Đạo Phật Ngày Nay

Đạo Phật Ngày Nay male model Amitabha Buddha

ĐỌC LỜI CỦA NGÀI THẤM TỪNG CHỮ “Sau khi tôi theo hầu Phật Tổ thì không được tổ chức tang lễ linh đình, nghi lễ hết sức g...
10/22/2021

ĐỌC LỜI CỦA NGÀI THẤM TỪNG CHỮ

“Sau khi tôi theo hầu Phật Tổ thì không được tổ chức tang lễ linh đình, nghi lễ hết sức giản đơn, ngắn ngày theo truyền thống đạo Phật và tổ chức tại chùa Viên Minh. Đề nghị không vòng hoa phúng điếu, không tiểu sử dài dòng, không tiêu tốn thời gian và tổn hại công đức của Tăng Ni và Phật tử. Nếu quý vị tưởng nhớ tới tôi thì niệm danh hiệu Phật và tụng thời kinh tại trụ xứ của mình hồi hướng công đức cho thế giới hoà bình, nhân sinh an lạc".

"Sống được bao nhiêu năm, không phải là thước đo giá trị của đời người. Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho Đời, cho Đạo. Ngài Trần Nhân Tông chỉ ở đời có 51 năm, Ngài Pháp Loa có 47 năm mà công nghiệm thì bất khả tư nghì. Tôi trụ thế đến nay đã hơn trăm năm, ở chùa cũng đã gần trăm năm, nghiệp là tu hành, nuôi thân chủ yếu bằng nghề làm ruộng, chưa từng dám lạm dụng một bát gạo, một đồng tiền của tín thí thập phương, khi nào chư Phật, chư Tổ cho gọi thì về thôi”.

- "Chùa to, cảnh lớn, giảng đường đẹp, phòng ốc sang dù sao cũng chỉ là phương tiện. Linh hồn của nó là thầy và trò trong quan hệ tu tập và hành trì".

- "Muốn sống lâu trước hết phải sạch sẽ từ thân đến tâm... Về tinh thần, cần tu tâm dưỡng tính, tiết chế mọi ham muốn dục vọng, sống trong tinh thần lục hòa thì sẽ tăng được tuổi thọ. Nhưng dù sao, cũng không thể loại trừ được vô thường của sinh lão bệnh tử, vì đó là quy luật của mọi kiếp nhân sinh."

-"Tôi là người cao tuổi, xuất gia lâu năm nên được các chư tăng ủy thác vào ngôi Pháp chủ. Chứ Ngôi vị Pháp chủ theo nghĩa cứu cánh tuyệt đối thì chỉ có một vị có đầy đủ phúc đức, trí tuệ để gìn giữ, đó là Đức Thích Ca Mâu Ni",

- "Suốt đời tôi chỉ mong được niệm Phật, cầu kinh, không mong cầu danh lợi... Xin các vị đừng gọi tôi là Pháp chủ mà hãy cứ nhìn tôi như một lão tăng thanh bần sống trong ngôi chùa làng là tôi mãn nguyện".

- "Sư là khuôn mẫu, mô phạm của loài người, chí ít là trong một cộng đồng người. Nếu không có đạo hạnh, không có trí tuệ thì lấy gì mà dạy người? Lấy gì làm gương tốt để mọi người noi theo?"

- "Tôi không ngờ chư vị lại giữ lời đã hứa khả với chúng tôi như vậy! Đã tổ chức lễ đón rước quá lớn. Ngoài sự tưởng tượng của chúng tôi. Chúng tôi đã làm được những gì trong cuộc đời tu hành của mình mà dám nhận cái phúc lớn đó? Phúc là phải do tu mà có. Phúc thì nên tích mà không nên tán. Phúc không tích thêm mà cứ lạm hưởng thì rồi cũng hết. Khi đó phúc trở thành họa. Nay được hưởng như thế này là cái họa cho chúng tôi. Chúng tôi cần làm gì đây để báo đáp sự cung ngưỡng lớn lao như thế này của đại chúng?" - Phát biểu tại Đại lễ cung nghinh Đức đệ tam Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thích Phổ Tuệ tại Hà Tây.

Đại Lão Hoà Thượng Thích Phổ Tuệ

NGĂN CHẶN TÂM VIÊN Ý MÃHT Tôn sư Thượng Trí Hạ Quảng giảng giảiTôi còn nhớ cố Hòa thượng Thích Đạt Hảo, Thành viên Hội đ...
06/25/2021

