Con Đường Vĩnh Phúc

Con Đường Vĩnh Phúc truyền giáo bằng kỹ thuật truyền thông

06/13/2025

Vai trò của Israel trong thời kỳ cuối cùng

Mỗi khi có xung đột trong hoặc xung quanh Israel, nhiều người coi đó là dấu hiệu của thời kỳ cuối cùng đang đến gần. Vấn đề của chúng ta là không biết lầnnày là lần cuối cùng xung đột ở Israel, hay chúng ta sẽ không nhận ra khi nào các sự kiện thực sự, có ý nghĩa tiên tri như Kinh Thánh đã mô tả sẽ xảy ra. Xung đột ở Israel không nhất thiết là dấu hiệu của thời kỳ cuối cùng.

Xung đột ở Israel đã là hiện thực bất cứ khi nào Israel tồn tại như một quốc gia. Cho dù đó là người Ai Cập, người Amalek, người Midian, người Moab, người Ammon, người Amorite, người Philistine, người Assyria, người Babylon, người Ba Tư hay người La Mã, quốc gia Israel luôn bị các nước láng giềng ngược đãi. Tại sao vậy? Theo Kinh thánh, đó là vì Chúa có một kế hoạch đặc biệt cho quốc gia Israel, và Satan muốn phá vỡ kế hoạch đó. Lòng căm thù Israel do Satan gây ra là lý do khiến các nước láng giềng của Israel luôn muốn thấy Israel bị hủy diệt. Cho dù đó là Sennacherib, vua của Assyria; Haman, viên chức của Ba Tư; Hi**er, thủ lĩnh của Đức Quốc xã; hoặc Rouhani, Tổng thống Iran, những nỗ lực nhằm hủy diệt hoàn toàn Israel sẽ luôn thất bại. Những kẻ ngược đãi Israel sẽ đến rồi đi, nhưng cuộc ngược đãi sẽ vẫn tiếp diễn cho đến khi Chúa Jesus tái lâm. Do đó, xung đột ở Israel không phải là một chỉ báo đáng tin cậy về sự xuất hiện sớm của thời kỳ cuối cùng.

Tuy nhiên, Kinh thánh có nói rằng sẽ có xung đột khủng khiếp ở Israel trong thời kỳ cuối cùng. Đó là lý do tại sao khoảng thời gian này được gọi là Đại nạn, Đại nạn và “thời kỳ hoạn nạn của Gia-cốp” (Giê-rê-mi 30:7). Sau đây là những gì Kinh thánh nói về Israel trong thời kỳ cuối cùng:

Sẽ có một cuộc hồi hương hàng loạt của người Do Thái về đất Israel (Phục truyền luật lệ ký 30:3; Ê-sai 43:6; Ê-xê-chi-ên 34:11-13; 36:24; 37:1-14).

Kẻ địch Chúa sẽ lập giao ước "hòa bình" kéo dài 7 năm với Israel (Ê-sai 28:18; Đa-ni-ên 9:27).

Đền thờ sẽ được xây dựng lại tại Jerusalem (Đa-ni-ên 9:27; Ma-thi-ơ 24:15; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3-4; Khải huyền 11:1).

Kẻ chống Chúa sẽ phá vỡ giao ước của hắn với Israel, và sự bách hại Israel trên toàn thế giới sẽ xảy ra (Daniel 9:27; 12:1, 11; Zechariah 11:16; Matthew 24:15, 21; Revelation 12:13). Israel sẽ bị xâm lược (Ezekiel chương 38-39).

Cuối cùng, Israel sẽ công nhận Chúa Jesus là Đấng Messiah của họ (Zechariah 12:10). Israel sẽ được tái sinh, phục hồi và tập hợp lại (Jeremiah 33:8; Ezekiel 11:17; Romans 11:26).

Có nhiều sự hỗn loạn ở Israel ngày nay. Israel bị ngược đãi, bị bao vây bởi kẻ thù—Syria, Lebanon, Jordan, Ả Rập Saudi, Iran, Hamas, Jihad Hồi giáo, Hezbollah, v.v. Nhưng sự thù hận và ngược đãi Israel này chỉ là một gợi ý về những gì sẽ xảy ra vào thời kỳ cuối cùng (Ma-thi-ơ 24:15-21). Vòng ngược đãi gần đây nhất bắt đầu khi Israel được tái lập thành một quốc gia vào năm 1948. Nhiều học giả về lời tiên tri trong Kinh thánh tin rằng cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel kéo dài sáu ngày vào năm 1967 là "sự khởi đầu của sự kết thúc". Những gì đang diễn ra ở Israel ngày nay có thể chỉ ra rằng sự kết thúc đã gần kề không? Có. Nó có nhất thiết có nghĩa là sự kết thúc đã gần kề không? Không. Chính Chúa Jesus đã nói rõ nhất, "Hãy coi chừng kẻo có ai lừa dối các ngươi... Các ngươi sẽ nghe nói về chiến tranh và tin đồn về chiến tranh, nhưng hãy coi chừng đừng hoảng sợ. Những điều như vậy phải xảy ra, nhưng sự kết thúc vẫn chưa đến" (Ma-thi-ơ 24:4-6).

Vai trò Iran trong thời kỳ tận thế

Có một số lời tiên tri trong Kinh thánh về thời kỳ tận thế đề cập đến Iran, được gọi là Ba Tư hoặc Elam trong Kinh thánh. Với thực tế là Iran thường xuyên xuất hiện trên báo chí như một quốc gia tìm kiếm vũ khí (có thể là hạt nhân) và liên tục đưa ra lời đe dọa chống lại Israel, những người nghiên cứu lời tiên tri trong Kinh thánh đang lưu ý. Cuộc xung đột với Israel vào tháng 6 năm 2025 chắc chắn đã đưa Iran lên hàng đầu trong các cuộc trò chuyện về lời tiên tri trong Kinh thánh.

Iran có vai trò trong thời kỳ tận thế, nhưng trước tiên, hãy cùng tìm hiểu một chút về lịch sử của Iran và khu vực lân cận, liên quan đến lịch sử Kinh thánh. Jeremiah đã tiên tri rằng Elam, một quốc gia ở phía đông Babylon, phía tây Ba Tư và phía nam Media, sẽ bị chinh phục và sau đó lại trỗi dậy nắm quyền (Jeremiah 49:34–39). Đúng như lời tiên tri đó, Babylon đã chinh phục Elam vào năm 596 trước Công nguyên. Nhưng sau đó, Ba Tư, dưới thời Cyrus Đại đế, đã nắm quyền kiểm soát khu vực đó, và người Elam và người Medes trở thành một phần của Đế chế Ba Tư. Đế chế Medo-Ba Tư lên nắm quyền và chinh phục Babylon vào năm 539 TCN, ứng nghiệm lời tiên tri của Isaiah 21:2. Điều này xảy ra trong thời của Daniel (Daniel 5); trên thực tế, Daniel sau đó đã cư trú "trong tỉnh Elam" ở Ba Tư (Daniel 8:2). Ba Tư là bối cảnh cho sách Esther và phần đầu của Nehemiah.

Các cuộc chinh phạt của Alexander Đại đế đã chấm dứt Ba Tư là một cường quốc thế giới, ứng nghiệm lời tiên tri của Daniel 8. Trong những thế kỷ tiếp theo, Ba Tư được cai trị bởi người Seleucid, người Parthia, người Sassanid, người La Mã, người Byzantine và cuối cùng, vào năm 636 sau Công nguyên, người Hồi giáo. Năm 1501, nhà nước Iran được thành lập.

Trong Tân Ước, những người đàn ông từ Iran được đề cập gián tiếp là "người Parthia, người Medes và người Elamites" có mặt tại Jerusalem vào Ngày Lễ Ngũ Tuần (Công vụ 2:9). Cả ba nhóm người này đều là người Do Thái sống ở khu vực Ba Tư cổ đại, Iran ngày nay, và họ có mặt tại Jerusalem để chứng kiến sự ra đời của nhà thờ.

Sự tham gia của Iran vào thời kỳ cuối cùng sẽ là một trong những quốc gia tham gia vào trận chiến Gog và Magog, có thể xảy ra trong nửa đầu của thời kỳ hoạn nạn. Ê-xê-chi-ên 38:5 đặc biệt đề cập đến Ba Tư là đồng minh của Magog/Nga. Các quốc gia khác tham gia vào liên minh này sẽ là Sudan, Thổ Nhĩ Kỳ, Libya và các quốc gia khác. Đội quân hùng mạnh này sẽ chống lại Israel, lúc đó sẽ là “một dân tộc hòa bình và không nghi ngờ gì” (câu 11).

