Se Duyên Trói Buộc Yêu Thương Luyện Bùa Cao Dân Tộc

Se Duyên Trói Buộc Yêu Thương Luyện Bùa Cao Dân Tộc Thầy Mo Yểm Cao Tay Tây Bắc Chùa Wat Phrathat Doi Suthep nằm trên một ngọn đồi cách mặt nước biển hơn 1.046 mét.

Ngôi chùa cổ với hơn 600 năm tuổi cách trung tâm Chiang Mai khoảng 15km. Nơi đây xứng danh là một ngôi chùa linh thiêng nhất ở miền bắc Thái Lan. Để đến chùa, các bạn có thể đi cáp treo, thuê xe moto hoặc đi bộ với 309 bậc thang đá. Bước vào bên trong chùa, bạn sẽ không thế bất ngờ hơn với rất nhiều pho tượng được làm tinh xảo cùng với sự uy nghiêm và những tư thế vững chãi. Chùa đẹp nhất Chiang Mai này còn lưu giữ một pho tượng Phật Ngọc là bản sao ở chùa Wat Phra Kaew.

Bản hoài ra đời của Đức PhậtKinh Pháp-Hoa nói: “Chư Phật Thế-Tôn chỉ vì một nhân duyên lớn mà hiện ra đời. Xá-Lợi-Phất! ...
08/01/2024

Bản hoài ra đời của Đức Phật

Kinh Pháp-Hoa nói: “Chư Phật Thế-Tôn chỉ vì một nhân duyên lớn mà hiện ra đời. Xá-Lợi-Phất! Sao gọi là chư Phật Thế-Tôn chỉ vì một nhân duyên lớn mà hiện ra đời?"

"Ðó là các Ðức Như-Lai vì muốn cho chúng-sanh mở mang tri-kiến-Phật để được thanh tịnh mà hiện ra đời. Vì muốn chỉ bày tri-kiến-Phật cho chúng-sanh mà hiện ra đời. Vì muốn cho chúng-sanh tỏ ngộ tri-kiến-Phật mà hiện ra đời. Vì muốn cho chúng-sanh chứng vào tri-kiến-Phật mà hiện ra đời”.

Ðại ý đoạn kinh trên, chư Phật ra đời với bản hoài muốn cho tất cả chúng-sanh đều thành Phật. Có thành Phật mới đi đến chỗ độ mình độ người một cách viên mãn. Nhưng xét lại trong hàng Phật-tử xuất-gia, tại-gia, phần đông sự phát tâm hướng đạo đã sai với mục đích căn bản ấy.

Có kẻ đi đến chùa để cầu cho gia quyến bình yên, làm ăn phát đạt. Có người cúng dường tu phước để cầu sự vui ngũ dục đời sau.

Có kẻ gặp cảnh duyên trắc trở, mượn câu kinh tiếng kệ để an ủi tâm hồn. Có người vì tránh nạn duyên, hoặc mến cảnh chùa tịch mịch, hay muốn an hưởng thanh nhàn, nên mới nương cửa Phật.

Đức Phật bên trong

347400572_1485039218980566_6261249481246395206_n
Tóm lại, nhân duyên vào đạo tuy nhiều, nhưng ít ai thiết thật xa lìa danh lợi cầu quả giải thoát để độ mình độ người. Tuy rằng đối với phàm-phu, đôi khi nghịch cảnh cũng là bước đầu dẫn đến Niết-bàn, hay chắp tay trước thánh tượng, niệm một tiếng nam-mô, cũng là gieo nhân giải thoát, nhưng người đã nương về Tam-bảo, cũng nên chuyển hướng tâm nguyện và hành vi cho đúng với bản hoài của Phật.

Lộ trình giải thoát với tiêu điểm lợi mình lợi người, rất trắc trở khó khăn, nếu chẳng phải là người có chí kiên nhẫn, đức dũng tiến, tất không thể đi đến nơi đến chốn. Cho nên quan niệm tu hành theo lối cầu an như: “Ðã đem mình đến am mây. Tuổi nầy gởi với cỏ cây cũng vừa”, thật đã sai lầm, không những trái với bản tâm của Phật, còn lạc với thật nghĩa hướng đạo của mình.

Bản hoài ra đời của chư Phật đại để là thế. Tuy nhiên, vì căn cơ chúng-sanh có muôn vàn sai khác, nên các Ðức Thế-Tôn khi xuất hiện đều dùng vô số phương tiện dẫn dắt kẻ hữu duyên đi từ bậc thấp đến cao. Giáo pháp của Phật tuy nhiều, nhưng có thể chia làm ba bậc, hay ba thừa, tức là Tiểu-thừa, Trung-thừa và Đại-thừa. Hay gọi cách khác là hạ, trung, thượng-thừa.