NGĂN CHẶN TÂM VIÊN Ý MÃ
HT Tôn sư Thượng Trí Hạ Quảng giảng giải

Tôi còn nhớ cố Hòa thượng Thích Đạt Hảo, Thành viên Hội đồng Chứng minh, lúc sanh tiền, ngài đã viết hai câu đối nhờ tôi chuyển đến các trường hạ. Ngài dạy rằng:
Tam ngoạt an cư đình ý mã
Cửu tuần tu học định tâm viên.
Mỗi đạo tràng an cư có cách hướng dẫn riêng và pháp hành trì khác nhau, nhưng đều mang mục tiêu chung là tập hợp lại để trao đổi kinh nghiệm tu, khám phá được cái hay của bạn đồng tu và khắc phục nhược điểm của riêng mình. Một trong những điểm xấu cần hạn chế trong ba tháng an cư, chín tuần tu học mà Hòa thượng nhắc nhở chúng ta là tâm viên, ý mã.
Theo lời Phật dạy, sự hiện hữu của con người phát xuất từ vô minh. Vô minh sanh ra vọng động và vọng tâm đối cảnh sanh ra vọng thức. Vọng tâm và vọng thức, cả hai đều thuộc về nghiệp. Vọng tâm lăng xăng nghĩ tưởng đủ thứ không ngừng ví như con khỉ leo trèo nhảy nhót không biết chán; ý thức chạy rong không bờ bến giống như con ngựa.
Trên bước đường tu, chúng ta phải tìm cách để dừng tâm lại, vì tâm khởi lên là vọng, nhưng dừng lại được là chân. Tuy nhiên, muốn dừng vọng tâm, phải dừng cảnh trước. Vì vậy, chúng ta an cư, không đi ra ngoài, không tiếp xúc thì tránh được phiền não, tức vọng tâm không có điều kiện để sanh khởi.
Theo tinh thần Đại thừa, khi khởi niệm là vọng. Trong vọng tâm có thiện và ác. Người chấp pháp không cho khởi niệm, nên không vọng động, nhưng họ không động, không khác gì cây khô củi mục, trơ như đá, chẳng biết gì. Trái lại, hành giả Đại thừa biết phân ra niệm tâm ác và niệm tâm thiện. Nếu khởi lên niệm ác sanh phiền não nhiễm ô, phải đoạn. Nếu là vọng niệm thiện, hành giả không đoạn, mà còn nuôi dưỡng nó như phương tiện, coi đó là pháp hành trì của hành giả. Thí dụ khi quý vị nghe pháp, pháp đó đều là vọng, huyễn. Tuy nhiên, nhờ huyễn này, chúng ta dừng tâm lại, không cho nó chạy rong theo nghiệp ác của phàm phu.
Dừng tâm để lắng nghe, suy nghĩ lời Phật dạy, tâm chúng ta thanh tịnh hóa lần trong pháp Phật, vì pháp Phật có công năng tẩy rửa lòng trần. Như vậy, đem pháp Phật vào tâm là phương tiện dùng thiện để xóa tâm ác, bấy giờ chúng ta nhìn đời qua thiện tâm hay đôi mắt đại bi. Khi nghe pháp xong, chúng ta trao đổi với bạn đồng tu về áo nghĩa tiềm ẩn trong kinh, đó cũng là vọng, nhưng vọng này thuộc thiện.
Tuy tu vọng, mà lại tác động thiện cho chúng ta. Từ đó, chúng ta gặp bạn ý hợp tâm đầu trong pháp, tự thấy lòng an vui, thanh tịnh. Và nhờ trao đổi kinh nghiệm tu, ta lại phát hiện nhân tố tốt nào đó, tức vọng đã tác động cho chơn của ta. Trong cuộc sống tu hành, điều này rất quan trọng.
Từ chỗ thấy nghe điều thánh thiện, làm chất xúc tác cho tâm trở thành tốt, an lạc, đó là vọng của thiện. Tâm an lạc này giúp hành giả dễ vào định. Thế giới Cực lạc của Đức Phật A Di Đà cũng lấy an lạc làm kiểu mẫu chánh.
Dừng tâm lăng xăng theo việc đời tội lỗi để sự tác động tâm tốt đúng như pháp tăng trưởng, không phải dừng tâm cho thành gỗ đá. Chúng ta ngồi thiền để thân tâm thành vô động và sau cái không động, nắm bắt được kết quả lợi lạc gì cho hành giả, mới thực sự quan trọng.
Theo Giáo sư Motai, Đức Phật ngồi thiền trong 49 ngày, người đời thấy Phật ngồi vô động, nhưng bấy giờ, Ngài đã chi phối toàn vũ trụ. Hào quang tỏa sáng tam thiên đại thiên thế giới, trời Phạm phải mang hoa báu đến cúng dường, ma phải cúi đầu khiếp sợ.
Dừng ý mã của ta tức những cái chạy rong không cần thiết, bấy giờ mới phát huy cái cần thiết bên trong. Dừng suông không lợi ích gì. Tâm lăng xăng, ham muốn, vọng tình cắt bỏ và phát huy cùng cực cái thiện. Thiện ấy ảnh hưởng đến tâm đại chúng, khiến họ thanh tịnh theo. Chúng ta thường thấy người tu cao, đức hạnh, chỉ ngồi yên mà lực của họ nhiếp phục mọi người ở khắp mọi nơi.
Bước thứ nhất dừng vọng thức, vọng tâm tội lỗi, tiến sang giai đoạn hai, hoạt động hoàn toàn trong tâm. Người thấy hành giả không làm gì, vì hoạt động trong đầu, trong tim, làm sao họ biết được. Đối với người tu, hành xử đó mới thực sự quan trọng.
Nhờ đã đọc sách, nay ngồi yên, phân tích được việc hay dở, đáng làm hay không nên làm, nơi nào cần đến làm đạo, nơi nào chưa thuận tiện. Trong tâm trí nhận rõ những điều ấy rồi, hành giả khởi lòng từ bi đến cứu giúp người, nghĩa là trí tuệ chỉ đạo cho lòng từ bi.
Tăng Ni cần dừng ngay ác vọng tâm, nhất là trong mùa an cư, chúng ta có đầy đủ điều kiện thực hiện pháp tu này. Khi chấm dứt an cư, mới thấy ác nghiệp dễ sanh ra từ vọng tâm. Thật vậy, vì có tiếp xúc, nhưng chưa có tâm định, chưa có tâm đại bi, phiền não sanh khởi ngay.
Muốn cắt bỏ ác tâm vọng và ý sai lầm để đi sâu vào thiền định, theo tôi cách dễ tu nhất là đem pháp Phật vào lòng. Bản thân tôi vẫn áp dụng pháp này. Một ngày tôi thường dành thì giờ đọc sách, an trụ trong pháp Phật, tôi cảm nhận an lạc vô cùng. Hưởng được sự an lạc với pháp, tâm đâu còn muốn tìm cầu cái gì khác nữa. Đọc sách, tìm hiểu và mang vào suy tư trong thiền định thì thiền mới có ý nghĩa. Không học, không đọc, không biết, vào thiền làm gì.
Trong mùa an cư, tôi luôn đọc những bộ kinh Đại thừa, khi bắt gặp được yếu chỉ kinh, tâm gắn liền với ý Phật dạy và tôi mang điều tiếp thu ấy vào thiền định. Bấy giờ, ngồi yên, có cái để quán tưởng. Nhờ tập trung nghĩ về đề mục, tâm tự nhiên tỉnh táo, an lạc, sáng suốt lạ thường. Khi đang triền miên với dòng suy tư, kiểng đổ báo hiệu chấm dứt giờ thiền, tôi còn luyến tiếc, đem về phòng dòng tư tưởng đang còn dở dang, tiếp tục vào sống trong thế giới hỷ lạc ấy.
Thiết nghĩ, thể nghiệm pháp bằng tất cả nhiệt tâm như vậy, huệ vô lậu chưa phát sinh, thì sự hiểu biết cũng phải phát triển. Trái lại, nghe tiếng kiểng vội xách áo chạy, hoặc trước khi thiền, sự cãi vã tán gẫu còn tồn đọng trong lòng chưa giải tỏa. Tu theo kiểu đó, chắc chắn phiền não, nghiệp chướng tăng. Vì vậy, tuy cùng một pháp tu mà người đạt thanh tịnh giải thoát, người lại rơi vào tà đạo, tội lỗi.
Khi tu thiền, tụng kinh, niệm Phật, tôi đều cân nhắc, suy nghĩ xem pháp này nhằm mục tiêu gì, ứng dụng đúng sẽ được lợi lạc nào. Theo tôi, trước khi tu sửa tâm, cần điều chỉnh thân trước. Chúng ta tọa thiền, tụng kinh, lễ sám..., nói chung, dù tu pháp nào, cũng phải điều chỉnh sao cho thân không mệt mỏi sanh bệnh. Lạy Phật nhẹ nhàng, thanh thản, không đổ mồ hôi, hơi thở không dồn dập. Tụng kinh lâu không khô cổ, khan tiếng, mệt. Ngồi thiền lâu, không mỏi mệt, nhức đầu, tê chân. Càng tọa thiền càng sáng suốt, dịu dàng. Tu lâu, ăn uống ít, đơn sơ vẫn khỏe. Đó là những kết quả của sự hành trì đúng pháp, mang lại mạnh khỏe cho thân.
Trong ba tháng an cư, Tăng Ni điều chỉnh cơ thể sao cho thích hợp với sinh hoạt tu hành ở trường hạ. Sống hòa hợp với pháp lữ đồng tu, nhận được cảm tình tốt của họ. Tiến xa hơn, trải tâm từ đối với các loài chúng sanh, hài hòa cùng thiên nhiên. Tất cả những kết quả này là hàng rào tốt giúp ta ngăn chặn sự sanh khởi của tâm viên, ý mã.
Trụ tâm, an trú trong pháp Phật, con đường dẫn đến hạnh phúc chân thật của hàng sứ giả Như Lai. Cầu mong Tăng Ni thành tựu pháp hỷ lạc này trong mùa an cư.