Kết quả của cuộc xâm lược thời kỳ cuối này đã được dự đoán: Chúa can thiệp một cách siêu nhiên, và liên minh của Gog bị phá hủy hoàn toàn. “Trên các núi của Israel, ngươi và tất cả quân đội của ngươi và các dân tộc ở với ngươi sẽ ngã xuống. Ta sẽ phó ngươi làm thức ăn cho mọi loài chim ăn xác thối và cho các loài thú đồng” (Ê-xê-chi-ên 39:4–5). Iran, đồng minh với Nga, sẽ nghĩ rằng cuộc xâm lược Israel của họ là một chiến thắng chắc chắn, nhưng Chúa có những kế hoạch khác. Khi bảo vệ Jerusalem, Chúa sẽ gửi một thông điệp mạnh mẽ đến thế giới: “Ta sẽ cho danh thánh của ta được biết đến giữa dân Y-sơ-ra-ên của ta. Ta sẽ không để danh thánh của ta bị xúc phạm nữa, và các dân tộc sẽ biết rằng ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng Thánh trong Israel” (câu 7).

06/05/2025

Xin mời đọc một bài viết của Đăng Cao

ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ ĐỨC TIN
Đăng Cao

“Vậy, nhờ ơn đã ban cho tôi, tôi nói với mỗi người trong anh em chớ có tư-tưởng cao quá lẽ, nhưng phải có tâm-tình tầm-thường, y theo lượng đức-tin mà Đức Chúa Trời đã phú cho từng người”. (Rô-ma 12:3)

Trong bản Kinh thánh chuẩn Anh ngữ, Rô-ma 12:3 chép rằng: “Vì nhờ ân điển đã ban cho tôi, tôi nói với mỗi người trong anh em rằng đừng nghĩ về mình cao hơn mức mình đáng nghĩ, nhưng hãy suy nghĩ một cách sáng suốt, tùy theo mức đức tin mà Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi người”. Bản Kinh thánh chuẩn Mỹ mới, Bản King James và Kinh thánh chuẩn Holman Christian cũng có từ “mức đức tin”, trong khi “mức đức tin” được trình bày là “đức tin mà Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi người trong anh em” trong Bản dịch quốc tế mới và “đức tin mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta” trong Bản dịch Living New.
Ngay lập tức, có hai sự thật rõ ràng về “mức đức tin”: thứ nhất, đó là tiêu chuẩn mà chúng ta tự đánh giá đúng đắn về bản thân, và thứ hai, nó được Đức Chúa Trời ban cho. Bởi vì mỗi tín đồ nhận được mức đức tin của mình theo sự phân bổ của Đức Chúa Trời, chúng ta không được nghĩ về bản thân “cao hơn” mức chúng ta nên nghĩ.

Nhìn vào bối cảnh rộng hơn của Rô-ma 12:3, chúng ta nhận thấy có một điều khác được Chúa ban cho. Ân điển của Chúa được đề cập như một món quà cho Phao-lô trong cùng một câu, và ân điển đó được đề cập như một món quà cho tất cả các tín đồ trong câu 6: “Chúng ta có các ân tứ khác nhau, tùy theo ân điển đã ban cho mỗi người”. Vì vậy, ngay sau khi thảo luận về mức độ đức tin, Phao-lô nói về các ân tứ của Đức Thánh Linh: tiên tri, phục vụ, dạy dỗ, khích lệ, ban cho, lãnh đạo và tỏ lòng thương xót.

Nhận ra rằng mức độ đức tin của chúng ta đến từ Chúa ngăn ngừa lòng kiêu ngạo và khuyến khích “phán đoán tỉnh táo”. Mỗi người chúng ta nên nhận ra giới hạn của các ân tứ của chính mình. Đồng thời, chúng ta phải thừa nhận các ân tứ mà người khác sở hữu và mỗi tín đồ được đặt vào Đấng Christ một cách thiêng liêng như một phần quan trọng và hoạt động của Thân thể thuộc linh của Ngài (Rô-ma 12:4–8; so sánh 1 Cô-rinh-tô 12:27). Không thành viên nào nên coi mình là cao hơn người khác mà thay vào đó phải thừa nhận rằng Chúa đã đặt chúng ta vào đúng vị trí Ngài muốn với những ân tứ Ngài đã chọn cho chúng ta (1 Cô-rinh-tô 12:11).

Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi người một “mức đức tin” để sử dụng cho Ngài. “Đức tin” này là món quà mà từ đó mọi món quà khác tuôn chảy. Đức tin là món quà đầu tiên chúng ta nhận được (để được xưng công chính), và đức tin là món quà mang những món quà khác của Đức Thánh Linh vào cuộc sống của chúng ta. Khi một người được tái sinh, Đức Chúa Trời ban cho người đó những món quà như một thành viên mới trong gia đình của Đức Chúa Trời. Chúng ta nhận được những món quà theo mức mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta, và chúng ta thực hành những món quà đó theo cùng mức đức tin đó.

“Ân điển đã được ban cho mỗi người trong chúng ta theo như Đấng Christ đã phân chia” (Ê-phê-sô 4:7). Đức Chúa Trời chia cho mỗi người phần của mình. Không phải ai cũng nhận được tất cả các món quà, cũng không phải cùng một món quà được ban cho mọi người theo cùng một mức. Đức Chúa Trời tối cao của chúng ta phân phối từng món quà ân điển theo mức đức tin mà Ngài đã ban cho chúng ta.
Đức tin được Đo lường bằng Sự vâng lời

Trong lớp học, chúng ta làm bài kiểm tra, và điểm số chúng ta nhận được sẽ đánh giá mức độ thành công hay thiếu thành công của chúng ta. Chúng ta có thể sử dụng phương pháp đo lường nào để kiểm tra đức tin của mình để xem chúng ta đang ở đâu?

Một nơi tốt để bắt đầu là xem cách Đức Chúa Trời đo lường đức tin. Không có ví dụ nào tốt hơn ví dụ của Áp-ra-ham, "Cha của những người trung thành" (Rô-ma 4:11, 16). Hãy chú ý đến khoảnh khắc quyết định của ông được thể hiện trong Sáng thế ký 22:12, "Ngài phán rằng: 'Đừng tra tay vào mình đứa trẻ, và đừng làm gì nó; vì bây giờ ta biết rằng ngươi kính sợ Đức Chúa Trời, bởi vì ngươi không tiếc con trai ngươi, tức là con một ngươi, với ta'" . Đức Chúa Trời đã đo lường đức tin của Áp-ra-ham bằng sự vâng lời của ông. Như Sáng thế ký 22:18 đã ghi chú, tất cả các phước lành tiếp theo là "vì ngươi đã vâng theo tiếng Ta." Áp-ra-ham đã chứng minh đức tin của mình bằng sự vâng lời.

Đức Chúa Trời đo lường đức tin của chúng ta dựa trên những gì chúng ta hành động biểu lộ sự vâng lời của chúng ta—không phải bằng cảm xúc, cảm xúc chúng ta thể hiện hay lời nói của chúng ta. Vì vậy, giống như Đức Chúa Trời biết được chiều sâu đức tin của Áp-ra-ham qua sự vâng lời của ông, chúng ta có thể biết được chiều sâu đức tin của mình qua mức độ vâng lời của chúng ta.

Trong danh nghĩa Cơ đốc giáo, nhiều người nghĩ rằng tất cả những gì một người cần làm để được cứu rỗi là tin. Nhiều đoạn kinh thánh dường như ủng hộ ý tưởng này (ví dụ, Mác 9:23; Giăng 3:16, 36; 6:40, 47; 8:24; 11:25; 20:31; Công vụ 10:43; 13:48; 16:31; Rô-ma 1:16; 10:9; I Cô-rinh-tô 1:21). Tuy nhiên, hãy chú ý đến từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "tin" trong mỗi câu này, psiteuo (Strong's #4100). Từ này cũng xuất hiện trong I Phi-e-rơ 2:7: "Vậy nên, đối với anh em là người tin, thì Ngài là quý báu; nhưng đối với những kẻ không vâng phục, thì 'Hòn đá mà thợ xây loại bỏ đã trở thành đá góc nhà chính.'"

Bằng cách sử dụng "nhưng" trong câu này, Phi-e-rơ tạo ra sự tương phản mạnh mẽ giữa đức tin và sự không vâng phục. Ông cho chúng ta thấy rằng điều đối lập của đức tin là sự không vâng phục, ngụ ý rằng những người tin thì vâng phục, và những người không tin thì không vâng phục. Đức tin dẫn đến sự vâng phục, và sự không tin dẫn đến sự không vâng phục. Vì vậy, giống như trong trường hợp của Áp-ra-ham, sự vâng phục là phép thử mà chúng ta có thể sử dụng để đo lường đức tin của mình—niềm tin của chúng ta.

Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong sách Gia cơ : "Anh em thấy đức tin đồng hành với việc làm của Ngài không, và nhờ việc làm mà đức tin được nên trọn vẹn?" (Gia cơ 2:22). Gia cơ cho rằng làm theo những gì Đức Chúa Trời truyền lệnh—việc làm—là bằng chứng của loại đức tin đúng đắn. Đức tin không dẫn đến sự vâng phục thì không phải là đức tin trọn vẹn, điều này phù hợp với I Phi-e-rơ 2:7, câu này nói rằng những người tin Chúa thì vâng phục và những người không tin Chúa thì không vâng phục. Do đó, đức tin trong Tân Ước không chỉ là một cảm giác mà còn là sự cam kết sâu sắc với Đức Chúa Trời được chứng minh bằng sự vâng phục. Nhấn mạnh đức tin mà loại trừ kết quả bắt buộc của nó là sự vâng phục, là để lại cho đức tin một lớp vỏ rỗng không có sự sống hoặc sức mạnh cứu rỗi.

