Holy Light Chapel

Holy Light Chapel Holy Light Chapel
Biết ơn - Tha thứ - Yêu thương - Thờ Phượng - Truyền Giáo Chuyên để cứu những người chưa biết đến Chúa bằng âm nhạc

HOLY LIGHT CHAPELNGHIÊN CỨU KINH THÁNH – LỊCH SỬ – VĂN BẢNĐẠI MẠNG LỆNH TRUYỀN GIÁO CỦA AI?Đại Mạng Lệnh có phải là lời ...
09/07/2026

HOLY LIGHT CHAPEL

NGHIÊN CỨU KINH THÁNH – LỊCH SỬ – VĂN BẢN

ĐẠI MẠNG LỆNH TRUYỀN GIÁO CỦA AI?

Đại Mạng Lệnh có phải là lời của Đấng Christ Jesus, hay là sản phẩm thần học hậu Phục sinh nhằm hợp thức hóa công cuộc truyền giáo cho dân ngoại?

Một trong những vấn đề quan trọng của nghiên cứu Tân Ước hiện đại là câu hỏi về nguồn gốc của cái thường được gọi là “Đại Mạng Lệnh”, đặc biệt trong Ma-thi-ơ 28:19 và Mác 16:15. Một số nhà nghiên cứu theo phương pháp phê bình lịch sử cho rằng Đấng Christ Jesus lịch sử có thể chỉ tập trung sứ mạng của Ngài vào nhà Y-sơ-ra-ên, còn việc đưa Tin Lành đến “mọi dân” là một bước phát triển thần học xuất hiện sau sự Phục sinh, khi phong trào Cơ Đốc giáo bắt đầu mở rộng sang thế giới dân ngoại.

Lập luận này không phải hoàn toàn vô căn cứ. Đặc biệt, vấn đề văn bản của Mác 16:9–20 là một dữ kiện nghiêm túc mà bất cứ người nghiên cứu Kinh Thánh trung thực nào cũng phải thừa nhận. Tuy nhiên, từ việc chứng minh phần kết dài của Mác có khả năng không thuộc bản nguyên thủy đến kết luận rằng Đấng Christ Jesus chưa bao giờ có một viễn tượng hướng đến các dân ngoại là một bước suy luận quá xa. Khi toàn bộ Cựu Ước, văn chương Do Thái thời Đền Thờ thứ hai và những lớp văn bản Tân Ước không tranh chấp được xem xét cùng nhau, bức tranh hiện ra phức tạp hơn rất nhiều.

Điều cần phân biệt ngay từ đầu là ba câu hỏi hoàn toàn khác nhau. Câu hỏi thứ nhất là Mác 16:9–20 có thuộc bản Mác nguyên thủy hay không. Câu hỏi thứ hai là Ma-thi-ơ 28:19 có phản ánh nguyên văn từng chữ của Đấng Christ Jesus lịch sử hay không. Câu hỏi thứ ba, và quan trọng nhất, là ý tưởng Đức Chúa Trời muốn sự nhận biết Ngài lan đến các dân ngoại có phải do Phao-lô hoặc Hội Thánh cuối thế kỷ thứ nhất sáng tạo ra hay không. Hai câu hỏi đầu có thể tiếp tục được giới học thuật tranh luận. Nhưng câu hỏi thứ ba có thể trả lời khá rõ ràng: tư tưởng các dân ngoại cuối cùng phải nhận biết, thờ phượng và quay về cùng Đức Chúa Trời YHWH đã tồn tại trong Kinh Thánh Hebrew và truyền thống Do Thái rất lâu trước Phao-lô.

SỨ MẠNG ĐẾN Y-SƠ-RA-ÊN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI VIỆC LOẠI BỎ DÂN NGOẠI VĨNH VIỄN

Ma-thi-ơ 10:5–6 ghi rằng khi Đấng Christ Jesus sai mười hai môn đồ đi trong một giai đoạn cụ thể của chức vụ, Ngài truyền họ không đi đến dân ngoại và người Sa-ma-ri, nhưng hãy đến trước hết với những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên. Ma-thi-ơ 15:24 cũng ghi lời Ngài nói rằng Ngài được sai đến những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên.

Nếu chỉ đọc hai câu này tách khỏi toàn bộ truyền thống tiên tri của Israel, người ta có thể kết luận rằng sứ mạng của Jesus hoàn toàn loại trừ dân ngoại. Nhưng kết luận ấy không bắt buộc về mặt logic. Một mạng lệnh giới hạn trong một giai đoạn không đồng nghĩa với một lệnh cấm vĩnh viễn.

Có một sự khác biệt rất lớn giữa câu: “Trong chuyến sai phái này, hãy đến Israel trước” và câu: “Không bao giờ được đem sự nhận biết Đức Chúa Trời đến dân ngoại.”

Chính Cựu Ước đã cung cấp một mô hình có tính thứ tự: Israel được chọn, Israel được phục hồi, rồi qua Israel phước lành và sự nhận biết Đức Chúa Trời lan đến các dân. Vì vậy, “Israel trước” và “mọi dân sau” không nhất thiết là hai chương trình mâu thuẫn. Chúng có thể là hai giai đoạn của cùng một chương trình.

Sáng-thế Ký 12:3 đã đặt nền móng cho viễn tượng ấy khi Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham rằng “các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước”. Ngay từ khởi đầu của lịch sử giao ước, việc lựa chọn Áp-ra-ham đã chứa một chiều kích vượt khỏi chính gia đình và dân tộc ông.

Đến thời Sa-lô-môn, I Các Vua 8:41–43 thậm chí dành một phần đặc biệt trong lời cầu nguyện cung hiến Đền Thờ cho “người ngoại quốc không thuộc về dân Y-sơ-ra-ên”. Sa-lô-môn cầu xin Đức Chúa Trời nghe lời họ để “muôn dân trên đất biết danh Ngài và kính sợ Ngài”. Viễn tượng các dân ngoại biết YHWH vì vậy đã có từ rất lâu trước sự xuất hiện của Hội Thánh.

Ê-SAI 49:6 VÀ CẤU TRÚC ISRAEL TRƯỚC, CÁC DÂN SAU

Ê-sai 49:6 là một trong những đoạn quan trọng nhất để hiểu toàn bộ vấn đề. Đức Chúa Trời nói về việc đem Gia-cốp trở lại và phục hồi Y-sơ-ra-ên, nhưng ngay sau đó phán rằng việc ấy “còn là việc nhỏ”, bởi người tôi tớ còn được lập làm “sự sáng cho các dân ngoại”, để sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời đạt đến tận cùng đất.

Ở đây thứ tự rất rõ ràng. Trước hết là phục hồi Gia-cốp. Sau đó là ánh sáng cho các dân. Cuối cùng là sự cứu rỗi đạt đến tận cùng đất.

Nếu một Đấng Mêsia hoặc người tôi tớ của Đức Chúa Trời trong giai đoạn đầu tập trung vào Y-sơ-ra-ên, điều đó hoàn toàn phù hợp với Ê-sai. Nhưng chính Ê-sai cũng nói rằng phạm vi sau cùng không dừng lại ở Israel.

Vì vậy, Ma-thi-ơ 10:5–6 và một sứ mạng hướng đến “mọi dân” không nhất thiết phải được đọc như hai thần học đối nghịch.