KÍNH MỪNG NGÀY ĐỨC PHẬT BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI THÀNH ĐẠO ( Mùng 8 Tháng Chạp Canh Tý Niên)Sự chấn động của các cõi giới ...
01/20/2021

KÍNH MỪNG NGÀY ĐỨC PHẬT BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI THÀNH ĐẠO
( Mùng 8 Tháng Chạp Canh Tý Niên)

Sự chấn động của các cõi giới trong thời khắc Đức Phật thành đạo

Ngay trước lúc ánh bình minh ló rạng, Bồ Tát chuẩn bị đạt thành giác ngộ, toàn thân Ngài bay lên giữa không trung ở độ cao bốn mươi chín mét so với mặt đất, tức là gấp 7 lần cây Sala. Vào thời điểm quan trọng đó, cả trái đất chấn động theo sáu cách: Động, Khởi, Chấn, Dũng, Kích. Bồ Tát đã thành đạo và hợp nhất với tất cả công đức, phẩm hạnh Thân, Khẩu, Ý giác ngộ của mười phương ba đời chư Phật. Tất cả chư Phật đồng hoan hỉ và tán thán Bồ Tát: “Như chúng ta đã đạt giác ngộ như thế nào, Người cũng đã đạt thành giác ngộ như vậy”. Từ đó trở đi, Bồ Tát được xưng tụng là “Đức Phật”, tiếng Phạn có nghĩa là “ Đấng Toàn Giác”.

Hiện tượng siêu việt này là thể hiện chiến thắng vang dội của Bồ Tát trước thế lực hắc ám của Ma vương ngăn cản Ngài đạt giác ngộ, đồng thời là minh chứng đánh tan tất cả những nghi ngờ về trí tuệ thanh khiết, sáng trong không tỳ bợn nhơ của Đức Phật, trí tuệ Ngài chính là ánh sáng quang minh chiếu diệu vũ trụ và sự giải thoát luân hồi vĩnh viễn.

Theo tác phẩm "Phật sở hành tán", sự giác ngộ của đức Phật được nhận biết qua các dấu hiệu khác nhau:

1. Sự giao cảm của vũ trụ: Trái đất chấn động, mưa hương thơm tuôn xuống từ bầu trời không mây, hoa thơm nở tươi thắm, trái ngọt chín rộ dầu chưa đến mùa, các loại hoa báu như hoa ma-ha-mạn-đà-la tuôn rải từ trong hư không để cúng dàng Bậc đại giác;

2. Chư Phật mười phương và chư thiên các cõi trời xưng tán oai đức của Ngài và rải hoa thơm cúng dường;

3. Loài người trong nhân gian cảm thấy an bình và hoan hỷ khôn cùng.

4. Tất cả các vị quỷ thần từ mười phương gồm Indra thuộc phương đông, Yama thuộc phương nam, Varuna thuộc phương tây, Yasha thuộc phương bắc, Agnideva thuộc phương đông nam, Raksha thuộc phương tây nam, Vayudeva thuộc phương đông bắc, Bhuta thuộc phương tây bắc, Brahma thuộc thượng phương, Vanadevi thuộc hạ phương đồng tề tựu về và thề nguyện sẽ trở thành hộ pháp bảo vệ đạo Phật.

Họ nguyện bảo vệ cho tất cả những ai phát tâm học hỏi, tu tập và thực hành thiền theo lời Phật dạy. Giáo Pháp của Đức Phật nằm trong Tam Tạng kinh điển, nội dung chú trọng về rèn luyện đạo đức và đặc biệt nhấn mạnh việc trì giữ giới luật. Phần lớn những bài thuyết giảng của Đức Phật đề cập đặc biệt về việc rèn luyện định lực và bao gồm tri kiến, phương pháp để trau dồi trí tuệ.