Để củng cố quan điểm rằng đức tin và sự vâng phục có liên hệ trực tiếp với nhau, hãy lưu ý từ tiếng Hy Lạp apeitheo (Strong's #544). Kinh thánh Hebrew-Greek Key Word Study Bible định nghĩa từ này là "không tin, không tin hàm ý sự không vâng phục". Để minh họa cho điều này, thư tín của Rô-ma trong Phiên bản King James cho thấy rằng, theo thuật ngữ của từ này, "sự hoài nghi" và "sự bất tuân" có thể hoán đổi cho nhau. Trong Rô-ma 2:8 và 10:21, apeitheo được dịch là "không vâng lời" và "sự bất tuân", tương ứng. Trong khi ở Rô-ma 11:31 và 15:31, cùng một từ này được dịch là "không tin" và "những người không tin", tương ứng.

Cũng thú vị khi lưu ý rằng trong Hê-bơ-rơ 3:18, King James Version dịch từ mà từ tiếng Hy Lạp này là "đối với những người không tin", nhưng New King James Version dịch là "đối với những người không vâng lời". Các học giả biên dịch viên coi các thuật ngữ "không tin" và "không vâng lời" là đồng nghĩa. Phi-e-rơ, Phao-lô và Gia-cơ cùng thấy rằng một Cơ đốc nhân thực sự không thể có một đức tin mà không có cái kia là việc làm hay sự vâng lời.

Trong khi Rô-ma 4:1-8 cho thấy sự vâng lời tự nó không mang đến sự cứu rỗi, Kinh thánh cho thấy rằng sự vâng lời là bằng chứng cho thấy chúng ta có loại đức tin đúng đắn có thể cứu rỗi. Phân tích các từ tiếng Hy Lạp cơ bản và cách sử dụng của các tác giả và biên dịch Kinh thánh giúp chúng ta hiểu rõ hơn về từ "tin". Do đó, khi chúng ta thấy nó trong Tân Ước, chúng ta nên đọc trong đầu là "tin và vâng lời". Giăng 3:16 là một ví dụ điển hình: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin [và vâng lời] Con ấy thì không bị hư mất mà được sự sống đời đời." Khi hiểu đầy đủ, lời hứa về sự sống đời đời này không dành cho những ai nghe và tin mà dành cho những người thực hiện, tức là những ai cũng vâng lời (Rô-ma 2:13; Gia-cơ 1:22).

Kính mời
05/01/2025

Kính mời

01/08/2025
01/01/2025

Phép Lạ Đêm Giáng Sinh
A Christmas Miracle

Miracle at St Matha’s – Tác giả Douglas How ghi lời kể của Bác Sĩ J.A. MacDougall – dohop dịch - Tranh Duc Binh Nguyen
Cô ta có vẻ như đã cầm chắc cái chết trước ngày Noel. Thế nhưng một chuyện kỳ lạ bắt đầu xảy ra.

Tháng chạp năm đó, cuối cùng tôi đã phải nói cho cô ta biết. Về phương diện y khoa, chúng tôi đã bị bại trận. Kết cuộc của trận chiến này đang ở trong tay Thượng Đế. Cô ta đã lắng nghe và chấp nhận điều tôi nói một cách lặng lẽ, nằm đó nhưng sự sống của cô đang bị bào mòn dần, cô ta chỉ mới 23 tuổi và là mẹ của một đứa bé một tuổi.
Tôi xin được gọi cô ta là Ý Liên. Ý Liên là một phụ nữ ngoan đạo và can đảm. Ý Liên có mái tóc nâu đỏ và có lẽ đã là cô gái có nhan sắc, nhưng lúc này thì khó có ai mà nghĩ như vậy: cô ta đã quá gần với cái chết vì bệnh lao. Và bây giờ thì chính Ý Liên đã biết mình gần kề cái chết, cô ta chỉ có một thỉnh cầu.
Ý Liên nói với tôi một cách chậm rãi. “Thưa bác sĩ, nếu tôi vẫn còn sống trong đêm Giáng Sinh, tôi muốn bác sĩ hứa với tôi là sẽ cho tôi về nhà ăn Noel.”
Tôi hơi bối rối. Tôi biết là cô ta không nên về nhà. Thùy dưới của lá phổi bên phải của cô ta có một cái khoang đầy dẫy vi trùng lao đang nảy sinh, đường kính của cái khoang này khoảng 2 phân rưỡi. Cô bị cái mà bọn bác sĩ chúng tôi gọi là “lao mở”, cô ta có thể phát tán vi trùng lao khắp mọi nơi khi ho.
Thế nhưng tôi đã hứa với Ý Liên và, thú thật, tôi hứa chỉ vì tôi đã quá chắc chắn là cô ta sẽ chết trước đêm Noel. Trong tình huống đó, có lẽ tôi chẳng có thể làm gì thêm được nữa. Thế nhưng nếu tôi không có lời hứa đó thì hôm nay tôi đã không có câu chuyện này để kể.
***
Chồng của Ý Liên đã mang mầm bệnh khi anh ta trở về nhà sau khi phục vụ cho thế chiến thứ II ở ngoại quốc. Một trường hợp nhẹ và anh ta đã không biết mình bệnh. Trước khi bệnh được phát hiện và được khám, họ làm đám cưới. Ý Liên bị lây và cơ thể không đủ miễn nhiễm để chống bệnh. Bệnh lao đã đến quá lẹ và vi trùng tích tụ ở một chỗ quá hiểm, nó đánh gục mọi bác sĩ nào cố gắng giúp cô.
Rất hiếm khi một khoang lao lại cư ngụ ở thùy dưới của phổi. Khi Ý Liên được nhập viện vào viện điều dưỡng của tỉnh, vấn đề chính mọi người dần dà thấy rõ là làm sao để xử lý cái khoang này. Giá mà nó ở thùy trên thì các bác sĩ phẩu thuật có thể làm thoracoplasty bao gồm việc lấy ra vài xương sườn ở phần trên để làm sụp thùy và phần phổi đó được tạm ngưng làm việc. Thế nhưng phẩu thuật này không thể làm được ở thùy dưới bởi vì như thế có nghĩa là phải tháo xương sườn ở phần dưới, mà xương sườn phần dưới này cần phải tồn tại để nâng đỡ cơ thể.
Các bác sĩ phải gạt bỏ việc làm thoracoplasty và thử làm một thủ thuật y khoa để gây ra chứng tràn khí ngực "giả" hay là artificial pneumothorax. Không khí được bơm qua một cái kim để tạo áp suất buộc phổi phải sụp. Mặc dù chúng tôi thử mấy lần, cách này cũng chẳng hiệu lực; mấy đợt viêm màng phổi đã làm phổi của Ý Liên dính với thành ngực, và không khí không thể lưu thông.
Cuối cùng, các bác sĩ nghĩ đến việc lấy toàn bộ lá phổi ra ngoài (khá hiếm vào thời đó) - nhưng rồi bỏ ý định bởi vì Ý Liên đã quá yếu để mà có thể chịu nổi cuộc giải phẩu, và mỗi ngày cô ta mỗi yếu thêm. Hoàn toàn không còn cách nào khác nữa để đối phó, các bác sĩ của Ý Liên miễn cưỡng xếp trường hợp của cô vào loại "không còn hy vọng" và gửi trả cô ta về bệnh viện nơi địa phương của cô.