Ê-SAI 56 VÀ DÂN NGOẠI GIA NHẬP SỰ THỜ PHƯỢNG YHWH

Ê-sai 56:6–7 còn rõ hơn. Tiên tri nói đến “những người ngoại bang liên hiệp cùng Đức Giê-hô-va”, yêu mến danh Ngài, phục sự Ngài, giữ ngày Sa-bát và cầm vững giao ước Ngài. Đức Chúa Trời nói rằng họ sẽ được đem lên núi thánh và nhà Ngài sẽ được gọi là “nhà cầu nguyện của mọi dân tộc”.

Đây không phải thần học Pauline.

Đây là tiên tri Hebrew.

Điều đặc biệt đáng chú ý là dân ngoại trong Ê-sai 56 được tiếp nhận nhưng không đồng nghĩa với việc luật pháp Đức Chúa Trời bị loại bỏ. Họ được mô tả như những người liên hiệp với YHWH, giữ Sa-bát và cầm vững giao ước.

Vì vậy, giả thuyết cho rằng một Đại Mạng Lệnh hướng đến dân ngoại phải được tạo ra để hợp thức hóa việc Phao-lô bỏ Torah là quá đơn giản. Chính Cựu Ước đã có một universalism hướng đến các dân mà vẫn mang sắc thái trung thành với giao ước và luật pháp của Đức Chúa Trời.

Ê-SAI 66:18–19 — CHỨNG CỨ CỰU ƯỚC GẦN NHẤT VỚI MỘT SỨ MẠNG ĐẾN CÁC DÂN

Nếu phải chọn một đoạn Cựu Ước có sức nặng đặc biệt đối với vấn đề Đại Mạng Lệnh, Ê-sai 66:18–19 là ứng viên hàng đầu.

Đức Chúa Trời tuyên bố Ngài sẽ nhóm “mọi nước và mọi thứ tiếng”. Sau đó Ngài phán rằng Ngài sẽ “sai” những người sống sót đi đến các dân xa, đến những nơi “chưa từng nghe danh tiếng ta, chưa từng thấy sự vinh hiển ta”, và những người được sai ấy sẽ “rao truyền sự vinh hiển ta giữa các dân ngoại”.

Cấu trúc này đáng kinh ngạc vì gần với bản chất của một sứ mạng truyền giáo hơn rất nhiều đoạn khác trong Cựu Ước.

Đức Chúa Trời là Đấng sai người đi. Những người ấy được sai đến các dân xa. Các dân ấy chưa nghe biết về Ngài. Và nhiệm vụ của những người được sai là công bố sự vinh hiển của Ngài cho các dân.

Chỉ riêng Ê-sai 66:18–19 cũng đủ bác bỏ tuyên bố rằng ý tưởng “được sai đến những dân chưa biết Đức Chúa Trời để công bố Ngài” phải đến cuối thế kỷ thứ nhất mới được một cộng đồng Pauline phát minh.

Nguồn gốc thần học của tư tưởng ấy nằm ngay trong các tiên tri Israel.

XA-CHA-RI, THI THIÊN VÀ MA-LA-CHI CÙNG HƯỚNG ĐẾN CÁC DÂN

Xa-cha-ri 8:20–23 nói rằng nhiều dân và các nước mạnh sẽ đến tìm kiếm Đức Giê-hô-va. Tiên tri mô tả mười người thuộc mọi thứ tiếng của các dân sẽ nắm áo một người Giu-đa và nói: “Chúng tôi sẽ đi với các ngươi, vì chúng tôi có nghe rằng Đức Chúa Trời ở cùng các ngươi.”

Thi Thiên 22:27 nói rằng “các đầu cùng đất sẽ nhớ và trở lại cùng Đức Giê-hô-va” và các họ hàng của các dân sẽ thờ lạy trước mặt Ngài.

Thi Thiên 67 cầu xin Đức Chúa Trời ban phước để đường lối Ngài được biết trên đất và sự cứu rỗi Ngài được biết giữa các nước.

Thi Thiên 96 kêu gọi thuật sự vinh hiển Ngài giữa các nước.

Thi Thiên 117 trực tiếp kêu gọi: “Hỡi các nước hết thảy, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va.”

Ma-la-chi 1:11 lại tuyên bố rằng từ nơi mặt trời mọc đến nơi mặt trời lặn, danh của YHWH sẽ lớn giữa các dân.

Như vậy, universal horizon của đức tin Israel không phải một ngoại lệ nhỏ bé. Nó chạy xuyên suốt nhiều tầng văn chương Cựu Ước.

CÁC SÁCH NGOÀI QUY ĐIỂN CŨNG CHỨNG MINH VẤN ĐỀ DÂN NGOẠI ĐÃ ĐƯỢC TRANH LUẬN TRƯỚC PHAO-LÔ

Trong giới Cơ Đốc ngày nay thường dùng từ “các sách bị giấu”, nhưng về mặt nghiên cứu lịch sử cần gọi chính xác hơn. Các sách ấy thuộc nhiều nhóm rất khác nhau: Deuterocanonical hoặc Apocrypha, Pseudepigrapha, Dead Sea Scrolls, các văn bản Qumran và những sách Cơ Đốc giáo ngoài quy điển xuất hiện về sau.

Không thể gom tất cả chúng thành một khối và cho rằng chúng đều dạy cùng một điều. Chính sự khác biệt giữa chúng lại là bằng chứng quan trọng.

Sách Tobit, một tác phẩm Do Thái có trước Cơ Đốc giáo, mô tả Israel giữa các dân và kêu gọi họ làm cho các dân biết sự cao cả của Đức Chúa Trời. Tobit 13 còn nói đến ánh sáng chiếu đến tận cùng đất và nhiều dân từ xa đến với Đức Chúa Trời.

Sirach 36 cầu xin Đức Chúa Trời của toàn thể vũ trụ khiến các dân kính sợ Ngài để họ biết rằng chẳng có Đức Chúa Trời nào ngoài Ngài. Lời cầu nguyện còn hướng đến ngày “mọi đầu cùng đất” biết Ngài.

I Enoch cũng có viễn tượng các dân cuối cùng thờ phượng và ca ngợi Đức Chúa Trời. Dù 1 Enoch là một hợp tuyển phức tạp hình thành qua nhiều thời kỳ, phần lớn truyền thống của nó thuộc thế giới Do Thái thời Đền Thờ thứ hai và nhiều thành phần có trước Cơ Đốc giáo.

Psalms of Solomon, một tác phẩm Do Thái gần thời Jesus, cũng đặt Đấng Mêsia trong mối quan hệ với các dân và các đầu cùng đất. Viễn tượng ở đây mang sắc thái phán xét và cai trị mạnh hơn, nhưng điều quan trọng là Đấng Mêsia và vận mệnh của các dân đã được đặt trong cùng một khung thần học trước thời Phao-lô.

Sibylline Oracles III là một trường hợp đặc biệt thú vị. Đây là văn chương Do Thái sử dụng hình thức tiên tri quen thuộc của thế giới Hy-La để hướng thông điệp độc thần đến một môi trường ngoại giáo rộng lớn. Nó cho thấy người Do Thái trước Cơ Đốc giáo đã có khả năng đưa thông điệp về Đức Chúa Trời duy nhất ra ngoài ranh giới Israel.