Đây cũng là một trong những sự kiện quan trọng trong cuộc đời Đức Phật như thời khắc Ngài đản sinh, hàng phục Ma vương, đạt thành giác ngộ và nhập Đại Niết Bàn. Tất-đạt-đa (người thành tựu mọi ước nguyện của mình), Thích-ca Mâu-ni (bậc thánh của dòng họ Thích-ca), đức Thế Tôn (bậc tôn quý trong cuộc đời)… tất cả những danh xưng cao cả, những thánh hạnh cao đẹp, những phẩm tính siêu phàm nhất của đức Phật đã được thành tựu và hiển lộ trọn vẹn ngay trong thời khắc huy hoàng khi Ngài thành đạo. Những người con Phật coi đây là thời điểm linh thiêng, cát tường nhất trong năm. Ngày này hàng năm là ngày hội truyền thống trong đạo Phật, Phật tử khắp mọi nơi trên thế giới tổ chức kỷ niệm vô cùng long trọng, thậm chí đối với truyền thống Đại thừa, ngày này còn được coi là quan trọng hơn cả Tết mừng năm mới.
( st ; đaophatngaynay)

NAM MÔ TA BÀ GIÁO CHỦ ĐIỀU NGỰ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT🙏🙏🙏

XIN THƯỜNG NIỆM PHẬT & LẠY PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT🙏🙏🙏

TU HẠNH NGƯỜI CÂMTrong chùa, có một anh câm.  Không ai nhớ anh ta đến chùa từ bao giờ, vả lại cũng không mấy người để ý ...
01/06/2021

TU HẠNH NGƯỜI CÂM

Trong chùa, có một anh câm. Không ai nhớ anh ta đến chùa từ bao giờ, vả lại cũng không mấy người để ý đến anh ta. Anh ta lo mấy sào vườn ở sau chùa, lúc thì trồng rau, lúc thì trồng đậu, làm việc rất là siêng năng. Lúc rảnh, anh ta vào bếp giã gạo và vào những ngày sóc vọng, chùa đông khách, anh ta giúp việc dưới bếp, và rửa bát ở bờ ao cạnh bếp.

Vì anh ta câm, nên chẳng ai nói với anh và nếu có việc cần nói thì phải ra hiệu. Hết việc, tối nào anh cũng quanh quẩn ở trên chánh điện, quét dọn, lau chùi, và mỗi năm vào kỳ Kết hạ, mỗi lúc có khóa giảng thì anh ta cầm chổi đứng gần cửa phòng hội, ra vẻ đang quét nhà, nhưng thật ra là nghe giảng kinh ...

Một ngày kia, không thấy anh, vị tri sự bước vào căn phòng nhỏ xíu của anh ở góc vườn, lúc đó mới biết rằng anh câm bị đau, sốt nặng không dậy được. Vị tri sự trình Tổ và mọi người thấy Tổ vào thăm anh câm. Ngài ngồi với anh rất lâu và khi Ngài trở về phòng, nét mặt trang nghiêm của Ngài thoáng vẻ hân hoan.

Từ hôm ấy, chú tiểu ngày hai ba lần mang cháo vào cho anh câm và Tổ mỗi khi xuống thăm thì ngồi cả giờ, mọi người cho rằng anh câm có phúc, được Tổ thương và nếu có mệnh hệ nào thì được Ngài độ cho.

Vào đúng giờ Ngọ hôm đó, người ta thấy Tổ chậm rãi bước ra khỏi phòng anh câm và khi Tổ nhận thấy mọi người chắp tay vây quanh thì Tổ nói rất ngắn: “Ngài đã viên tịch rồi”.

Ai ai cũng tỏ vẻ ngạc nhiên: Tổ gọi anh câm cuốc vườn là Ngài! Tổ là một thiền sư đạo hạnh nổi tiếng không những trong vùng, mà ngay cả ở chốn kinh kỳ xa xôi nữa. Nhưng không ai dám hỏi Tổ cả.

Cho đến khi làm lễ hoả thiêu xong, bài vị của anh câm đã được đặt trên chùa, và khóa cầu siêu thường lệ chấm dứt, mọi người được nghe Tổ nói như sau:
“Thật ra, vị chấp tác làm vườn ở chùa ta là một vị tăng, không những là một vị tăng ở kiếp này, mà là từ kiếp trước. Kiếp trước, Ngài tu hành tinh tấn, nhưng Ngài vẫn tái sinh làm kiếp người, chưa lên được cõi trên vì nghiệp của Ngài còn nặng. Kiếp này, Ngài lại tu nữa, và do ta giúp đỡ, Ngài biết rằng Ngài chưa xóa được khẩu nghiệp. Vì thế Ngài phát nguyện tu tịnh khẩu nghiệp. Ngài tịnh khẩu, ai cũng tưởng là Ngài câm. Đến nay thân, khẩu, ý của Ngài đều đã thanh tịnh nên Ngài đã ngộ, vì thế ta mới nói rằng Ngài tịch diệt. Bàn thờ Ngài ở kia, có thể bỏ đi được, nhưng thôi hãy cứ để đấy, không phải là để cúng Ngài, mà chính là để nêu cái gương tu hành cho mọi người.”

Người nghe chuyện, ai ai cũng yên lặng cúi đầu, nghiền ngẫm về sự tu hành. Từ ngày đó, trong chùa, không ai bảo ai, người ta chỉ nói vừa đủ, những mong đến lúc nào đó tịnh được khẩu nghiệp, thoát khỏi sinh tử luân hồi như vị bồ-tát đóng vai anh câm làm việc sau chùa.

Xin thường niệm Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🙏🙏

St 🙏🙏🙏

XIN CHÚC MỪNG CHỦ TỊCH TẬP ĐOÀN TÔN HOA SEN. Một Doanh nhân thành đạt và khi đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp thì cũng là ...
07/14/2020

XIN CHÚC MỪNG CHỦ TỊCH TẬP ĐOÀN TÔN HOA SEN.
Một Doanh nhân thành đạt và khi đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp thì cũng là lúc Ông giác ngộ được lẽ " VÔ THƯỜNG " của vạn vật.
Chủ tịch tập đoàn Tôn Hoa Sen :
Ông LÊ PHƯỚC VŨ xuất gia tại Chùa Viên Minh ( Hà Nội ) ngày 9 tháng 7 năm 2020 ( 19.5 Canh Tý )
Chúc mừng Ông đã được đích thân Đức Đệ tam Pháp Chủ GHPG Việt Nam THƯỢNG PHỔ HẠ TUỆ chứng minh thế phát.
Đây chính là phước báu lớn nhất trong đời mà Doanh nhân Lê Phước Vũ có được.

NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ĐẠI TỪ ĐẠI BI TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT!NI TRƯỞNG: THƯỢNG ĐÀM HẠ NHÂM- Chứng minh ...
07/02/2020

NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ĐẠI TỪ ĐẠI BI TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT!
NI TRƯỞNG: THƯỢNG ĐÀM HẠ NHÂM
- Chứng minh Phân ban Ni giới Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Trụ trì Tổ đình Liên Đàm ( Chùa Linh Đường) - phường Hoàng Liệt - quận Hoàng Mai - TP. Hà Nội.
Viên tịch vào hồi 13h00, ngày 02/7/2020
(Tức ngày 12/5/ Canh Tý).