Lúc cô về đến viện, tôi mới 30 tuổi. Tốt nghiệp trường Y năm 1942, tôi đã gia nhập binh chủng không quân, và lúc đó tôi đã được đào tạo xong để trở thành chuyên viên gây mê khi chiến tranh chấm dứt. Tôi chấp nhân nhiệm sở của tôi tại bệnh viện St Martha, nơi tôi có nhiệm vụ gây mê và đáp ứng những nhu cầu về y học cho các sinh viên y khoa tại hai trường đại học của địa phương. Tôi cũng được yêu cầu chăm nom bộ phận Lao của bịnh viện, với khoảng 40 bệnh nhân, hầu hết bị bệnh kinh niên với hy vọng quá mong manh hoặc không còn hy vọng được chữa khỏi. Đó là cái duyên mà Ý Liên trở thành bệnh nhân của tôi vào năm 1947.
Trước đó cô ta nặng 56 ký rưỡi, nhưng khi tôi gặp Ý Liên lần đầu, cô ta đã nhẹ hơn 40 kí-lô. Cô ta sốt cao, khoảng 39 độ. Cô ta rất yếu và nhìn rất bệnh hoạn. Thế nhưng cô ta vẫn cười. Tôi sẽ không quên được điều đó. Chỉ cần tử tế với Ý Liên một tí xíu thôi là cô sẽ cười.
Có lẽ điều đó đã khích lệ tôi thật nhiều. Tôi không biết. Nhưng tôi biết tôi phải cố gắng giúp Ý Liên. Tôi điện thoại cho một bác sĩ ở Nữu Ước, vị bác sĩ này đang thí nghiệm một phương pháp mới gọi là pneumoperitoneum hay tràn khí phúc mạc.
Phương pháp này gao gồm việc bơm khí vào khoang màng bụng để đẩy cơ hoành đè lên lá phổi. Nếu chúng tôi có thể gây áp lực vào thùy dưới, chúng tôi có thể đóng cửa được cái ổ lao. Nếu làm được điều này cái khoang có cơ hội để tự lành khi vách khoang phát triển cùng một lúc.
Cuộc giải phẩu đã diễn ra ngày hôm sau. Chúng tôi bơm không khí vào khoang màng bụng, và suýt tí nữa chúng tôi đã giết Ý Liên. Sự thật quá rõ ràng là lượng không khí mà cô ta có thể chịu đựng nổi chẳng giúp ích được gì hết. Các bác sĩ trong phòng đều đồng ý là chúng tôi không nên thử lần thứ hai. Khả năng của chúng tôi đã tận.
Đó là lúc mà tôi nói cho Ý Liên biết Y Học ngày nay đã chỉ đạt được đến trình độ như thế. Tôi nói cho cô ta biết Đấng Tạo Hóa của cô sẽ cho lời phán xét cuối cùng và có thể đó không là kết quả mà chúng tôi hoặc Ý Liên muốn, nhưng trong tình huống như vậy, biết đâu đó là điều tốt nhất cho bản thân cô. Ý Liên gật gù và đã xin được lời hứa đó của tôi.
***
Lạ lùng thay, Ý Liên vẫn còn sống sót trong đêm Noel, nhưng chỉ vừa đủ sống. Khoang lao vẫn phát triển không ngừng; cái chết đã quá gần kề với cô ta đến nỗi cô ta đã được làm phép lễ cuối cùng của Nhà Thờ Thiên Chúa. Thế nhưng cô ta buộc tôi phải thực hiện lời tôi đã hứa.
Với những nghi ngờ mới hơn, tôi giữ lời hứa. Tôi khuyên Ý Liên đừng ôm con và đeo khẩu trang mỗi khi muốn nói chuyện với bất cứ ai ngoại trừ chồng cô. Anh ta đã có được sự miễn nhiễm nhờ đã nhiễm bệnh trước đó.
Ý Liên trở lại bệnh viện Martha vào cuối ngày Noel, và cô ta vẫn trong tình trạng sút kém. Không ai có thể không hết sức cảm động khi nhìn cô chống chọi với bạo bệnh. Mỗi ngày tình trạng của Ý Liên tệ thêm, thế nhưng cô ta vẫn bám vững vào cuộc sống. Tình trạng này tiếp tục kéo dài và kéo từ tuần này sang tuần khác trong sự ngạc nhiên tận cùng của chúng tôi.
Cho đến cuối tháng hai, Ý Liên chỉ còn cân nặng dưới 37 kí-lô; cô ta ăn không được và thêm nhiều rắc rối mới xảy ra. Cô ta bắt đầu ói mửa - ngay cả khi trong bụng chẳng có gì hết. Tôi thật sự mù tịt. Tôi gọi một cố vấn y khoa bậc đàn anh; và ông ta cũng đầu hàng luôn. Bỗng mắt ông ta nheo lên và hỏi tôi gần như là đùa cợt, ông ta hỏi tôi có bao giờ nghĩ là Ý Liên đang ốm nghén không.
Tôi vẫn còn nhớ giây phút đó, cảm giác của tôi lúc đó. Cái ý nghĩ đó quả là lố bịch đến tột cùng. Mọi hiểu biết về y khoa của tôi đều dẫn đến một kết luận duy nhất: Ý Liên đã quá bệnh, quá yếu, cô ta không thể nào có thai được. Đơn giản là cơ thể của cô ta không thể làm nổi việc đó. Dù sao đi nữa, tôi yêu cầu một cái test, thử thai cho cô ta. Và tôi vô cùng ngạc nhiên vì kết quả là dương tính. Ý Liên chỉ bấp bênh giữa vành đai ngoài cùng của cuộc sống thế mà trong cô nay lại có một mạng sống nữa. Một điều gần như không thể tin được lại là sự thật.
Chúng tôi có đầy đủ thẩm quyền về y khoa và pháp lý để hủy cái thai đó; cái thai đang làm nguy hiểm một mạng sống đã ở trong tình trạng bị hỏng. Nhưng chúng tôi đã không làm việc đó. Ý Liên và chồng cô chống lại việc phá thai. Chúng tôi, các bác sĩ ở bệnh viện St Martha cũng chống, không chỉ vì chúng tôi theo đạo Thiên Chúa, nhưng vì chúng tôi biết chắc chắn là thủ thuật đó sẽ kết liễu Ý Liên. Bên cạnh đó, cô ta đã quá xa sự sống, chúng tôi chắc chắn cơ thể cô thế nào cũng sẽ tự loại trừ thai nhi.
Cô ta đã vật lộn với bệnh, với cái thai trong nhiều tuần, và không bao giờ chúng tôi có một chút nghi ngờ gì về sự vĩnh viễn ra đi của Ý Liên, cô ta đang hấp hối. Thế nhưng cô ta vẫn bám víu vào sự sống. Và cô ta vẫn giữ được đứa trẻ trong bụng cô ta. Và khoảng cuối tháng 6 năm 1948, một chuyện không thể tin được đã xảy ra. Cô ta bắt đầu giảm sốt. Lần đầu tiên chúng tôi nhận thấy được tình trạng của Ý Liên có đỡ hơn, và chiều hướng đó đã tiếp tục. Cô ta đã bắt đầu ăn và lên ký. Một tấm phim quang tuyến X của Ý Liên cho thấy cái khoang lao đã ngừng phát triển. Không bao lâu sau, một tấm phim X quang thứ hai cho chúng tôi biết tại sao. Cơ hoành đang đẩy lên thùy dưới của lá phổi bệnh hoạn của Ý Liên để tạo chỗ cho em bé mà cô ta đang mang thai. Thiên nhiên đã làm đúng cái việc mà chúng tôi làm không được. Các vách của cái hố chết người đó đang bị ép lại. Đứa trẻ đang cứu mẹ nó.
Đứa trẻ đã thật sự cứu Ý Liên. Đến lúc đứa bé được sinh ra, một em bé bình thường và khỏe mạnh, cái khoang lao đã bị đóng kín. Người mẹ đã khỏe một cách rõ rệt, rõ đến nỗi chúng tôi cho phép cô về nhà luôn trong vòng ít tháng. Nụ cười của Ý Liên chưa bao giờ sáng như vậy.
***
Bạn nói đó là ý Trời; bạn nói đó là tình người; hay bạn cho đó là sự mầu nhiệm của tình mẫu tử, dựa vào chính khả năng của mình để chiến đấu thêm nữa bởi vì người mẹ có thêm lý do để mà chiến đấu thêm; bạn có thể gọi bất cứ ngôn từ nào bạn thích. Việc đó đã thật sự xảy ra. Và tôi vẫn không hiểu thấu được ý nghĩa của sức mạnh bí mật đó.
Tôi cũng nhớ, trong sự vui sướng, những thiệp giáng sinh Ý Liên đã gửi cho tôi trong nhiều năm sau đó. Các thiệp này rất bình thường, với những lời chúc đã in sẵn và tên của Ý Liên. Thế nhưng đối với tôi, tất cả những tấm thiệp này là những lâu đài tạo ra bởi phép lạ.

Copyright 1972 by Douglas How. dohop
Phỏng dịch, 25/6/2010
* Đây là chuyện khá xưa. Ngày nay những phụ nữ mang thai sẽ không nên chụp hình quang tuyến X. Tất cả những phụ nữ dù chỉ có một tí xíu nghi ngờ là mình mang thai nên thông báo cho nhân viên y tế, bác sĩ biết trước khi chụp quang tuyến x hay xin toa thuốc.

KH 22: 6 “Bấy giờ thiên sứ nói với tôi rằng: Những lời nầy là trung tín và chân thật, Chúa là Đức Chúa Trời của thần các...
08/30/2024

KH 22: 6 “Bấy giờ thiên sứ nói với tôi rằng: Những lời nầy là trung tín và chân thật, Chúa là Đức Chúa Trời của thần các đấng tiên tri, đã sai thiên sứ mình đặng tỏ cùng các tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy ra”.

Những lời của thiên sứ củng cố một lẽ thật quan trọng: Mọi điều Giăng đã thấy trong Khải Huyền sẽ ứng nghiệm. Những gì mà sứ đồ Giăng được soi dẫn đã viết không hề huyền bí; Ngày Tận Thế không phải là bản ghi lại những giấc mơ kỳ quái của ông hay là kết quả của trí tưởng tượng quá tích cực. Nó không phải là một câu chuyện ngụ ngôn mà từ đó người đọc có thể rút ra được những ý nghĩa ẩn giấu trong cách pha chế của chính họ. Đó là sự mô tả chính xác về các sự kiện và những người sắp đến.