Letter of Aristeas cũng trình bày Đức Chúa Trời như Đấng duy nhất cai trị toàn vũ trụ trong một tác phẩm hướng đến môi trường văn hóa Hy Lạp.

Tuy nhiên, Jubilees lại cho thấy chiều ngược lại. Tác phẩm này nhấn mạnh rất mạnh sự phân biệt Israel với dân ngoại và khuyến cáo Israel giữ khoảng cách với các dân. Một số tài liệu Qumran cũng có khuynh hướng biệt lập rất rõ.

Chính điều này làm bức tranh lịch sử trở nên thuyết phục hơn.

Do Thái giáo thời Đền Thờ thứ hai không có một quan điểm duy nhất về dân ngoại. Có những dòng tư tưởng nhấn mạnh sự tách biệt và thánh khiết của Israel, đồng thời có những dòng tư tưởng hướng đến ngày các dân sẽ nhận biết và thờ phượng YHWH.

Vì vậy, sự tranh luận gay gắt trong Hội Thánh đầu tiên về địa vị của dân ngoại không chứng minh rằng trước đó không có viễn tượng cho dân ngoại. Nó chỉ chứng minh rằng một cuộc tranh luận Do Thái rất lâu đời về câu hỏi “dân ngoại được tham dự vào dân Đức Chúa Trời bằng cách nào?” đang tiếp tục trong phong trào của Đấng Christ.

Tài liệu BIỆN GIÁO 1–2–3–4 & 5 được dùng tham khảo trong nghiên cứu này cũng dành nhiều phần cho các sách ngoài quy điển, Nag Hammadi và những truyền thống khác. Đồng thời chính tài liệu ấy có chỗ trích Mác 13:10 và nhận rằng cụm Hy Lạp πάντα τὰ ἔθνη mang nghĩa “tất cả các dân/quốc gia”. Điểm này đặc biệt quan trọng vì nó cho thấy ngay cả khi Mác 16:9–20 bị loại khỏi bản nguyên thủy, ý tưởng Tin Lành liên hệ đến “mọi dân” vẫn còn tồn tại trong phần Mác không bị tranh chấp.

MÁC 16:9–20: PHẢI THỪA NHẬN VẤN ĐỀ VĂN BẢN, NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC SUY LUẬN QUÁ MỨC

Phê bình văn bản hiện đại đưa ra những lý do rất mạnh để xem Mác 16:9–20 là một phần kết thứ cấp. Codex Sinaiticus và Codex Vaticanus kết thúc Phúc Âm Mác tại 16:8. Phong cách và từ vựng của phần 16:9–20 cũng tạo nhiều vấn đề so với phần trước của sách.

Một nghiên cứu trung thực của Holy Light Chapel không cần né tránh sự thật này.

Nếu ai dùng riêng Mác 16:15 như bằng chứng tuyệt đối rằng đây chính xác là lời nguyên thủy của Đấng Christ Jesus, người đó phải đối diện nghiêm túc với vấn đề văn bản.

Nhưng điều không thể làm là biến kết luận “Mác 16:9–20 có khả năng là phần thêm” thành kết luận “vì vậy việc đem Tin Lành đến mọi dân cũng là phần thêm”.

Bởi Mác 13:10, một câu nằm hoàn toàn ngoài phần kết tranh chấp, đã nói rằng Tin Lành trước hết phải được giảng cho πάντα τὰ ἔθνη, tức “mọi dân”.

Do đó, ngay cả khi chúng ta cắt bỏ toàn bộ Mác 16:9–20 khỏi việc xây dựng thần học, universal horizon vẫn không biến mất khỏi Mác.

Một interpolation chỉ chứng minh rằng một đoạn văn cụ thể được thêm hoặc hình thành sau. Nó không tự động chứng minh rằng toàn bộ tư tưởng chứa trong đoạn đó là một phát minh muộn.

Muốn chứng minh một thực hành phổ biến trong đó các biên tập viên thường xuyên “đặt lời truyền giáo dân ngoại vào miệng Jesus”, phải đưa ra nhiều chứng cứ độc lập khác. Mác 16 một mình không đủ để chứng minh một xu hướng tổng quát như vậy.

MA-THI-Ơ 28:19 KHÔNG CÓ CÙNG TÌNH TRẠNG VĂN BẢN VỚI MÁC 16

Một lỗi quan trọng khác là đối xử Ma-thi-ơ 28:19 như thể nó có vấn đề bản thảo giống Mác 16:9–20.

Hai trường hợp không giống nhau.

Có tranh luận đáng chú ý về công thức báp-tem trong Ma-thi-ơ 28:19, đặc biệt liên quan đến cách Eusebius đôi khi trích câu này dưới hình thức “trong danh ta”. Đây là một chủ đề đáng được nghiên cứu độc lập và Holy Light Chapel không cần né tránh vấn đề ấy.

Tuy nhiên, ngay cả những hình thức trích dẫn ngắn hơn liên quan đến Eusebius vẫn giữ ý “làm cho mọi dân trở nên môn đồ”.

Vì vậy phải tách hai vấn đề.

Một câu hỏi là công thức “nhân danh Cha, Con và Thánh Linh” có lịch sử văn bản như thế nào.

Một câu hỏi hoàn toàn khác là cụm “mọi dân” có thuộc văn bản Matthew hay không.

Không được dùng tranh luận về công thức báp-tem để tự động xóa luôn universal mission.

MÁC 13:10 LÀ VẤN ĐỀ LỚN CHO GIẢ THUYẾT “Ý TƯỞNG TRUYỀN GIÁO TOÀN CẦU XUẤT HIỆN MUỘN”

Nếu một người cho rằng Mác là Phúc Âm cổ nhất trong bốn sách chính tắc, thì Mác 13:10 đặc biệt quan trọng.

Câu này không nằm trong Long Ending.

Nó không phụ thuộc vào Ma-thi-ơ 28.

Nó cũng không phải thư Phao-lô.

Vậy để duy trì luận đề rằng Jesus lịch sử hoàn toàn không có viễn tượng cho dân ngoại, người ta buộc phải tiếp tục giả định rằng ngay Mác 13:10 cũng là lời do Hội Thánh đặt vào miệng Jesus.

Giả thuyết ấy có thể được đề xuất trong phê bình lịch sử. Nhưng lúc này chúng ta phải nói đúng bản chất phương pháp: đó là một reconstruction hypothesis, một giả thuyết tái dựng lịch sử, chứ không phải bằng chứng manuscript giống trường hợp Mác 16:9–20.

Hai cấp độ bằng chứng không thể đánh đồng.

CÔNG VỤ 15 KHÔNG TRANH LUẬN VỀ VIỆC CÓ ĐƯỢC ĐEM TIN LÀNH ĐẾN DÂN NGOẠI HAY KHÔNG

Một trong những lập luận thường được đưa ra là nếu Đấng Christ Jesus thật sự truyền dạy hãy đi đến muôn dân, tại sao Hội Thánh đầu tiên lại tranh luận gay gắt về dân ngoại trong Công vụ 15?

Câu hỏi nghe có vẻ rất mạnh nhưng thực chất đặt sai trọng tâm của cuộc tranh luận.

Công vụ 15 mở đầu với vấn đề: nếu người dân ngoại không chịu phép cắt bì theo tục Môi-se thì họ có thể được cứu hay không. Một số tín hữu xuất thân Pha-ri-si cho rằng người dân ngoại phải chịu cắt bì và phải giữ luật Môi-se.