Trụ Thế 90 năm
Giới lạp :70 năm

Lễ nhập quan: 8h00', ngày 03/7/2020
(Tức ngày 13/5/ Canh Tý)

Lễ di quan: 8h00', ngày 04/7/2020
(Tức ngày 14/5/Canh Tý).

Sau lễ trà tỳ tại Đài hoá thân Hoàn Vũ Văn Điển, xá lợi của Ni Trưởng sẽ nhập bảo tháp tại chùa Liên Đàm.

Nam Mô Lâm Tế Tông, Trung Hậu Diễn phái, Liên Đàm Đường Thượng, Ma Ha Tỷ Khiêu Ni Bồ Tát Giới Đại Lão Ni Trưởng Thích Thượng Đàm Hạ Nhâm tân viên tịch.

💥 CUNG KÍNH MỪNG THƯỢNG THỌ NGÀI          ĐỨC ĐỆ TAM PHÁP CHỦ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH PH...
06/27/2020

💥 CUNG KÍNH MỪNG THƯỢNG THỌ NGÀI

ĐỨC ĐỆ TAM PHÁP CHỦ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH PHỔ TUỆ

Tròn 105 tuổi đời và 100 năm tuổi đạo.

Kính chúc Cụ Tổ: ĐẠO THỌ MIÊN TRƯỜNG _ PHÁP THỂ KHINH AN CHÚNG SANH DỊ ĐỘ _ TUỆ ĐĂNG THƯỜNG CHIẾU !!!

🙏🙏🙏

Ngài là tấm gương thiên cổ cho hậu thế noi theo, là niềm tự hào cho Phật giáo Việt Nam. Ngài toát lên phong thái cốt cách bậc trưởng thượng chốn Tùng lâm. Ngài là bảo khí của Phật giáo Việt Nam, là giường cột duy trì mạng mạch Tăng già, đưa Phật giáo Việt Nam phát triển trong lòng "Đạo pháp - Dân tộc".

Những năm gần 90 tuổi, ngài vẫn ra đồng trồng cuốc đất trồng lúa, ra vườn trồng rau tự nuôi sống bản thân mình vì sợ phiền muộn đàn na tín thí.
Ngài thường dạy :
Chưa từng dám lạm dụng một bát gạo, một đồng tiền của tín thí thập phương.

Thế giới rất kính ngưỡng về Ngài- bậc chân tu, suốt đời giản dị. Một biểu tượng cho Phật Giáo Việt Nam và thế giới.

"Suốt đời tôi chỉ mong được niệm Phật, cầu kinh, thiền định, không mong cầu danh lợi. Tôi tự thấy mình chưa có công đức gì nhiều đối với Giáo hội, nhưng các vị trong Giáo hội nước ta lại ép, đưa tôi lên ngôi Pháp chủ. Lẽ ra, ngôi vị Pháp chủ chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có đầy đủ phúc đức, trí tuệ nắm giữ. Miễn cưỡng ngồi lên ngôi cao, đó không phải là phước mà là cái họa cho tôi. Xin các vị đừng gọi tôi là Pháp chủ mà hãy cứ nhìn tôi như một lão tăng thanh bần sống trong ngôi chùa làng là tôi mãn nguyện". Trích lời Pháp Chủ.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 🙏🙏🙏

🌍 TỊNH KHÔNG PHÁP SƯ : “CHÚNG TA HỌC PHẬT NHẤT ĐỊNH  PHẢI SANH VỀ TÂY PHƯƠNG TỊNH ĐỘ, ĐỪNG MONG CẦU THIÊN ĐẠO “ Vô Sắc G...
06/23/2020

🌍 TỊNH KHÔNG PHÁP SƯ : “CHÚNG TA HỌC PHẬT NHẤT ĐỊNH PHẢI SANH VỀ TÂY PHƯƠNG TỊNH ĐỘ, ĐỪNG MONG CẦU THIÊN ĐẠO “

Vô Sắc Giới Thiên tuy khá lắm, nhưng chẳng vượt thoát tam giới, tức là chẳng vượt thoát lục đạo luân hồi.

Vô Sắc Giới Thiên tốt đẹp, trong ấy gần như là Niết Bàn. Niết Bàn là bất sanh, bất diệt, cõi trời ấy giống như Niết Bàn,
nhưng chẳng phải là Niết Bàn thật sự.

Chư thiên Sắc Giới đạt tới cảnh giới cao nhất trong Tứ Thiền Bát Định, tưởng lầm Vô Sắc Giới Thiên là Niết Bàn. Vô Sắc Giới Thiên vẫn có thọ mạng, thọ mạng dài nhất là tám vạn đại kiếp, thời gian ấy thật dài.

“Đại kiếp”: Một đại kiếp là một lần “thành, trụ, hoại, không” của thế giới này, đủ thấy thế giới này vô thường. Một lần thành - trụ - hoại - không gọi là một đại kiếp. Thành - trụ - hoại - không tám vạn lần, quý vị nghĩ xem, thời gian ấy dài lắm! Tuy dài, rốt cuộc vẫn có ngày chấm dứt, đến ngày ấy, họ đánh mất công năng Thiền Định.

Công năng Thiền Định vừa mất đi, phiền não bèn hiện tiền. Ý niệm sai lầm đầu tiên là kẻ ấy tưởng lầm [Vô Sắc Giới Thiên] là bất sanh, bất diệt; cớ sao lại có sanh diệt? [Do hiểu lầm], bèn hủy báng thánh hiền. Thánh hiền đã nói “Niết Bàn bất sanh, bất diệt”, nay kẻ ấy đã mất công năng Thiền Định, phiền não hiện hành, bèn nghĩ các vị thánh hiền lừa gạt họ, ý niệm ấy chính là đại bất kính đối với các vị thánh hiền.

Đại bất kính đối với thầy, đối với thánh hiền thì tội nghiệt ấy có cùng mức độ với tội bất hiếu với cha mẹ. Nếu kẻ nào bất hiếu với cha mẹ, không tôn trọng thánh hiền, quả báo là trong địa ngục A Tỳ.