Tính chính xác, chi tiết và độ xác thật mà những lời tiên tri trước đó đã được ứng nghiệm đã trở thành khuôn mẫu cho những lời tiên tri chưa được ứng nghiệm. Lời tiên tri của Đức Chúa Trời thật hoàn hảo. Ngài báo trước Y-sơ-ra-ên sẽ bị lưu đày và dân tộc này đã bị như vậy (Lê-vi Ký 26:33-39). Ngài nói đến sự hủy diệt của Ba-by-lôn (Ê-sai 13:1-14:27; Giê-rê-mi 50-51) và thành Ty-rơ (Ê-sai 23:1 tt.), và những thành phố đó đều bị phá hủy. Ngài tiên đoán rằng Đấng Mê-si sẽ sinh ra ở Bết-lê-hem (Mi-chê 5:2), qua một trinh nữ (Ê-sai 7:14), và bị những kẻ tội lỗi giết chết (Ê-sai 53:7-10) và đúng như vậy. Do đó, khi Đức Chúa Trời nói đến các sự kiện trong tương lai, chẳng hạn như sự cất lên của hội thánh, sự trỗi dậy của Anti-christ, con dấu, kèn và bát phán xét, trận chiến Ha-ma-ghê-đôn, sự trở lại của Chúa Jesus Christ và vương quốc ngàn năm trên đất của Ngài, những điều đó sẽ chắc chắn sẽ xảy ra [Ê-sai. 46:9-11]. (trích từ: John MacArthur, Revelation 12-22 : The MacArthur New Testament Commentary (Chicago, IL: Moody Press, 2000), Rev. 22:6).

Đó là nội dung của trang bìa sau của quyển KHẢI HUYỀN IV - CHƯƠNG 16-22 của tác giả Trần Nhựt Thăng với tổng cộng 2591 trang. Độc giả nào đã có các quyển Khải Huyền I, II và III xin liên lạc với tác giả qua email [email protected] để nhận thêm quyển Khải Huyền IV để có trọn bộ.

08/21/2024

CÁC LOẠI THUỐC KHÔNG CÓ BÁN TRONG NHÀ THUỐC 💊

1. Cầu nguyện là thuốc.
2. Tập thể dục là thuốc.
3. Một chế độ ăn uống cân bằng là thuốc
4. Tiếng cười là thuốc.
5. Thái độ tích cực là thuốc
6. Giấc ngủ là thuốc.
7. Thiền là thuốc.
8. Tình yêu là thuốc.
9. Bình an là thuốc
10. Lòng biết ơn là thuốc.
11. Từ bỏ oán giận, thù hận là thuốc.
13. Đọc sách và nuôi dưỡng tâm hồn bằng tâm linh là thuốc.
14. Nói chuyện với những người thân yêu là thuốc
15. Suy nghĩ tích cực và suy nghĩ đúng đắn là thuốc.
16. Du ngoạn và đi bộ trong tự nhiên là thuốc.
17. Tha thứ cho bản thân và người khác là thuốc.
18. Tôn trọng bản thân là thuốc.
19. Tử tế, thiện lương là thuốc
20. Từ bỏ lòng tham, sự vô minh và những dục vọng thấp hèn là thuốc.

Chúc tất cả luôn đủ đầy những liều thuốc tốt trong nhà ! 😜

07/17/2024

BỎ PHIẾU CHO AI?

KHỔNG TỬ VÀ CHÚNG TA
Khổng tử ngắm cảnh tượng trời đất mà đạt lẽ biến hóa. Chúng ta nhìn vũ trụ mà phác giác sự hiện diện của Ðức Chúa Trời.
Kinh Thánh ghi rằng khi tạo ra con người Ðức Chúa Trời hà sinh khí nên loài người trở nên một loài sinh linh và Khổng tử tin rằng người ta sinh ra đã thụ bẩm các khí của trời đất.
Kinh Thánh dạy rằng vì loài người đã phạm tội nên xa cách Ðức Chúa Trời, ngoảnh mặt đi mà làm lắm điều bất chính. Khổng tử tin rằng người với trời có thể tương cảm với nhau nhưng vì để lòng tư dục và lý trí mà tính tóan điều hơn thiệt để rồi tâm thần rối loạn , ám muội mà xa cách lẽ thái hòa của trời đất.
Khổng tử không đưa ra biện pháp nào để giúp con người tương cảm trở lại với đất trời. Còn Kinh Thánh đưa ra một giải pháp, một chương trình cứu nhân loại, giúp loài người trở lại sống hòa hợp với Ðức Chúa Trời.
Chúng ta không cần cái khôn của Khổng tử để biết sự vận hành của Tạo Hóa vì Kinh Thánh có viết rằng: “điều chi có thể biết được về Ðức Chúa Trời thì đã bày ra chúng ta từ buổi sáng thế, sờ sờ trước mắt với những sự mầu nhiệm của muôn loài và vũ trụ” . Vậy mà nhiều người nhìn vào sự vận hành mầu nhiệm của vũ trụ mà mắt vẫn không thấy , trí vẫn không hiểu và lòng dạ vẫn cứng trước chân lý đã phơi bày. Hơn nữa, khốn thay cho những người biết danh Ngài nhưng không làm sáng danh Ngài và không tạ ơn Ngài nữa. Ðó là những kẻ hành động, suy nghỉ theo ý riêng của mình và lầm lẫn ý mình là ý Trời.
Khổng tử ngắm cảnh tượng trời đất mà đạt lẽ biến hóa. Chúng ta nhìn vũ trụ mà phác giác sự hiện diện của Ðức Chúa Trời.
Kinh Thánh ghi rằng khi tạo ra con người Ðức Chúa Trời hà sinh khí nên loài người trở nên một loài sinh linh và Khổng tử tin rằng người ta sinh ra đã thụ bẩm các khí của trời đất.
Kinh Thánh dạy rằng vì loài người đã phạm tội nên xa cách Ðức Chúa Trời, ngoãnh mặt đi mà làm lắm điều bất chính. Khổng tử tin rằng người với trời có thể tương cảm với nhau nhưng vì để lòng tư dục và lý trí mà tính tóan điều hơn thiệt để rồi tâm thần rối loạn , ám muội mà xa cách lẽ thái hòa của trời đất.
Khổng tử không đưa ra biện pháp nào để giúp con người tương cảm trở lại với đất trời. Còn Kinh Thánh đưa ra một giải pháp, một chương trình cứu nhân loại, giúp loài người trở lại sống hòa hợp với Ðức Chúa Trời.
Chúng ta không cần cái khôn của Khổng tử để biết sự vận hành của Tạo Hóa vì Kinh Thánh có viết rằng: “điều chi có thể biết được về Ðức Chúa Trời thì đã bày ra chúng ta từ buổi sáng thế, sờ sờ trước mắt với những sự mầu nhiệm của muôn loài và vũ trụ” . Vậy mà nhiều người nhìn vào sự vận hành mầu nhiệm của vũ trụ mà mắt vẫn không thấy , trí vẫn không hiểu và lòng dạ vẫn cứng trước chân lý đã phơi bày. Hơn nữa, khốn thay cho những người biết danh Ngài nhưng không làm sáng danh Ngài và không tạ ơn Ngài nữa. Ðó là những kẻ hành động, suy nghỉ theo ý riêng của mình và lầm lẫn ý mình là ý Trời.
MẠNH TỬ : Ý DÂN LÀ Ý TRỜI
Quan niệm người cai trị phải theo ý của dân không phải là một quan niệm mới mẻ hay tân kỳ. “Dân vi quý xã tắc thứ chi quân vi khinh” là một câu nói của Mạnh tử học trò của Khổng tử đã có từ 300 trước công nguyên.
Dân là trọng. Ý dân là ý Trời.
Khái niệm Ý dân là ý Trời của Mạnh Tử nói lên vai trò quan trọng của quần chúng trong chánh sách cai trị của nhà cầm quyền. Ông muốn nói sức mạnh quần chúng mà người cai trị phải đặt biệt quan tâm. Ông muốn nói đến ảnh hưởng của dư luận quần chúng và nếu Mạnh tử sống trong thế giới ngày nay, ông ta sẽ chú trọng đến vai trò của truyền thông vì chính những cơ quan truyền thông sẽ hướng dẫn dư luận của quần chúng.
QUẢN DI NG Ô : Ý DÂN HỢP Ý TRỜI
Trước Khổng tử gần 300 năm, tức vào khoảng năm 721 trước công nguyện, Quản Di Ngô, tể tướng nước Tề đã dùng đường lối chính trị hợp với nhân tâm. Chủ thuyết của ông được người đời sau đúc kết trong những thiên thuộc về kinh ngôn.
Ông nói: “Nếu hợp với đạo Trời, việc làm tự nhiên mà thành tựu. Ông còn nói thêm: “ Vì dân ghét sự lo lắng , ta phải làm cho dân thảnh thơi. Vì dân ghét sự nghèo nàn, ta phải làm cho dân được phú quý. Vì dân ghét sự nguy hại, ta phải làm cho dân được yên ổn

