni abhabbo kātuṃ
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Những bậc kiến cụ túc
Đoạn trừ ba kiết sử
Là thân kiến, hoài nghi
Luôn cả giới cấm thủ
Thoát khỏi bốn đọa xứ
Không làm sáu trọng tội
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

234. Kiñcāpi so kammaṃ karoti pāpakaṃ
kāyena vācā uda cetasā vā,
abhabbo so tassa paṭicchādāya
abhabbatā diṭṭhapadassa vuttā,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Dầu có làm tội gì
Bằng thân, khẩu hoặc ý
Các ngài chẳng bao giờ
Che dấu điều đã phạm
Bởi vì đức tánh này
Được gọi là thấy Pháp
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

235. Vanappagumbe yathā phussitagge
gimhānamāse paṭhamasmiṃ gimhe,
tathūpamaṃ dhammavaraṃ adesayi
nibbānagāmiṃ paramaṃ hitāya,
idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Ví như cây trong rừng
Đâm chồi đầu mùa hạ
Cũng vậy Đức Thế Tôn
Thuyết giảng Pháp ưu việt
Dẫn đến ngộ Niết-bàn
Là lợi ích tối thượng
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.


236. Varo varaññū varado varāharo
anuttaro dhammavaraṃ adesayi,
idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Đức Phật bậc vô thượng
Liễu thông Pháp vô thượng
Ban bố Pháp vô thượng
Chuyển đạt Pháp vô thượng
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.


237. Khīṇaṃ purāṇaṃ navaṃ natthi sambhavaṃ
virattacittā āyatike bhavasmiṃ,
te khīṇabījā avirūḷhicchandā
nibbanti dhīrā yathāyam padīpo,
idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ
etena saccena suvatthi hotu.

Nghiệp cũ đã tiêu mòn
Nghiệp mới không phát khởi
Nhàm chán kiếp tái sinh
Chủng tử dục đoạn tận
Bậc trí chứng Niết-bàn
Ví như ngọn đèn tắt
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.

238. Yānīdha bhūtāni samāgatāni
bhummāni vā yāni va antalikkhe,
tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ
buddhaṃ namassāma suvatthi hotu.

Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Phật
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên, loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.

239. Yānīdha bhūtāni samāgatāni
bhummāni vā yāni va antalikkhe,
tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ
dhammaṃ namassāma suvatthi hotu.

Phàm chúngThiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Pháp
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.

240. Yānīdha bhūtāni samāgatāni
bhummāni vā yāni va antalikkhe,
tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ
saṅghaṃ namassāma suvatthi hotu.

Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Tăng
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên, loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.

Là một trong 3 bài kinh hộ trì và phúc chúc

Kinh Phước Đức - Mangala Sutta

Kinh Châu Báu - Ratana Sutta

Kinh Tâm Từ - Metta Sutta

Ratana Sutta Kinh Châu Báu là bài kinh rất phổ thông trong các quốc độ theo truyền thống PG Theravada và hầu như được các Phật tử thuần thành đọc tụng thuộc lòng. Các Chú giải đều ghi duyên sự bài kinh từ câu chuyện ở thành Vesali (Tỳ-xá-ly), kinh đô xứ Vajji (Bạt-kỳ) chịu 3 tai ương: nạn đói, ma quỷ quấy phá, và bệnh dịch. Bộ tộc Licchavi cai trị xứ này, gửi một phái đoàn đến thành Vương-Xá (Rajagaha), xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) của vua Bimbisara (Bình-sa, Tần-bà-sa-la) gặp Đức Phật lúc bấy giờ đang ngự tại Tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana). Họ thỉnh cầu Ngài đến Vesali để giải trừ các tai ương ấy. Khi Ngài đến nơi cùng với vua trời Đế-thích (Sakka) và chư thiên, phần lớn các loài ma quỷ hoảng sợ bỏ trốn. Trời đổ mưa xối xả rửa sạch thành phố. Đức Phật đọc lên bài kinh Ratana Sutta, bảo ngài Ananda ghi nhớ rồi đi vòng quanh thành phố, vừa đi vừa rải nước chứa trong bình bát và đọc tụng bài kinh nầy. Khi ngài Ananda tuân lời Đức Phật làm theo như thế, những ma quỷ còn lại đều bỏ chạy và bệnh dịch được tiêu trừ. Dân chúng vui mừng đến gặp Đức Phật và Tăng đoàn để cúng dường và tạ ơn. Đức Phật giảng lại bài kinh nầy cho tất cả những ai đến gặp Ngài. Hàng ngàn người sau khi nghe xong đã mở Pháp nhãn và đắc thánh quả. Duyên sự nầy cũng được đề cập trong Chú giải Pháp cú, kệ 290.

Do duyên sự đó, Ratana Sutta Kinh Châu Báu ngày nay thường được tụng đọc để xua tan bệnh tật, rủi ro, và ma quỷ.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma SamBuddhaSa

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 🙏🙏🙏

Address

W Mt Houston Road
Houston, TX
77088

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phật Giáo Nguyên Thuỷ Thevarada posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share