Do đó, quý vị thấy trèo lên cao nhất, trèo đến tầng trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, té lộn nhào xuống cũng nặng nhất, rơi xuống địa ngục A Tỳ, cầu làm thân người chẳng được! Trong kinh điển, đức Phật giảng chuyện này rất nhiều, và cũng giảng rất rõ ràng.

Dụng ý nhằm đặc biệt nhắc nhở chúng ta, chúng ta mong thành Phật, chúng ta phải sanh về Tây Phương Tịnh Độ, đừng cầu thiên đạo! Đạt đến chỗ cao nhất trong thiên đạo, vẫn chẳng thể giải quyết vấn đề!

Hai mươi tám tầng trời chẳng thể giải quyết vấn đề, huống hồ Dục Giới! Người bình phàm sanh lên trời, tuyệt đại đa số đều là sanh trong Tứ Vương Thiên hoặc Đao Lợi Thiên, vì sao? Tình chấp và dục vọng chưa đoạn, khá hơn người bình phàm chúng ta một chút, nhạt bớt một chút, nhưng chưa đoạn, nên họ tiến cao hơn vô cùng khó khăn!

Trích từ: Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa
Tập 120

CÔNG ĐỨC VÀ PHƯỚC ĐỨC KHÁC NHAU CHỔ NÀO? Công đức là sự xoay nhìn lại nội tâm, dùng trí sáng suốt, thấu rõ sự thật, dứt ...
05/26/2020

CÔNG ĐỨC VÀ PHƯỚC ĐỨC KHÁC NHAU CHỔ NÀO?

Công đức là sự xoay nhìn lại nội tâm, dùng trí sáng suốt, thấu rõ sự thật, dứt trừ mê lầm phiền não.

- Công đức có thể đoạn phiền não, có thể chứng được bồ đề, còn phước đức thì không.

Phước đức là những việc làm lành thiện được làm ở bên ngoài hình tướng như bố thí, cúng dường, từ thiện, giúp ích cho mọi người…

- Phước đức không thể đoạn phiền não cũng không thể chứng bồ đề, chỉ có thể mang đến cho bạn phước báu.

“Do đó chúng ta nhất định phải phân biệt rõ ràng công đức và phước đức.”

❓ LÀM SAO TU CÔNG ĐỨC?

“Công đức không hề rời khỏi phước đức.”

- Tu phước không dính mắc chính là công đức.

- Tu phước mà dính mắc là phước đức.

Ta tu tài bố thí, hy vọng tương lai được đại phú, vậy thì liền biến thành phước đức.

✔ Nhưng nếu ta tu tài bố thí “tam luân thể không”, không có bất cứ mong cầu nào thì liền biến thành công đức.

- Khi không có bất cứ mong cầu nào, thì ở ngay trong cuộc sống thường ngày của bạn cũng không thiếu bất cứ thứ gì.

- Vì trong công đức có phước đức, nhưng trong phước đức không có công đức.

Chúng ta không luận tu phước như thế nào, thông thường nói ba loại bố thí:

“ Tài bố thí, pháp bố thí, vô uý bố thí”

Phải bố thí sạch trơn.

➖ Then chốt là tâm địa phải thanh tịnh, không dính vào tướng bố thí, không nên thường hay nghĩ đến ta có ân đức đối với người, có rất nhiều việc tốt đối với họ, không nên có ý niệm này.

“Vì khởi ý niệm này thì liền biến thành phước báu, không thể được định.”

Định là gì?

- Định là tâm thanh tịnh. Bố thí tuyệt đối không nhận báo thì tâm mới được thanh tịnh.

- Trong tâm thanh tịnh phước báu bao lớn, tận hư không biến pháp giới là chỗ chúng ta hưởng phước.

✔ Bạn bố thí chỗ này, thì không chỉ ở ngay đây hưởng phước, mà bạn đến bất cứ nơi nào, mười phương vô lượng vô biên cõi nước, bạn đều được hưởng phước.

“Vì tâm lượng của bạn rộng lớn không có chướng ngại, cho nên phước của bạn to lớn.”

Nếu chúng ta tu phước mà thường dính vào thì, chẳng hạn, tôi ở khu vực này, đã kết duyên với người khu vực này.

Tôi tu được bao nhiêu phước, tương lai phải đầu thai đến đây thì mới hưởng được phước. Còn đầu thai đi nơi khác, người ở nơi khác không có quan hệ gì với tôi, chưa kết được cái duyên này thì tôi sẽ không có phước.

“Cũng tu như nhau nhưng được phước không như nhau.”

Vậy vì sao chúng ta dại khờ không chịu mở rộng tâm lượng?

✔Trồng được chút phước nào đều biến hư không pháp giới, mọi nơi mọi chỗ đều hưởng phước. Chúng ta ở trong kinh điển đại thừa, chỗ này nhất định không thể xem thường.

P.S Tịnh Không

A DI ĐÀ PHẬT.
Hoan Nghênh Phổ Biến.

BIẾT LỖI, SÁM HỐI QUAY ĐẦU CÒN CÓ CƠ MAY ĐƯỢC CỨU.BIẾT HỐI LỖI THÌ MỚI THOÁT KHỔ. CHỚ THẤY VIỆC ÁC N...
05/23/2020

BIẾT LỖI, SÁM HỐI QUAY ĐẦU CÒN CÓ CƠ MAY ĐƯỢC CỨU.
BIẾT HỐI LỖI THÌ MỚI THOÁT KHỔ. CHỚ THẤY VIỆC ÁC NHỎ MÀ LÀM, CHỚ THẤY VIỆC THIỆN NHỎ MÀ BỎ QUA. NGƯỜI HỌC PHẬT PHẢI CỐ GẮNG GÌN GIỮ TAM NGHIỆP THÂN, KHẨU, Ý ĐỂ TRÁNH RƠI VÀO ÁC NIỆM VÌ QUẢ BÁO KHÔNG CHỪA SÓT MỘT AI. A DI ĐÀ PHẬT. _()_

Lúc đức Phật còn tại thế thường hay có nhiều vị vua chúa, đại thần đến thỉnh mời Ngài cho họ được cúng dường. Đó là vì Thế Tôn từ bi, muốn cho chúng sinh nào cũng có thể gieo trồng phúc điền.

Một hôm, đức Phật nhận lời mời của long vương A Nậu Đạt, đưa 500 vị đệ tử đến long cung cho long vương được dịp cúng dường.