Vấn đề vì vậy không phải đơn giản là “có được nói về Đức Chúa Trời và Đấng Christ cho dân ngoại hay không”.

Vấn đề là: “Khi dân ngoại quay về cùng Đức Chúa Trời, họ phải gia nhập dân giao ước theo những điều kiện nào?”

Đây là một câu hỏi hoàn toàn khác.

Phi-e-rơ trong chính Công vụ 15 còn nói rằng Đức Chúa Trời đã chọn để bởi miệng ông dân ngoại được nghe lời Tin Lành. Gia-cơ cuối cùng cũng nói không nên gây khó khăn cho những người trong dân ngoại đang quay về cùng Đức Chúa Trời.

Đáng chú ý hơn nữa, Gia-cơ không lấy Phao-lô làm nền tảng tối hậu. Ông viện các lời tiên tri.

Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế mà chúng ta đã thấy trong Ê-sai, Xa-cha-ri và các tiên tri khác: vấn đề dân ngoại không cần Phao-lô phát minh ra một nền tảng mới. Nền tảng đã nằm trong Cựu Ước.

GA-LA-TI 2 KHÔNG NÓI GIA-CƠ, PHI-E-RƠ VÀ GIĂNG CẤM PHAO-LÔ ĐẾN DÂN NGOẠI

Nếu dùng phương pháp phê bình lịch sử, Ga-la-ti phải được xem là nguồn cực kỳ quan trọng bởi đây là một trong những thư sớm nhất còn lại của phong trào Đấng Christ.

Trong Ga-la-ti 2:7–9, chính Phao-lô nói rằng Gia-cơ, Cephas và Giăng, những người được xem như các trụ cột, nhận biết ân điển đã ban cho ông và trao tay hữu giao kết với ông và Ba-na-ba. Sự phân công được mô tả là Phao-lô đi đến dân ngoại còn những người kia tập trung vào những người chịu cắt bì.

Đây không phải bằng chứng rằng Gia-cơ, Phi-e-rơ và Giăng phản đối việc truyền giáo cho dân ngoại.

Ngược lại, theo chính lời Phao-lô, họ công nhận công việc ấy.

Xung đột tại Antioch trong Ga-la-ti 2:11–14 xoay quanh chuyện Phi-e-rơ trước đó ăn chung với dân ngoại nhưng rồi rút lui khi một nhóm liên hệ với phe cắt bì xuất hiện.

Đây là cuộc tranh luận về bàn ăn chung, Torah, cắt bì và ranh giới cộng đồng, không phải bằng chứng rằng Phi-e-rơ tin dân ngoại tuyệt đối không được nghe Tin Lành.

SỰ VẮNG MẶT CỦA MA-THI-Ơ 28 TRONG CÔNG VỤ 15 KHÔNG PHẢI BẰNG CHỨNG QUYẾT ĐỊNH

Một câu hỏi hợp lý vẫn còn: nếu Đấng Christ Jesus đã nói rõ “hãy đi làm cho muôn dân trở nên môn đồ”, tại sao không ai trong Công vụ 15 trích câu đó để kết thúc tranh luận?

Đây là một câu hỏi đáng cân nhắc, nhưng nó thuộc dạng lập luận từ sự im lặng.

Muốn biến sự vắng mặt của một trích dẫn thành bằng chứng rằng truyền thống ấy chưa tồn tại, phải chứng minh rằng nếu lời ấy tồn tại thì tác giả hoặc nhân vật nhất định phải trích nó.

Điều đó rất khó chứng minh.

Công vụ 15 cũng không trích rất nhiều lời khác của Jesus có thể được đưa vào tranh luận. Thay vào đó, lập luận được xây dựng trên kinh nghiệm của Phi-e-rơ, hoạt động của Đức Chúa Trời giữa dân ngoại và lời tiên tri Cựu Ước.

Vì vậy, sự không trích dẫn Ma-thi-ơ 28 là một dữ kiện đáng lưu ý, nhưng không thể được nâng thành bằng chứng rằng câu nói chắc chắn chưa tồn tại.

GIẢ THUYẾT “MA-THI-Ơ TẠO ĐẠI MẠNG LỆNH ĐỂ HỢP THỨC HÓA PHAO-LÔ” CŨNG GẶP KHÓ KHĂN LỚN

Có một nghịch lý đáng chú ý trong chính sách Ma-thi-ơ.

Nếu mục tiêu của tác giả Matthew là hợp thức hóa một Cơ Đốc giáo Pauline đã bỏ qua Torah, tại sao sách ấy lại chứa một trong những lời khẳng định mạnh nhất về Luật pháp?

Ma-thi-ơ 5:17–19 trình bày Jesus tuyên bố Ngài không đến để phá Luật pháp hay các Tiên tri. Đến cuối sách, Ma-thi-ơ 28 lại yêu cầu dạy các môn đồ mới “giữ mọi điều” Jesus đã truyền.

Một số học giả vì vậy thậm chí đã đề xuất hướng hoàn toàn ngược lại: Matthew có thể hình dung một Gentile mission mang tính Torah-observant và vì thế không đơn giản là công cụ hợp thức hóa Pauline Christianity.

Chúng ta không cần biến giả thuyết này thành chân lý tuyệt đối. Điều quan trọng là nó chứng minh một điều: không có đồng thuận học thuật cho phép nói đơn giản rằng “Matthew đặt Đại Mạng Lệnh vào miệng Jesus để hợp thức hóa Phao-lô”.

Đó chỉ là một giả thuyết giữa nhiều mô hình giải thích.

HISTORICAL-CRITICAL METHOD KHÔNG PHẢI MỘT KHỐI THỐNG NHẤT

Việc viện dẫn Rudolf Bultmann, Jesus Seminar hoặc Gerd Lüdemann không đủ để nói “các học giả phê bình đã kết luận”.

Historical-Critical Method là tên chung của một tập hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: source criticism, form criticism, redaction criticism, tradition criticism và nhiều hướng tái dựng lịch sử khác.

Các học giả dùng những phương pháp này thường bất đồng rất sâu sắc với nhau.

Ngay chính hình thức của Ma-thi-ơ 28:16–20 cũng từng được phân loại theo nhiều mô hình khác nhau: commissioning narrative, enthronement text, covenant pattern, royal decree, cult legend hoặc những thể loại khác.

Vì vậy phải nói chính xác: “một số học giả cho rằng”, thay vì biến một trường phái hoặc một nhóm học giả thành tiếng nói đồng nhất của toàn bộ nghiên cứu phê bình.

Holy Light Chapel cho rằng nghiên cứu trung thực phải phân biệt giữa “có một học giả đề xuất giả thuyết này” và “dữ kiện đã chứng minh giả thuyết này”.

GIĂNG 17:4 KHÔNG CHỨNG MINH RẰNG SAU ĐÓ KHÔNG CÒN SỨ MẠNG NÀO

Một lập luận được bổ sung cho quan điểm chống Đại Mạng Lệnh là Giăng 17:4:

“Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho làm.”

Từ đó người ta đặt câu hỏi: nếu Đấng Christ Jesus đã làm xong tất cả trước lúc bị bắt, tại sao sau sự sống lại còn phải tạo thêm một Đại Mạng Lệnh?