Ông cho ý dân hợp với đạo trời. Chế độ chính trị dân chủ ngày nay đồng ý với khái niệm này của Quản Di Ngô.
Ý DÂN TRÁI Ý TRỜI
Các cuộc bầu cử là cơ hội để dân bày tỏ ý kiến của mình. Dân chọn chính sách đường lối và chọn người thi hành chính sách đó. Tuy nhiên, lịch sử cho thấy nhiều lần dân chọn sai chính sách và chọn sai người lãnh đạo. Vậy thì ý dân chưa hẳn là ý Trời mà còn trái với ý Trời. Ý kiến của đa số lắm khi không phản ảnh được lẽ thật. Ðám đông nhất thời bị xúc động, bị ảnh hưởng, bị lôi cuốn bởi một lời nói, một hình bóng, một cơ quan tuyên truyền, một chương trình vận động tốt nào đó và đã quyết định xa rời chân lý.
1. Cách nay hơn 3000 năm, năm 1050 trước Tây lịch. Dân Do Thái hợp lại chống nhà tiên tri Sa-mu-ên và đồng thời quyết định nghịch lại ý của Ðức Chúa Trời. Họ đòi phải có một vị vua cai trị họ thay vì để Ðức Chúa Trời trực tiếp qua các quan xét. Từ đó dân tộc này phải trải qua bao chiến tranh, bắt bớ tù đày, các nước chung quanh thay nhau cai trị và cuối cùng bị tản lạc khắp năm châu.
2. Rồi cách nay 2000 năm, Chúa Jesus bị các thầy tế lễ bắt đem đến quan Tổng đốc Phi lát để xử tội. Quan Tổng đốc nhóm họp các thầy tế lễ, các quan binh đề hình và dân chúng lại mà nói rằng: “ Các người đã đem nộp người này cho ta về tội xui dân làm loạn. Nhưng ta đã tra hỏi và thấy người không mắc tội nào cả. Vua Hê rốt của các người cũng không thấy người này phạm tội nào cả. Vậy người này không làm điều gì đáng chết nên ta chỉ đánh đòn rồi tha đi. Dân chúng bèn đồng thanh kêu lên rằng: “ hãy giết người này đi.” Tổng đốc sau cùng đã theo ý dân mà đóng đinh Chúa Jesus trên cây thập tự.
Khi nói Ý dân là Ý trời, ông Mạnh tử đặt vấn đề hữu hiệu của một chánh sách và sự thành công trong nghệ thuật lãnh đạo. Ông không đặt trọng tâm vào vấn đề đạo đức, vấn đề chân lý hay sự ích lợi của quốc gia .
BẦU CỬ : MỘT QUÁI VẬT
Một quái vật tiến vào làng. Nó giết hại mọi dân trong làng. Nó phá hũy tất cả các nhà cửa, đồ đạc kể cả nhà của bác học Frankenstein. Một người bạn của ông từ xa đến, rất ngạc nhiên trước cảnh tượng rùng rợn này. Ông hỏi nhà bác học Frankenstein:
- Thưa nhà bác học, chuyện gì đã xảy ra?
- Một quái vật, một quái vật ! nhà bác học đáp.
- Ông nói cái gì?
- Con quái vật đã tác hại . Thật khủng khiếp. Nó giết mọi người, Nó phá hủy mọi thứ.
- Con quái vật ? Nó từ đâu tới ?
Một phút im lặng.
- Thưa bác học, con quái vật từ đâu tới đây vậy?
- Tôi đã chế ra nó. Nó do tôi tạo ra. Nhà bác học Frankenstein lẩm bẩm nói một mình.

Thưa quý vị, nếu chúng ta không thấy bài học qua câu chuyện này, chúng ta hãy nhìn xã hội băng hoại ngày nay và đừng đổ thừa trách nhiệm cho người khác. Trách nhiệm đó thuộc về chúng ta. Nó thuộc về các Hội Thánh. Chúng ta đã không vâng theo những chỉ thị của Chúa nên quốc gia này đi đến tình trạng tồi tệ như ngày nay.
Tuy chúng ta không trực tiếp chế ra con quái vật nhưng chúng ta đã để cho nó tự do lớn lên và có quyền lực. Với quyền lực của chính quyền, của quốc hội, của các tòa án, của các trường học, của các cơ quan truyền thông, cơ đốc giáo đã thất bại , đã không làm trọn trách nhiệm của mình. Các định chế này đã thành những quái vật. Chúng ta đã để những phước hạnh chui qua kẻ tay và đánh mất phần ân điển mà Chúa dành cho quốc gia này.
2012: CHÚA ĐỨNG VỀ PHÍA NÀO ?
Trong kỳ bầu cử Tổng thống năm 2024, câu hỏi cho các cơ đốc nhân là Chúa đứng về phía nào ? Ông Biden hay ông Trump ?
Tôi mượn một câu nói trong Kinh Thánh để trả lời câu hỏi này.
Trong sách Giô-suê đoạn 5:13-14 :
“13 Xảy khi Giô-suê ở gần Giê-ri-cô, ngước mắt lên mà nhìn, bèn thấy một người đứng cầm gươm trần đối diện cùng mình. Giô-suê đi lại người và nói rằng: Ngươi là người của chúng ta hay là người của kẻ thù nghịch chúng ta? 14 Người đáp: không, bây giờ ta đến làm tướng đạo binh của Đức Giê-hô-va. Giô-suê bèn sấp mặt xuống đất, lạy, và hỏi rằng: Chúa truyền cho tôi tớ Chúa điều gì?
Chúng ta biết sau 40 năm lang thang trong đồng vắng, Giô-suê và dân quân Do Thái tiến vào vùng đất hứa, bước qua sông Giô-đanh và chướng ngại đầu tiên trên đường tiến quân là thành Giê-ri-cô. Họ gặp một người cầm gươm đứng đối diện. Giô-suê hỏi : ông là người phe nào. Phe ta hay phe thù nghịch ta. Chúng ta hiểu người cầm gươm đó là Đức Chúa Trời và cuộc đối thoại này cũng xảy ra trong thời chúng ta khi chúng ta hỏi : Chúa đứng về phía đảng Cộng Hoà hay đảng Dân chủ.
Chúa trả lời : Không, Ta là chỉ huy trưởng đạo quân của Đức Chúa Trời. Ta là Tư lệnh Tối cao của các trận chiến ở thế gian. Các ngươi phải theo lệnh của ta, Ta không chọn phe nào mà các phe phải chọn theo ta.
Do đó câu hỏi của chúng ta trong cuộc bầu cử không phải là Chúa đứng về đảng của mình hay không mà là chúng ta có đứng cùng phía với Chúa không.
TRẢ LỜI CỦA LINCOLN
Năm 1863, trong cuộc nội chiến Nam Bắc của Hoa kỳ, người ta hỏi ông Abraham Lincoln rằng ông có tin rằng Chúa đứng về phía ông không và ông trả lời rằng : “ Tôi biết Chúa luôn luôn đứng về lẽ phải, Tôi lo lắng và luôn luôn cầu nguyện cho tôi và xứ sở này đứng cùng phía với Đức Chúa Trời”
Việc của chúng ta là tìm kiếm những nguyên tắc trong Kinh Thánh để từ đó chúng ta rút ra những hướng dẫn để chúng ta chọn lựa người đại diện xứng đáng. Trong thời gian Chúa Jesus đến thế gian, đầu thế kỷ thứ nhất, ý niệm về dân chủ chưa thành hình một cách rõ rệt, dân chúng chưa có quyền chọn lựa người cầm quyền nhưng chúng ta tin rằng lời Chúa trong Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta những tiêu chuẩn để chọn người. Trong Công vụ đoạn 6 có kể câu chuyện các sứ đồ để các tín hữu chọn bảy người để làm công tác xã hội là một hình thức bầu cử.
HAI ĐẢNG NHƯ HAI LOẠI ÁO.
Hai đảng tại Hoa kỳ như hai chiếc áo. Các nhà tư bản, các chính trị gia dùng nó để che mình. Khi cần mặc chiếc áo màu xanh thì họ tìm chiếc áo xanh. Khi cần áo màu đỏ thì mặc áo đỏ.
Không ai để ý đến ý muốn của Ðức Chúa Trời.
Ngài muốn chúng ta “làm điều lành để ngăn miệng kẻ ngu muội, dại dột” ( I Phierơ 2:15).
Ngài muốn chúng ta nên thánh tức là tránh sự ô-uế, giữ thân mình cho sạch, không tình dục luông tuồng, luôn vui mừng, cầu nguyện không thôi và biết tạ ơn Ðức Chúa Tròi.
CHỖ ĐỨNG CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
Người Cơ đốc biết cuộc sống này là tạm bợ, chúng ta là những khách lữ hành, tạm ở đây một thời gian rồi trở về nhà cha của mình. Nhưng cuộc bầu cử rất quan trọng đối với cuộc sống trên thế gian của chúng ta, nó là cơ hội để chúng ta bày tỏ ý muốn của Đức Chúa Trời. Chúng ta không muốn tiếp tay hay bỏ mặc cho con quái vật lớn lên và tác hại xứ sở này. Nó quan trọng vì nó liên hệ đến vận mạng của nước Uraine , Afganista, Đài loan và những quốc gia đồng minh cũng như kẻ thù của Hoa kỳ. Chúng ta không thể nhìn nó như một kẻ bàng quan.
Trong sách Phúc âm Giăng 15:19 :
“ Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi”.