Long cung của A Nậu Đạt thật là huy hoàng tráng lệ, ngay trước cung điện có một cái ao nước cũng gọi tên là ao A Nậu Đạt. Nước ao thanh tịnh trong mát, không khác gì nước tám công đức trong ao thất bảo của thế giới Cực Lạc phương tây. Người nào có nhân duyên uống được một giọt nước ao này liền có thể biết được mọi sự việc đã xảy ra trong nhiều kiếp trước của mình, và cũng có thể chứng nhập vào cảnh giới của thánh nhân.

Các vị tỳ-kheo đông đảo cùng đi thọ cúng với Như Lai hôm ấy, tuy ai cũng đã chứng được quả vị, nhưng không phải ai cũng có túc mệnh thông. Thế nên khi họ đến long cung A Nậu Đạt, uống nước ao nơi ấy rồi thì tất cả đều có khả năng biết được sự việc kiếp trước của mình.

Thọ cúng dường xong, đức Phật đứng bên bờ ao A Nậu Đạt bảo 500 vị đệ tử mỗi người hãy kể lại chuyện kiếp xưa của mình. Lúc ấy có một vị tôn giả tên gọi là La Bi Đề đứng dậy kể rằng:

– Bạch Thế Tôn! Một trong những đời trước của con ở cõi Ta Bà này, gặp lúc đức Như Lai Câu Lưu Tôn ứng hóa ở thế gian, vì tất cả chúng sinh mà tuyên thuyết đủ các pháp vi diệu. Không lâu sau, đức Như Lai Câu Lưu Tôn nhập Niết-bàn, người con Phật nào cũng vô cùng buồn thương. Rất nhiều người cư sĩ tại gia muốn báo đáp ân sâu của Như Lai liền phát tâm xây cất một ngôi bảo tháp 7 tầng với một ngôi chùa lớn để thờ phụng thánh tượng của Như Lai và cũng để cho rất đông các vị tỳ-kheo xuất gia có nơi trú ngụ. Do đó, mỗi ngày các vị cư sĩ phát đại tâm ấy đều hội họp nhau chuyên chú vào kế hoạch xây cất công trình vĩ đại này.

Lúc ấy con sống trong một thôn làng gần đó, thấy họ nhiệt liệt thành tâm trong việc xây chùa lập tháp như thế, thì trong tâm khởi lên một niệm vô minh phiền não, đã không tán thán công đức của họ mà còn ganh tị với họ nữa. Niệm ác trong tâm đã manh nha thì miệng không ngừng nói những lời ác độc, mắng họ ngu si, hủy báng công đức của họ. Vì lẽ đó nghiệp tội đã định, khổ báo đã hình thành.

Không lâu sau con qua đời, đọa xuống địa ngục, bị ngọn lửa phiền não đốt cháy cả thân thể. Con kêu khóc, cầu cứu nhưng chẳng ai thương hại, chẳng ai giải cứu cho con. Nỗi đau đớn lúc ấy thật tưởng chừng như không sao chịu nổi! Có lẽ vì sự đau đớn quá khốc liệt như thế nên con đột nhiên sinh khởi tâm tàm quý, hối hận. Nhờ một niệm thiện tâm hối cải ấy nên các khổ báo bi thảm của địa ngục đã kết thúc mau lẹ.

Tuy bỏ được cái khổ địa ngục, nhưng con phải sinh ra làm một người thấp lùn, xấu xí, ai thấy cũng ghét bỏ, xa lánh, thậm chí còn không tiếc lời chửi rủa. Con phải mang thân xấu xí như thế qua mấy kiếp mới xả bỏ được.

Rồi trong một kiếp sau đó, may mắn gặp lúc đức Như Lai Ca Diếp ra đời, nhưng tuy con đã thoát được thân người xấu xí khó coi, lại phải sinh làm thân quạ. Trong các loài chim thì quạ là giống chim thường bị người ta ghét bỏ nhất, vì tiếng kêu của nó rất khó nghe, lại còn có rất nhiều người mê tín cho rằng chỗ nào có quạ tới thì chỗ ấy sẽ có chuyện không lành xảy ra. Vì thế, hễ thấy con là người ta phỉ nhổ, rủa mắng, bay đi tới đâu con cũng bị đối xử tàn nhẫn như thế.

Tuy vậy, nhờ lúc đang chịu khổ báo trong địa ngục con đã có căn lành phát khởi một niệm hối cải, biết được lỗi lầm của mình trong quá khứ, nên mỗi ngày con đều ngừng lại ở con đường có Như Lai đi qua, bay lượn ở giữa các lùm cây, từ xa ngóng nhìn Như Lai và chúng đệ tử rất đông của Ngài. Ngài du hành hóa độ ở chỗ nào trong vườn Ba La Nại cũng có con bay theo ở phía sau nghe Phật pháp, và còn hướng dẫn cho các loài chim khác lễ bái Như Lai nữa. Với sự tinh cần đó, con nguyện cầu Như Lai từ bi cho phép con sám hối.

Không lâu sau, nương nhờ sức từ bi của Như Lai, con thoát được thân quạ, lại sinh vào loài người. Trong kiếp này con không đọa lạc nữa vì đã gặp được bậc Tôn sư Chính giác Vô thượng là đức Phật Thích-ca Mâu-ni, xuất gia học đạo, chứng quả A-la-hán.

Tôn giả La Bi Đề kể xong câu chuyện đời trước của ngài, tất cả các vị tỳ-kheo có mặt trong pháp hội đều vô cùng hoan hỉ vì đã được nghe một bài học sâu xa về nhân quả.

“Chớ thấy việc ác nhỏ mà làm, đừng thấy điều thiện nhỏ mà bỏ qua.” Người Phật tử phải luôn giữ gìn miệng lưỡi, giữ gìn tâm ý, không để rơi vào điều ác. Một lời nói thiện, một niệm tâm thiện đều có công đức không thể nghĩ bàn. Câu chuyện kiếp xưa của Tôn giả La Bi Đề thật xứng đáng là một bài học cho tất cả mọi người suy gẫm.

(Trích từ Truyện cổ Phật giáo do Diệu Hạnh Giao Trinh – Nguyễn Minh Tiến hiệu đính)

7 giấc mộng điểm hóa của tôn giả A Nan ?Một trong mười đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca là tôn giả A Nan từng có bảy giấc...
05/23/2020

7 giấc mộng điểm hóa của tôn giả A Nan ?