Vấn đề của cách giải thích này là chính Giăng 17 không cho phép hiểu câu 4 như vậy.

Chỉ ít câu sau, Giăng 17:18 ghi lời Jesus:

“Như Cha đã sai Con trong thế gian, Con cũng sai họ trong thế gian.”

Đến câu 20 Ngài nói:

“Con chẳng những cầu nguyện cho họ thôi đâu, nhưng cũng cho những kẻ nhờ lời họ mà tin Con nữa.”

Như vậy chính chương tuyên bố rằng Jesus đã hoàn thành công việc Cha giao đồng thời cũng nói rõ rằng Ngài sai các môn đồ vào thế gian và tiên liệu những người tương lai sẽ tin thông qua lời của các môn đồ ấy.

Do đó không thể dùng Giăng 17:4 để chứng minh rằng mọi sự truyền bá về sau là vô nghĩa hoặc trái với lời Jesus.

Có một sự phân biệt hoàn toàn hợp lý giữa công việc Đức Chúa Trời giao cho Jesus thực hiện trong chức vụ cá nhân của Ngài và công việc mà Jesus giao tiếp cho các môn đồ.

Một người thầy có thể hoàn tất công việc đào tạo học trò rồi giao cho học trò nhiệm vụ tiếp tục công việc. Không có mâu thuẫn.

Giăng 17:11 cũng đáng lưu ý. Jesus nói như thể Ngài “không còn ở trong thế gian nữa”, mặc dù trong trình thuật lúc đó Ngài vẫn chưa bị bắt, chưa chết và chưa thăng thiên.

Điều này cho thấy Giăng 17 sử dụng lối diễn đạt nhìn một công việc chắc chắn sẽ hoàn tất như thể nó đã hoàn tất. Vì vậy không nên biến một động từ hoàn thành trong lời cầu nguyện thành một định nghĩa kỹ thuật rằng kể từ giây phút đó mọi công việc mới đều bất khả.

VẬY ĐIỀU GÌ CÓ THỂ KẾT LUẬN MỘT CÁCH VỮNG CHẮC?

Holy Light Chapel không cho rằng cần phải bảo vệ một lập trường cực đoan rằng từng chữ của Ma-thi-ơ 28:19 hiện nay chắc chắn là bản ghi âm nguyên văn từ miệng Đấng Christ Jesus. Phương pháp lịch sử không thể chứng minh đến mức độ ấy.

Ngược lại, cũng không có đủ bằng chứng để tuyên bố rằng Đại Mạng Lệnh chắc chắn là lời ngụy tạo của cộng đồng Cơ Đốc cuối thế kỷ thứ nhất.

Điều có thể nói vững chắc hơn là thế này.

Mác 16:9–20 có một vấn đề văn bản thực sự và rất nghiêm trọng. Vì vậy Mác 16:15 không nên được dùng như chứng cứ duy nhất.

Nhưng việc loại bỏ Mác 16:9–20 không loại bỏ universal mission khỏi Mác, bởi Mác 13:10 vẫn nói Tin Lành phải được rao cho “mọi dân”.

Ma-thi-ơ 28:19 không có cùng loại bằng chứng manuscript để loại bỏ phần “mọi dân”.

Sứ mạng ưu tiên Israel trong chức vụ của Jesus không chứng minh một sự loại bỏ vĩnh viễn dân ngoại, vì mô hình “Israel được phục hồi trước, rồi ánh sáng lan đến các dân” đã có sẵn trong Ê-sai.

Đặc biệt, Ê-sai 66:18–19 đã mô tả Đức Chúa Trời sai người đến các dân xa chưa nghe biết Ngài để công bố sự vinh hiển Ngài giữa họ. Điều này có trước Phao-lô nhiều thế kỷ.

Tobit, Sirach, I Enoch, Psalms of Solomon, Sibylline Oracles và các dòng văn chương Do Thái khác chứng minh rằng vấn đề các dân ngoại nhận biết Đức Chúa Trời đã được suy tư rất lâu trước Cơ Đốc giáo.

Jubilees và một số văn bản Qumran lại chứng minh chiều ngược lại: có những cộng đồng Do Thái chủ trương tách biệt dân ngoại rất mạnh. Chính sự tồn tại đồng thời của hai hướng tư tưởng này giải thích vì sao Hội Thánh đầu tiên có thể vừa tin rằng Đức Chúa Trời muốn các dân quay về, vừa tranh luận gay gắt về cắt bì, Torah và địa vị cộng đồng của họ.

Ga-la-ti 2, một trong những nguồn Cơ Đốc sớm nhất, cũng không cho phép nói rằng Gia-cơ, Phi-e-rơ và Giăng phủ nhận việc Phao-lô đi đến dân ngoại. Theo chính Phao-lô, các trụ cột đã công nhận sự phân công ấy.

Cuối cùng, Giăng 17:4 không thể dùng để chấm dứt mọi khái niệm sứ mạng về sau, bởi chính Giăng 17:18–20 nói Jesus sai môn đồ vào thế gian và nói trước về những người sẽ tin nhờ lời họ.

KẾT LUẬN CỦA HOLY LIGHT CHAPEL

Vấn đề Đại Mạng Lệnh phải được nghiên cứu với sự trung thực cả về đức tin lẫn lịch sử.

Chúng ta không được che giấu sự thật rằng Mác 16:9–20 có một vấn đề văn bản nghiêm trọng.

Nhưng cũng không được lợi dụng sự thật đó để đi xa hơn dữ kiện và tuyên bố rằng ý tưởng đem sự nhận biết Đức Chúa Trời đến các dân là một phát minh của Phao-lô hoặc của Giáo hội cuối thế kỷ thứ nhất.

Nếu một người hoàn toàn không dùng Phao-lô, thậm chí chưa cần dùng Ma-thi-ơ 28, thì Cựu Ước vẫn cung cấp một nền tảng rất mạnh cho viễn tượng toàn cầu.

Sáng-thế Ký nói các chi tộc trên đất sẽ được phước qua Áp-ra-ham.

Sa-lô-môn cầu xin để muôn dân biết danh YHWH.

Thi Thiên kêu gọi các dân ngợi khen Ngài.

Xa-cha-ri nhìn thấy các nước tìm kiếm Đức Giê-hô-va.

Ma-la-chi nói danh Ngài sẽ lớn từ Đông sang Tây.

Ê-sai nói người tôi tớ sẽ trở thành ánh sáng cho các dân và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời sẽ đến tận cùng đất.

Và Ê-sai 66 còn nói rõ rằng Đức Chúa Trời sẽ sai người của Ngài đến những dân chưa từng nghe về Ngài để rao truyền sự vinh hiển Ngài giữa các dân.

Vì vậy, câu hỏi đúng không phải là:

“Phao-lô có phát minh ra việc hướng đến dân ngoại hay không?”

Câu trả lời cho câu hỏi ấy, xét theo Cựu Ước, là không.

Câu hỏi thực sự phải là:

“Trong chương trình của Đức Chúa Trời, Y-sơ-ra-ên và các dân ngoại liên hệ với nhau như thế nào, và dân ngoại phải quay về cùng YHWH theo những điều kiện nào?”

Đó mới chính là cuộc tranh luận đã có từ các tiên tri, tiếp tục trong Do Thái giáo thời Đền Thờ thứ hai, rồi bùng lên mạnh mẽ trong Hội Thánh thế kỷ thứ nhất.