Cũng như trong Giăng 17:14, Chúa Jesus đã cầu nguyện :
“ Con đã truyền lời Cha cho họ, và thế gian ghen ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian vậy”.

Như vậy, qua hai câu kinh văn trên, Chúa xác nhận, ngườii Cơ đốc không thuộc về thế gian Và câu hỏi là Cơ đốc nhân có phải tham gia vào những sinh hoạt chính trị của thế gian không?

GIẢI THÍCH CỦA WILLIAM BARCLAY

Theo hoc giả William Barclay thì theo sứ đồ Giăng, có hai thực thể : Hội Thánh và thế gian như hai màu : đen và trắng. Giữa hai màu đó, không có pha trộn, giữa hai thực thể đó không có sự tương thông, không có chuyện đi nước đôi, không có thỏa hiệp. Một người hoặc thuộc thế gian hoặc thuộc vê Chúa Jesus Cứu Thế.

Điều chúng ta nên nhớ là trong đoạn kinh văn này, khi nói “thế gian” sứ đồ Giăng ám chỉ một tổ chức xã hội của con người không có Đức Chúa Trời và chống nghịch lại Đức Chúa Trời. Thật ra , trong đoạn kinh văn này, Chúa Jesus cho biết một cơ đốc nhân không thuộc về thế gian nhưng vì còn sống ở thế gian nên Cơ đốc nhân đó phải cẩn thận, đừng lẩn lộn để không phải khó xử khi gặp cảnh ngộ có mâu thuẩn giữa thế gian và thiên đàng.

Mặt khác, Chúa Jesus dạy chúng ta những bổn phận xử thế với thế gian.

CÂU CHUYỆN : TRẢ CHO SÊ SA
Trong sách Phúc âm Ma-thi-ơ có một câu chuyện về các lãnh đạo tôn giáo Do Thái hỏi Chúa Jesus có nên đóng thuế hay không. Thời đó, nước Do Thái đang bị La-mã đô hộ và La-mã bốc lột dân Do Thái qua hệ thống thuế má. Chính quyền La-mã đặt ra ba loại thuế: thuế điền thổ, thuế lợi tức và thuế thân. Họ tổ chức để chính người Do Thái đánh thuế người Do Thái và trao tiền thuế đó cho chính quyền đô hộ.. Người thu thuế, đấu thầu với chính quyền La-mã rồi trực tiếp tính thuế với dân chúng. Người thu thuế muốn có lời nhiều phải đánh thuế cao và thu thuế rất gắt gao đến độ tàn nhẫn. Do đó, vào thời Chúa Jesus, người thu thuế bị dân chúng ghét và khinh khi như phường đĩ điếm. Các người lãnh đạo tôn giáo thấy cơ hội để gài Chúa Jesus vào thế khó xử . Nếu trả lời là nên đóng thuế thì sẽ bị dân chúng phản đối vì dân chúng không ưa và không muốn đóng thuế vì đối với người Do Thái , Đức Chúa Trời là vua duy nhất nên đóng thuế cho bất cứ vị vua nào khác đều có nghĩa là nhìn nhận vương quyền của vua ấy như thế là xuc phạm Đức Chúa Trời. Còn nếu trả lời là không nên đóng thuế thì vi phạm luật lệ của nhà cầm quyền và xúi dân chống chính quyền. Xin mời quý vị nghe phản ứng của Chúa Jesus ghi trong sách Phúc âm Ma-thi-ơ 22: 18-22
15 18 Đức Chúa Jêsus biết ý xấu của họ, bèn đáp rằng: Hỡi kẻ giả hình, sao các ngươi thử ta? 19 Hãy đưa cho ta xem đồng tiền nộp thuế. Họ đưa cho Ngài một đơ-ni-ê. 20 Ngài bèn phán rằng: Hình và hiệu nầy của ai? 21 Họ trả lời rằng: Của Sê-sa. Ngài bèn phán rằng: Vậy, hãy trả cho Sê-sa vật gì của Sê-sa; và trả cho Đức Chúa Trời vật gì của Đức Chúa Trời. 22 Họ nghe lời ấy, đều bợ ngợ, liền bỏ Ngài mà đi.
HAI TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
Ở đây, Chúa Jesus phân rõ hai trách nhiệm, hai bổn phận của một Cơ đốc nhân. Trách nhiệm của một công dân với với chính quyền và trách nhiệm của một con dân Chúa đối với thiên quốc.
Người dân được chính quyền bảo vệ an ninh, an ổn cung cấp những tiện ích như đường sá, điện nước , giáo dục y tế, lo kẻ già yếu. Người dân mang nợ đối với quốc gia mình đang ở. Người Cơ đốc có trách nhiệm, bổn phận với quốc gia song song với Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên, khi người tín đồ tin rằng một điều nào đó ngược lại ý của Đức Chúa Trời thì họ sẽ bất tuân , không nhúng tay vào.
Đây là chân lý vĩnh viễn mà Chúa đưa ra: một Cơ đốc nhân chân thật phải là một công dân tốt của đất nước. Nếu người đó không làm tròn bổn phận đối với thiên quốc thì sẽ không thể nào là công dân tốt của quốc gia và ngược lại. nếu người đó không làm tròn bổn phận với tổ quốc thì sẽ không thể nào là một công dân tốt của thiên quốc được.
Ho phải : Kính sợ Đức Chúa Trời và tôn trọng vua” I Phierơ 2:17.
TRÁCH NHIỆM BẦU CỬ
Một trách nhiệm quan trong trong lãnh vực “trả cho Sê-sa” là tham gia vào sinh hoạt chính trị của quốc gia. Tức là bầu cử và ứng cử.
Nếu trước kia, Đức Chúa Trời phán xét và trừng trị những thành phố hay quốc gia phạm tội ác thì ngày nay chúng ta sẽ trách nhiệm phần nào về tội lỗi tại thành phố hay quốc gia mà chúng ta đang cư ngụ bởi vì thành phần lãnh đạo thành phố hay quốc gia đó do chúng ta chọn lựa.
Nếu chúng ta chọn một đại diện của thành phố hay của quốc gia là người ủng hộ tự do phá thai, tự do đồng tình luyến ái, ngăn cấm chưng bày 10 điều răn của Đức Chúa Trời, cấm cầu nguyện nhân danh Chúa Jesus tại nơi công cộng, chủ trương bỏ “In God we trust” thì một ngày nào tội ác lan tràn, đạo đức suy đồi và cơn giận của Đức Chúa Trời sẽ giáng trên chúng ta là người trách nhiệm gián tiếp qua hành vi chọn người đại diện.
CƠ ĐỐC NHÂN VÀ CHÍNH TRỊ
Có người chủ trương Cơ đốc nhân không nên dính vào việc lãnh đạo đất nước vì Cơ đốc nhân chân chính không thể nào có đủ bản lãnh chính trị, nghĩa là phải mưu kế, lừa đảo, gạt gẫm để đối phó hay đương đầu với mưu chước toàn cầu. Lời nhận định này như là một điệp khúc nhắc lại vào những năm có bầu cử Tổng thống và những ứng cử viên có quá khứ gắn liền với tôn giáo đều không được dân chọn vì dân chúng cho rằng họ không đủ bản lãnh để đương đầu với tình hình thế giới đầy mưu mô xảo huyệt.
JIMMY CARTER
Jimmy Carter là một trường hợp điển hình. Tổng thống Carter đã tỏ ra lúng túng khi Iran xâm nhập toà Đại sứ Hoa kỳ, bắt giữ toàn bộ nhân viên trong toà Đại sứ trong 400 ngày mà không có hành động nào giải quyết sự khủng hoảng này. Trong khi đó, ông Reagan chỉ tuyên bố trong lúc vận động tranh cử rằng khi ông nhậm chức Tổng Thống, chỉ cần 48 giờ ông sẽ giải quyết vấn đề này. Và Iran đã thả các con tin khi Reagan vừa đắc cử mà chưa nhậm chức Tổng thống.
Thật ra các nhận xét đó chỉ phiếm diện, bề ngoài. Khi Reagan vừa đắc cử, phân lời ngân hàng đang là 24% đã tự động hạ giảm xuống 12% rồi 10% trong lúc ông Carter vẫn còn là Tổng Thống và ông Reagan chưa nhận chức. Ông Reagan chưa có đưa ra biện pháp nào cả về tài chánh cũng như về kinh tế . Thế mà ngân hàng tự động giảm phân lời, giá cả thị trường chứng khoán bỗng phấn khởi và tăng lên vùn vụt. Như vậy đằng sau các biến cố này là vai trò của Tư bản, của tài phiệt. Họ nắm tài chánh, họ nắm cơ quan truyền thông, họ hướng dẫn dư luận và muốn đưa người lãnh đạo nào bảo vệ quyền lợi của họ.
Nếu chúng ta để lời Chúa hướng dẫn thì chúng ta quyết định theo ý của Chúa. Nếu chúng ta để cơ quan truyền thông hướng dẫn, chúng ta quyết định theo ý của tư bản. Nếu chúng ta không tham gia vào tiến trình bầu cử chúng ta bỏ rơi cơ hội làm vinh hiển Đức Chúa Trời. “Cái gì của Sê-sa thì trả lại cho Sê-sa.”
QUẢN DI NGÔ VÀ TIÊU CHUẨN TAM BẢN
Ngày xưa Quản Di Ngô đưa ra Tam Bản để chọn người lãnh đạo : trước hết là phải có đạo đức, thứ hai phải có công trạng tức là phải có kinh nghiệm và thứ ba phải có tài năng. Đạo đức để đường lối quang minh, không dối gạt dân và không lừa đồng minh. Có tài năng để tránh mưu của kẻ thù và phân biệt bạn và thù. Làm chính trị thương cấp là dùng đạo đức mà lãnh đạo dân và dạy dân. Chính trị hạ cấp là dối dân, gạt bạn để đạt kết quả tạm thời. Vì thế người lãnh đạo phải là người có căn bản đạo đức và đẹp lòng Chúa Trời.
Tôi tin rằng lời của Chúa trong Kinh Thánh đưa ra những nguyên tắc, những đạo đức để chúng ta chọn ứng cử viên phù hợp với nguyên tắc đạo đức này.
TIẾN SĨ JAMES KENNEDY
Tiến sĩ James Kennedy trong quyển How Would Jesus Vote đã đưa ra ý kiến là Cơ đốc nhân nào lơ là không đi bỏ phiếu là phạm tội. Ông viết: “ khi tôi tuyên bố quan niệm đó trên bục giảng hôm Chúa nhật thì có người tín đồ hỏi tôi: “ Chỗ nào trong Kinh Thánh nói rằng không bỏ phiếu là phạm tội?” . Tôi đã chỉ họ câu kinh thánh “hãy trả cho Sê-sa vật gì của Sê-sa” và tôi giải thích thêm rằng chúng ta phải thi hành bổn phận đối với đất nước này những gì thuộc về trách nhiệm của một công dân. Và chắc chắn với quốc gia này, trách nhiệm tối thiểu của một công dân là đóng thuế và bầu cử. Người nào trốn tránh việc đóng thuế cùng trốn tránh việc bầu cử đều là có tội.
Con người đều có khiếm khuyết, phạm tôị nhưng người Cơ đốc biết ăn năn và quay về với lẽ Thật còn người không tin Chúa thì cố ý che lấp tội lỗi của mình mà càng lún sâu vào tội lỗi nên đất nước này sẽ là một quái vật mà chính chúng ta tạo ra, nuôi dưỡng để nó tàn hại quốc gia này.
Hãy quan sát cuộc bầu cử Tổng thống năm nay và thực hành những gì mà chúng ta học hỏi từ Kinh Thánh. Hãy thi hành nhiệm vụ của một công dân dưới tiêu chuẩn của Kinh Thánh. Nếu quái vật hiện diện trong chính trường là do lỗi của chúng ta. Sự tàn hại là do chúng ta và cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời là do chính chúng ta làm ra.
CƠ ĐỐC NHÂN: MUỐI VÀ SỰ SÁNG
Khi Chúa Jesus ví Cơ đốc nhân là muối và sự sáng của thế gian, Ngài muốn dạy chúng ta điều gì trong sinh hoạt chính trị của xã hội này ?
Các ngươi là muối của đất; song nếu mất mặn đi, thì sẽ lấy giống chi mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chơn.14 Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành trên núi thì không khi nào bị khuất được: 15 cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, song người ta để trên chơn đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà. 16 Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời. Ma-thiơ 5:13-17