Một trong mười đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca là tôn giả A Nan từng có bảy giấc mộng, cũng là điềm báo về Phật giáo trong thời đại chúng ta. Bảy giấc mộng ấy được ghi chép trong cuốn “A Nan thất mộng kinh”, kể rằng…

Khi còn ở tại thành Xá Vệ, tôn giả A Nan từng có bảy giấc mộng kỳ lạ:

– Mộng thấy lửa bốc cao cuồn cuộn trên mặt nước, những cột lửa nghi ngút tận trời cao.

– Mộng thấy mặt trời, mặt trăng và các vì sao đều biến mất, để lại thế giới Ta Bà chìm trong bóng tối.

– Mộng thấy các tỳ kheo (người xuất gia) dưới hầm nước nhơ bẩn, còn cư sĩ (người tu tại gia) thì bước lên đầu họ mà thoát ra.

– Mộng thấy bầy lợn rừng đi đến đào xới cây Bồ Đề.

– Mộng thấy A Nan đội núi Tu Di trên đầu mà không thấy nặng.

– Mộng thấy voi bố mẹ bỏ lại voi con.

– Mộng thấy sư tử với bảy sợi lông trên đầu đang nằm chết trên đất. Những cánh hoa rơi trên xác sư tử, tất cả thú vật đều bỏ chạy tán loạn. Sau đó, lại thấy côn trùng bò ra từ cái xác rồi ăn thịt sư tử.

Những điềm mộng này là có ngụ ý gì? Tôn giả A Nan bèn đến hỏi Đức Phật. Bấy giờ, Đức Phật đang thuyết Pháp cho vua Ba Tư Nặc tại giảng đường Phổ Hội ở nước Xá Vệ. Thấy sắc mặt A Nan đầy ưu tư, Ngài hỏi:

– Những điềm mộng đó đều là việc xảy ra trong tương lai, cớ sao con lại buồn phiền?

Sau đó, Đức Phật giảng giải rằng:

– Này A Nan! Giấc mộng thứ nhất: ‘Khói lửa cuồn cuộn ngất trời trên mặt nước’. Đó là điềm báo rằng trong tương lai, các tăng ni sẽ trở nên đồi bại, tâm thiện dần dần kém đi mà tâm ác nghịch lại lẫy lừng. Cũng giống như biển nước biến thành biển lửa, họ sẽ giẫm đạp lẫn nhau và làm ra vẻ tao nhã để tranh giành tài vật cúng dường.

– Này A Nan! Giấc mộng thứ hai: ‘Mặt trời, mặt trăng và các vì sao đều biến mất, cõi Ta Bà chìm trong bóng tối’. Đó là điềm báo rằng sau khi Như Lai nhập niết bàn, các hàng thanh văn cũng niết bàn theo Phật, khi ấy đôi mắt của chúng sinh cũng đã tắt mất rồi.

– Này A Nan! Giấc mộng thứ ba: ‘Các tỳ kheo ở dưới hầm nước nhơ bẩn, còn cư sĩ thì bước trên đầu họ mà thoát ra’. Điều này nói lên rằng trong tương lai, các tăng ni trong chùa sẽ sinh ra tâm tật đố, ghen tị, nói xấu lẫn nhau, không tin vào nghiệp báo, coi thường giới cấm, chìm đắm trong tiện nghi vật chất, cuối cùng trở nên đối nghịch với cái Thiện và bị đọa lạc xuống địa ngục. Nhưng cũng có những người tu luyện trong xã hội đời thường mà chuyên tâm hơn các tăng ni trong chùa, họ sẽ được thăng thượng lên Thiên Đàng sau khi viên mãn.

– Này A Nan! Giấc mộng thứ tư: ‘Bầy lợn rừng đi đến húc phá cây Bồ Đề’. Đó là điềm báo rằng vào đời vị lai, các tăng ni sẽ chỉ để tâm đến sinh nhai của riêng mình, sẵn sàng bán cả tượng Phật và kinh sách chỉ vì chút lợi riêng.

– Này A Nan! Giấc mộng thứ năm: ‘Đầu đội núi Tu Di mà không hề thấy nặng’. Đó là điềm báo rằng sau khi Phật niết bàn, con phải có trách nhiệm làm người trùng tuyên lời Phật dạy cho nghìn vị La Hán, khiến nhiều người nghe mà ngộ Đạo.

– Này A Nan! Giấc mộng thứ sáu: ‘Con voi lớn bỏ rơi voi nhỏ’. Đó là điềm báo rằng vào đời vị lai có rất nhiều kẻ tà kiến phá hoại Phật Pháp, còn những người có đạo đức và phẩm hạnh thì ẩn tích không xuất hiện.

– Này A Nan! Giấc mộng thứ bảy: ‘Thấy sư tử chết, dòi bọ xuất hiện từ bên trong và ăn xác sư tử’. Điều này ngụ ý rằng bất kỳ ngoại đạo nào cũng không thể phá hoại Phật Pháp. Chỉ có các đệ tử của ta, cả những phật tử tại gia và người xuất gia mới là nguyên nhân làm huỷ hoại Pháp này

Bảy giấc mơ của tôn giả A Nan cũng chính là lời dự ngôn cho Phật giáo trong thời mạt Pháp. Có nhiều tăng ni, mang danh là ‘Phật tử’ nhưng không còn tuân theo lời dạy của Phật, cũng không còn chân chính thực tu. Họ coi thường giới luật, chạy theo danh lợi, khiến giáo pháp của Phật bị hủy hoại từ bên trong.

Phật Đà chỉ nhìn vào nhân tâm chứ không nhìn vào hình thức, khoác áo thầy tu mà chẳng chân tu thì cũng chỉ là một người bình thường mà thôi. Cũng giống như trong Lục Tổ Đàn Kinh đã viết: “Thánh nhân cầu tâm bất cầu Phật, ngu nhân cầu Phật bất cầu tâm”, nghĩa là: Bậc Thánh nhân cầu tâm chẳng cầu Phật, kẻ ngu muội chỉ cầu Phật chẳng cầu tâm…

Nam Mô Bổn sư thích ca mâu Ni Phật

Address

California City, CA

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đạo Phật Ngày Nay posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Đạo Phật Ngày Nay:

Share