Vì thế, lập trường nghiên cứu vững chắc nhất của Holy Light Chapel là:

Không có đủ bằng chứng để tuyên bố từng chữ của Ma-thi-ơ 28:19 chắc chắn là nguyên văn lịch sử của Đấng Christ Jesus; nhưng cũng không có đủ bằng chứng để kết luận rằng Đại Mạng Lệnh hướng đến các dân là một sự giả tạo của Phao-lô hoặc Hội Thánh hậu Phục sinh. Ngược lại, cốt lõi thần học của một sứ mạng hướng đến các dân đã được đặt nền từ rất lâu trong Cựu Ước và văn chương Do Thái trước Cơ Đốc giáo.

Nếu phải chọn một lời tiên tri làm chìa khóa cho toàn bộ vấn đề, Holy Light Chapel đề nghị đọc lại Ê-sai 66:18–19:

Đức Chúa Trời thấy mọi dân và mọi thứ tiếng; Ngài nhóm họ lại; Ngài sai người của Ngài đến những dân xa chưa từng nghe về Ngài; và những người được sai ấy rao truyền sự vinh hiển Ngài giữa các dân.

Đó là viễn tượng của các tiên tri Israel hàng thế kỷ trước khi Phao-lô xuất hiện.

Vì vậy, không cần Phao-lô để phát minh ra một sứ mạng cho các dân.

Cựu Ước đã có nó trước Phao-lô.

Ca Thương 3 — từ đáy tuyệt vọng đến hy vọng có căn cứCa Thương 3 là một trong những chương sâu nhất của Cựu Ước về đau k...
09/03/2026

Ca Thương 3 — từ đáy tuyệt vọng đến hy vọng có căn cứ

Ca Thương 3 là một trong những chương sâu nhất của Cựu Ước về đau khổ, sự sửa phạt của Đức Chúa Trời, lòng thương xót, ăn năn và hy vọng. Điều đặc biệt là chương này không phủ nhận đau khổ để nói những lời “tích cực”; trái lại, nó đi thẳng xuống tận đáy tuyệt vọng rồi mới tìm thấy lý do để hy vọng.

Bối cảnh rộng của sách là thảm họa Giê-ru-sa-lem bị Babylon hủy phá, thường được liên hệ với biến cố năm 586 TCN. Sách không tự ghi tên tác giả; truyền thống cổ gắn sách với Giê-rê-mi, nhưng bản Hê-bơ-rơ tự nó để tác phẩm ẩn danh.

1. Cấu trúc của chương đã mang một thông điệp

Ca Thương 3 có 66 câu = 22 × 3, tương ứng 22 chữ cái Hê-bơ-rơ. Ba câu liên tiếp bắt đầu bằng cùng một chữ cái, rồi mới chuyển sang chữ tiếp theo. Đây là hình thức tam trùng acrostic rất chặt chẽ.

Nói cách khác:

* 1–3: א Aleph
* 4–6: ב Beth
* 7–9: ג Gimel
* …
* 64–66: ת Tav

Điều đó rất đáng chú ý: nội dung là hỗn loạn, nhưng bài thơ lại cực kỳ có trật tự.

Có thể hiểu hình thức này như một cố gắng diễn tả đau khổ “từ A đến Z”: người viết không chạy trốn sự đau đớn nhưng đem toàn bộ nó đặt thành lời trước Đức Chúa Trời.



I. CÂU 1–18: KHI NGƯỜI TIN CẢM THẤY CHÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI ĐANG CHỐNG LẠI MÌNH

Mở đầu cực kỳ mạnh:

“Ta là người đã thấy hoạn nạn bởi roi thạnh-nộ của Ngài.”
— Ca Thương 3:1

Điều gây sốc là người viết không nói đơn giản:

“Babylon làm tôi khổ.”

Ông liên tục quy nguyên nhân cuối cùng về Đức Chúa Trời:

* Ngài dẫn tôi vào tối tăm — c.2
* Ngài trở tay nghịch cùng tôi — c.3
* Ngài làm da thịt tôi già cỗi — c.4
* Ngài vây tôi — c.5
* Ngài đặt tôi trong tối tăm — c.6
* Ngài xây tường vây tôi — c.7
* Ngay cả khi tôi kêu cầu, lời cầu nguyện dường như bị ngăn lại — c.8
* Ngài chắn đường — c.9
* Ngài như gấu/rình mồi — c.10–11
* Ngài giương cung nhắm vào tôi — c.12–13.

Đây là một bài học rất lớn về cầu nguyện trong Kinh Thánh:

Đức tin thật không có nghĩa là giả vờ mình không đau.

Người viết dám nói với Đức Chúa Trời những điều mà nhiều tín hữu ngày nay thậm chí không dám nghĩ.

Đến câu 17–18 ông chạm đáy:

“Ngài làm cho linh-hồn tôi xa sự bình-an.”
“Ta nói: Sức ta đã mất, lòng trông-cậy ta nơi Đức Giê-hô-va cũng mất.”

Đây gần như là:

“Tôi không còn hy vọng nữa.”

Và chính tại điểm ấy chương bắt đầu xoay chuyển.



II. CÂU 19–21: BƯỚC NGOẶT KHÔNG NẰM Ở HOÀN CẢNH — MÀ Ở ĐIỀU NGƯỜI ẤY NHỚ

Câu 19–20 vẫn hoàn toàn tối:

ông nhớ lại hoạn nạn, cay đắng, ngải cứu và mật đắng.

Nhưng câu 21 là chiếc bản lề của cả chương:

“Ta nhớ lại sự nầy trong lòng, nên ta có sự trông-mong.”

Hê-bơ-rơ:

זֹאת אָשִׁיב אֶל־לִבִּי עַל־כֵּן אוֹחִיל
zot ashiv el-libbi, al-ken ochil

Ý gần sát:

“Điều này tôi đem trở lại vào lòng mình; vì vậy tôi sẽ hy vọng/chờ đợi.”

Động từ יָחַל — yāḥal không chỉ là “mong ước”, mà mang ý nghĩa chờ đợi với kỳ vọng.

Đây là điểm rất sâu:

Hoàn cảnh chưa thay đổi. Babylon vẫn ở đó. Thành vẫn đổ nát. Người chết vẫn chết.

Thứ thay đổi đầu tiên là:

ông nhớ lại một sự thật đã bị đau khổ che khuất.

Đức tin trong Ca Thương 3 không phải:

“Tôi cảm thấy mọi việc sẽ ổn.”

Mà là:

“Dù tôi chưa thấy mọi việc ổn, tôi nhớ Đức Chúa Trời là ai.”



III. CÂU 22–24: TRUNG TÂM THẦN HỌC CỦA CHƯƠNG

Đây là ba câu nổi tiếng:

“Ấy là nhờ sự nhân-từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt.
Vì sự thương-xót Ngài chẳng dứt;
mỗi buổi sáng thì lại mới luôn,
sự thành-tín Ngài là lớn lắm.”

1. “Sự nhân từ” — חֶסֶד ḥesed

Đây không đơn giản là “nice/kind”.

ḥesed mang ý nghĩa rất mạnh về:

* lòng yêu thương bền vững,
* sự trung tín,
* lòng nhân từ có tính giao ước,
* sự trung thành của Đức Chúa Trời đối với điều Ngài đã lập.