Tôi có nghe ông Don Wildman nói trên đài truyền hình và ám ảnh tôi :
- mỗi ngày có 4 ngàn hài nhi bị giết và 300,000 Hội Thánh của Chúa im lặng
- Các hệ thống truyền thông luôn chế nhạo Cơ đốc nhân, đức tin của chúng ta và những giá trị của chúng ta và 300,000 Hội Thánh cũng im lặng
- Trên các đài truyền hỉnh, truyền thanh, phim ảnh, internet, hình ảnh bạo lực, chết chóc, dâm ô, giết người, câu chuiyện vô đạo đức được chiếu, trình bày và 300000 Hội Thánh cũng im lặng.
- Các vụ tự tử của các em teenage gia tăng với mức độ khủng khiếp, giết người do các em tại trường gia tăng, hảm hiếp trẻ em gia tăng 700 % và các Hội Thánh của Chúa vẫn im lặng.
- Các đoàn người hô hào phá thai, ủng hộ đồng tình luyến ái nhan nhản ngoài phố và các Hội Thánh Chúa nhìn như người bàng quan.
Chúng ta có thực sự là những Cơ đốc nhân với mạng lệnh rao truyền lời Chúa không? Khi mà Hội Thánh của Chúa vẫn im lặng .
Chúng ta có phải là muối , là sự sáng và trách nhiệm phải mở rộng tin lành cho mọi người không? Khi mà Hội Thánh của Chúa vẩn im lặng.
Muối được liên kết với sự thánh khiết. Muối dùng để bảo tồn thực phẩm . Và muối làm tăng hương vị cho thức ăn. Người Hy lạp nói rằng muối là vật tinh khiết. Muối dùng làm lễ vật để cúng tế của người Do Thái. Việt nam dùng muối và nước lạnh trên bàn thờ ông Thiên. Vậy nếu Cơ đốc nhân là muối của thế gian, người phải là gương sáng sáng về sự tinh khiết. Người ta có khuynh hướng hạ thấp các tiêu chuẩn về đạo đức còn người Cơ đốc là người nâng cao tiêu chuẩn đạo đức.
Muối giữ thịt lâu hư và người Cơ đốc phải có tác dụng sát trùng, tẩy sạch môi trường dơ dáy. Sự hiện diện của Cơ đốc nhân sẽ xua đuổi sự hư hoại và làm cho người khác trở nên tốt hơn.
Muối tăng hương vị , đồ ăn trở nên đậm đà, không nhạt nhẽo, buồn nôn. Cơ đốc nhân làm tăng hương vị cuộc đời.
Cơ đốc nhân là sự sáng và là sự sáng phản chiếu của Chúa Jesus.
1. Cơ đốc nhân không thuộc loại tìn đồ bí mật, tín đồ thầm lặng mà phải toả ra cho mọi người biết ánh sáng của Chúa Jesus.
2. Sự sáng là sự hướng dẩn. Đèn Hải đăng dùng cho các tàu bè biết phương hướng. Cơ đốc nhân phải là gương cho thế gian, soi sáng đường cho thế gian.
3. Sự sáng là ngọn đèn báo hiệu. Cơ đốc nhân phải nói lời cảnh cáo khi thấy người khác đang bước đến ngỏ đường nguy hiểm. Chúng ta phải cảnh tỉnh thiên hạ.
Áp dụng hai ẩn dụ này vào cuộc sống thực tế, Cơ đốc nhân chắc chắn phải tích cực trong công cuộc bầu cử để nói lên lập trường của Cơ đốc giáo.
Vậy thì, ngay bây giờ chúng ta phải theo dõi lời tuyên bố của các ứng viên. Xem ai là người đứng về phía của Chúa Jesus và cho mọi người biết chúng ta chỉ chọn ứng cử viên nào đứng về phía Chúa Jesus mà thôi.
Tôi không thể nói là chúng ta nên bỏ phiếu cho ai. Tôi tôn trọng tự do cá nhân, quyết định của từng người . Nhưng tôi mong quý vị nhìn vào quá khứ của họ, qua lời tuyên bố, qua chủ trương của đảng để xem ứng cử viên nào đứng về phía Chúa Jesus thì bỏ cho họ. Vấn đề là khi mà cả hai ứng cử viên đều không đứng về phía Chúa Jesus. Và giữa hai cái xấu, có nên chọn cái ít xấu hơn hay không? Giữa hai ông Biden và Trump, quý vị thấy ai là người có thể đứng gần với Chúa hơn thì bỏ phiếu cho người đó. Con quái vật đó do chúng ta tạo ra và hậu quả đó là do chúng ta làm ra.

Address

3719 Hummer Road
Annandale, VA
22003

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Con Đường Vĩnh Phúc posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Con Đường Vĩnh Phúc:

Share

Category