NET lưu ý rằng từ này rất khó chuyển hết sang một từ tiếng Anh và thường gắn với covenant loyalty — lòng trung tín giao ước.

2. “Thương xót” — רַחֲמִים raḥamim

Đây là lòng thương cảm sâu xa.

Điều đáng chú ý:

ḥesed + raḥamim xuất hiện ngay giữa một chương nói về sự thạnh nộ.

Nghĩa là:

Đức Chúa Trời có thể xét đoán, nhưng sự xét đoán không làm mất bản tính thương xót của Ngài.



Một chi tiết bản văn rất đáng chú ý ở câu 22

Bản Hê-bơ-rơ Masoretic đọc:

כִּי לֹא־תָמְנוּ — ki lo tamnu

tức gần nghĩa:

“Vì chúng ta chưa bị tiêu diệt.”

Vì vậy VIE1925/KJV/NIV có cách dịch tương tự:

nhờ lòng thương xót YHWH chúng ta chưa bị tuyệt diệt.

Nhưng một số truyền thống bản văn cổ và nhiều bản dịch hiện đại đọc rất gần:

“Lòng nhân từ của YHWH không bao giờ chấm dứt.”

Chỉ khác một chi tiết nhỏ trong động từ Hê-bơ-rơ: tamnu / tammu. NET trình bày khá đầy đủ vấn đề bản văn này.

Điều thú vị là hai cách đọc cuối cùng đưa về cùng một tư tưởng:

Vì lòng thương xót YHWH không chấm dứt, nên dân Ngài chưa hoàn toàn bị tiêu diệt.



IV. “MỖI BUỔI SÁNG LẠI MỚI” KHÔNG CÓ NGHĨA MỖI SÁNG SẼ HẾT KHỔ

Đây là một trong những chỗ thường bị giảng sai.

Ca Thương 3:23 không nói:

“Sáng mai hoàn cảnh của bạn chắc chắn sẽ khá hơn.”

Giê-ru-sa-lem hôm sau vẫn đổ nát.

Người viết nói:

“Sự thương xót của Ngài lại mới mỗi buổi sáng.”

Đó là điều hoàn toàn khác.

Hy vọng không đặt trên lời hứa:

“Hoàn cảnh sẽ dễ dàng.”

Mà đặt trên:

“Đức Chúa Trời vẫn thành tín.”

Hê-bơ-rơ dùng:

אֱמוּנָתֶךָ — ʾemunātekha

từ אֱמוּנָה — emunah:

* vững chắc,
* đáng tin cậy,
* thành tín.

NET cho rằng câu truyền thống “Great is your faithfulness” cũng có thể diễn đạt sát hơn là “sự thành tín Ngài thật dồi dào”.



V. CÂU 24: MẤT MỌI THỨ NHƯNG VẪN CÒN “PHẦN” CỦA MÌNH

“Đức Giê-hô-va là cơ-nghiệp ta, linh-hồn ta nói vậy, nên ta để lòng trông-cậy nơi Ngài.”

Từ quan trọng:

חֶלְקִי — ḥelqî
= “phần của tôi / phần được chia cho tôi / cơ nghiệp tôi.”

Trong Cựu Ước, từ này có thể chỉ phần đất, tài sản hoặc phần thừa hưởng. Nó cũng được dùng theo nghĩa YHWH chính là phần/cơ nghiệp của người thờ phượng.

Hãy nhìn bối cảnh:

Dân Giu-đa đã mất:

* đất,
* nhà,
* thành,
* đền thờ,
* vua,
* tài sản,
* an ninh.

Vậy mà người viết nói:

“YHWH vẫn là phần của tôi.”

Đây có lẽ là một trong những tuyên bố đức tin mạnh nhất toàn chương.

Không phải:

“Chúa sẽ trả lại tài sản cho tôi nên tôi tin Ngài.”

Mà:

“Dẫu tài sản không còn, chính Ngài vẫn là cơ nghiệp tôi.”



VI. CÂU 25–30: “CHỜ ĐỢI” KHÔNG PHẢI LÀ BỎ CUỘC

Ba ý xuất hiện liên tục:

“Đức Giê-hô-va là tốt lành đối với kẻ trông đợi Ngài.”

“Thật tốt khi yên lặng trông chờ sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va.”

“Thật tốt cho người mang ách lúc còn trẻ.”

“Yên lặng” ở đây không có nghĩa:

không được kêu khóc.

Bởi chính người viết đang viết Ca Thương!

Nó có nghĩa gần hơn:

không tuyệt vọng chạy theo mọi giải pháp sai trái; kiên trì chờ sự giải quyết của Đức Chúa Trời.

Thậm chí:

“Người hãy đưa má cho kẻ vả…”

không nên tách ra thành một giáo lý buộc nạn nhân phải chấp nhận bạo hành.

Bởi chỉ vài câu sau, 34–36, chính tác giả lên án:

* nghiền nát tù nhân,
* bẻ cong công lý,
* làm sai lệch quyền lợi của người khác.



VII. CÂU 31–33: CHÌA KHÓA ĐỂ HIỂU “SỰ THẠNH NỘ” CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

“Vì Chúa không từ-bỏ đời đời.”
“Dầu Ngài làm cho buồn-rầu, Ngài còn thương-xót…”
“Vì chẳng phải bổn tâm Ngài làm cho con người cực-khổ…”

Câu 33 nguyên văn có:

לֹא עִנָּה מִלִּבּוֹ — lo ʿinnah millibbo

nghĩa sát:

“Ngài không làm khổ từ lòng mình.”

“From his heart” trong thành ngữ Hê-bơ-rơ chỉ điều xuất phát từ ý định/mong muốn nội tại. Vì vậy ý câu này là:

Đức Chúa Trời có thể sửa phạt, nhưng Ngài không lấy sự đau khổ của con người làm niềm vui hay mục đích tự thân.

NET cũng giải thích “from his heart” là điều phát xuất từ động cơ tự nguyện/nội tâm.

Điều này cực kỳ quan trọng.

Ca Thương 3 không mô tả YHWH như một vị thần thích hành hạ con người.

Ngược lại:

Phán xét là có thật.
Nhưng lòng thương xót mới phản ánh sâu sắc ý muốn của Ngài.

Có thể đối chiếu Ê-xê-chi-ên 18:23,32; 33:11:

Ngài không vui thích về sự chết của kẻ ác, nhưng muốn họ xây bỏ đường lối mình mà sống.



VIII. CÂU 34–36: ĐỨC CHÚA TRỜI KHÔNG CHẤP NHẬN BẤT CÔNG

Ba điều bị lên án:

1. nghiền nát tù nhân;
2. làm cong công lý;
3. xử sai vụ kiện của một người.

Đây là chi tiết rất quan trọng đối với câu 37–38 phía sau.

Không thể lập luận:

“Mọi việc đều dưới quyền Đức Chúa Trời, vậy kẻ áp bức làm gì cũng là ý Đức Chúa Trời.”

Không.

Ca Thương 3 vừa khẳng định chủ quyền tối cao của Đức Chúa Trời, vừa khẳng định Ngài không tán thành bất công.



IX. CÂU 37–39: “ĐIỀU ÁC” TỪ ĐẤNG RẤT CAO LÀ GÌ?

“Há chẳng phải từ miệng Đấng Rất Cao mà tai-họa và phước-lành đều ra sao?”

Nguyên văn:

הָרָעוֹת וְהַטּוֹב
hā-rāʿôt we-haṭṭôb

“evil/bad” ở đây trong bối cảnh không nhất thiết có nghĩa:

Đức Chúa Trời tạo ra tội lỗi đạo đức.

Nó có thể có nghĩa:

tai họa / calamity / adversity

đối lập với:

điều tốt / phước lành / prosperity.

NET vì vậy dịch ý là calamity and blessing.

Nó rất gần Ê-sai 45:7 và A-mốt 3:6.

Thông điệp là:

Babylon không phải lực lượng độc lập có thể phá hỏng chương trình của YHWH.

Ngay cả cuộc khủng hoảng kinh khủng này cũng không vượt ra ngoài sự tể trị của Ngài.



X. CÂU 40 LÀ CÂU THỰC HÀNH QUAN TRỌNG NHẤT CỦA CHƯƠNG

Sau khi suy nghĩ tất cả những điều trên, tác giả không kết luận:

“Vậy hãy tranh luận xem tại sao Chúa làm tôi khổ.”

Ông kết luận:

“Chúng ta hãy xét và thử đường mình, trở về cùng Đức Giê-hô-va.”

Đây là động tác quyết định.

Có bốn bước:

đau khổ → nhớ lại → tự xét → trở về.

Không phải:

đau khổ → đổ lỗi → tuyệt vọng.

Đặc biệt, từ câu 1 ông nói:

“Tôi…”

đến câu 40 trở thành:

“Chúng ta…”

Nỗi đau cá nhân trở thành sự ăn năn cộng đồng.



XI. CÂU 41–47: ĂN NĂN KHÔNG PHẢI CHỈ GIƠ TAY

Một câu cực hay:

“Chúng ta hãy giơ lòng và tay lên cùng Đức Chúa Trời trên trời.”

Không chỉ:

giơ tay.

Mà:

giơ lòng + tay.

Sau đó là lời thú nhận:

“Chúng tôi đã phạm phép và phản nghịch.”

Đây là điểm rất phù hợp với toàn bộ các tiên tri Cựu Ước:

không có sự phục hồi thật nếu không có sự quay trở lại.

Ca Thương 3 không dạy:

“Chỉ cần tin rằng mọi chuyện sẽ ổn.”

Nó dạy:

hãy xét đường mình và trở lại cùng YHWH.



XII. CÂU 48–54: SAU KHI CÓ ĐỨC TIN, NGƯỜI TA VẪN ĐƯỢC PHÉP KHÓC

Điều này rất đẹp.

Sau tuyên bố:

“Sự thành tín Ngài lớn lắm”

tác giả không trở thành người không còn đau nữa.

Ông lại khóc:

“Mắt ta chảy dòng nước…”

Hy vọng Kinh Thánh không tiêu diệt cảm xúc.

Bạn có thể đồng thời:

* tin Đức Chúa Trời,
* hy vọng nơi Ngài,
* và khóc.

Ba điều đó không mâu thuẫn.



XIII. CÂU 55–58: TỪ ĐÁY HỐ SÂU, YHWH ĐẾN GẦN

Đây là một trong những cao điểm cuối chương:

“Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi kêu cầu danh Ngài từ nơi ngục sâu.”

Rồi:

“Ngày tôi kêu cầu Ngài, Ngài đến gần tôi, phán rằng: Chớ sợ!”

Câu 58:

“Hỡi Chúa, Ngài đã binh-vực lý của linh-hồn tôi; Ngài đã chuộc mạng-sống tôi.”

Từ ngữ ở đây mang màu sắc go’el — người bênh vực/chuộc lại.

Điều đáng chú ý là người viết không nói:

“Tôi tự kéo mình ra khỏi hố.”

Mà:

từ đáy hố tôi kêu cầu — Ngài đến gần.



XIV. CÂU 59–66: THA THỨ KHÔNG CÓ NGHĨA BẤT CÔNG KHÔNG BỊ XÉT XỬ

Phần cuối khá dữ dội.

Tác giả xin Đức Chúa Trời:

* nhìn thấy sự bất công,
* xét xử,
* báo trả kẻ thù.

Điều này cho thấy một mặt khác của đức tin Kinh Thánh:

Người tin không nhất thiết phải tự mình báo thù; họ có thể giao sự xét xử cho Đức Chúa Trời.

Hy vọng ở Ca Thương 3 không phải thứ tình yêu mơ hồ bỏ qua thiện ác.

YHWH:

* thương xót,
* nhưng cũng xét xử;
* tha thứ người ăn năn,
* nhưng không gọi bất công là công bình.



Toàn bộ Ca Thương 3 có thể tóm lại bằng 7 chuyển động

Phân đoạn Diễn tiến
1–18 Tôi đau khổ đến mức mất hy vọng
19–21 Tôi nhớ lại một điều
22–24 Lòng thương xót và sự thành tín YHWH chưa chấm dứt
25–39 Vì vậy tôi chờ đợi và nhìn nhận sự tể trị của Ngài
40–47 Tôi xét lại đường mình và trở về
48–58 Tôi khóc và kêu cầu từ vực sâu; Ngài đến gần
59–66 Tôi giao sự xét xử cuối cùng cho Ngài

Kết luận thần học quan trọng nhất

Tôi cho rằng Ca Thương 3 không chủ yếu dạy “hãy vui vẻ khi gặp hoạn nạn”.

Nó dạy điều sâu hơn nhiều:

Đức tin thật có thể nhìn thẳng vào đau khổ mà không nói dối về đau khổ.

Người viết thậm chí có thể nói:

“Tôi tưởng hy vọng nơi YHWH đã mất.”

Nhưng ông không dừng ở đó.

Ông đem trở lại trong lòng ba sự thật:

חֶסֶד — ḥesed: lòng yêu thương trung tín của YHWH.
רַחֲמִים — raḥamim: lòng thương xót của Ngài.
אֱמוּנָה — emunah: sự thành tín không lay chuyển của Ngài.

Và từ đó ông đi đến câu quan trọng nhất về hành động:

“Chúng ta hãy xét và thử đường mình, trở về cùng Đức Giê-hô-va.” — Ca Thương 3:40

Cho nên thông điệp của chương không phải:

“Đau khổ rồi tự nhiên mọi chuyện sẽ tốt.”

Mà là:

Khi mọi thứ bên ngoài có thể bị lấy mất, YHWH vẫn có thể là “phần của tôi”; khi bị sửa phạt, hãy tự xét và trở lại; khi ở tận đáy hố vẫn có thể kêu cầu; và sự phán xét của Đức Chúa Trời không phải lời cuối cùng, bởi lòng thương xót và sự thành tín của Ngài vẫn còn.

Đó chính là lý do câu “mỗi buổi sáng thì lại mới luôn” có sức mạnh: nó được viết không phải trong lúc chiến thắng, mà giữa đống tro tàn của Giê-ru-sa-lem.

Provided to YouTube by DistroKid‭‭Ca thương‬ ‭3‬‬ ‭VIE1925‬‬ |THM...

Address

2109 Harvest Run
Garland, TX
75040

Opening Hours

Wednesday 9am - 5pm
9pm - 10pm
Friday 9am - 5pm
9pm - 10pm

Telephone

+16126445110

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Holy Light Chapel posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Holy Light Chapel:

Share