Nếu nói rộng ra thì có đến năm thừa là: Nhơn, Thiên, Thanh-Văn, Duyên-Giác, và Bồ-Tát thừa. Ðây là kể năm thừa theo lối thông truyền. Theo kinh Ðại-Thừa-Trang-Nghiêm-Công-Ðức, cách phu diễn năm thừa có hơi khác qua thứ lớp như sau: Bồ-Tát-thừa, Duyên-Giác-thừa, Thanh-Văn-thừa, Chủng-chủng-tánh-thừa và Nhơn-Thiên-thừa. Ðể diễn tiến theo tuần tự thấp đến cao, từ cạn đến sâu, những chương và thiên sau, bút giả sẽ lần lượt trình bày khái quát về những giáo pháp ấy.

Tổ Ma-ha Ca-diếpThuở bé, ngài dung nghi tuấn nhã, toàn thân phát sáng màu vàng, chiếu rất xa. Thầy tướng xem tướng ngài ...
04/12/2023

Tổ Ma-ha Ca-diếp

Thuở bé, ngài dung nghi tuấn nhã, toàn thân phát sáng màu vàng, chiếu rất xa. Thầy tướng xem tướng ngài nói: "Đứa bé này đời trước có phước đức thù thắng, lẽ ưng xuất gia". Cha mẹ ngài nghe nói lo sợ, cùng nhau thầm bàn "sẽ cưới vợ đẹp để làm nhụt chí của nó".

Vừa lớn lên, cha mẹ liền lo chọn người lập gia thất cho ngài, nhưng ngài một bề từ chối. Sau cùng, bất đắc dĩ, ngài phải nói: "Có người con gái nào thân đồng màu sắc như con, con mới ưng cưới".

Cha mẹ ngài bèn đúc một tượng vàng, đẩy đi khắp trong nước, tìm người nữ nào giống màu sắc ấy, cưới cho ngài. Quả nhiên, gặp được một cô con gái giống hệt như ngài. Thế là ngài phải lập gia đình.

Bởi đời đức Phật Tỳ-bà-thi, sau khi Phật Niết-bàn, chúng xây tháp thờ xá-lợi, trong tháp có an trí một pho tượng Phật phết vàng. Lâu ngày trên mặt pho tượng bị lở khuyết. Khi ấy, ngài Ca-diếp là thợ đúc vàng. Có cô gái nhà nghèo, vì thấy mặt Phật hư khuyết, cô còn một đồng tiền vàng đem đến nhờ ngài nấu ra để phết lại tượng Phật. Thấy cô phát tâm tu bổ tượng Phật, ngài rất hoan hỷ đứng ra làm chu tất việc này. Nhân đó, hai người cùng nguyện đời đời sẽ làm vợ chồng, mà coi như đôi tri kỷ, chứ không vì tình dục.

Do phước báo đó nên 91 kiếp thân thể hai vị đều toàn màu vàng. Sau, sanh cõi Phạm Thiên, hết phước cõi Phạm Thiên chết, sanh về cõi này trong nhà Bà-là-môn giàu có hiện tại.

Tuy hiện nay hai vị làm vợ chồng, mà sống như tình tri kỷ, không có ý dâm dục. Đến sau, cả hai đều xin cha mẹ xuất gia. Cha mẹ bằng lòng, ngài liền xuất gia làm Sa-môn vào núi tu hạnh đầu-đà.

Một hôm, nhân nghe trong hư không có tiếng bảo: "Phật đã ra đời, nên đến đó thọ giáo", ngài liền tìm đến tinh xá Trúc Lâm, chí thành đảnh lễ Phật. Phật bảo: "Lành thay Tỳ-kheo đến đây, hãy cạo bỏ râu tóc đi!".

Ngài liền cạo bỏ râu tóc, thọ giới Tỳ-kheo, mặc y ca-sa. Từ đây, ngài theo Phật hiểu sâu giáo pháp, tinh tấn tu hành không lúc nào lơi lỏng, cho đến chứng quả A-la-hán.

Có lần, ngài từ xa đến ra mắt Phật. Các chúng Tỳ-kheo ngồi vây quanh Phật, trông thấy ngài mặc y bằng vải rách, thân hình tiều tụy, có ý thầm khinh. Phật biết, bèn bảo: "Ca-diếp đến đây! Ta nhường nửa tòa cho ngươi". Ngài vẫn không dám ngồi. Phật bảo các Tỳ-kheo: "Ta có đại từ đại bi, các thiền định tam muội và vô lượng công đức để tự trang nghiêm, Tỳ-kheo Ca-diếp này cũng như thế. Do đó, ta nhường nửa tòa cho Ca-diếp ngồi". Chúng Tỳ-kheo đều dứt tâm ngạo mạn, cúi đầu cung kính ngài.

Hôm nọ, Phật ở trong hội Linh Sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ ngác. Chỉ có ngài đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu). Phật bảo: "Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ Chánh pháp này, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-nan".

Thế Tôn đến trước tháp Đa Tử gọi Ma-ha Ca-diếp đến chia nửa tòa cho ngồi, lấy y Tăng-già-lê quấn vào mình Ca-diếp, rồi nói kệ phó pháp:

Pháp bản pháp vô pháp,

Vô pháp pháp diệc pháp.

Kim phó vô pháp thời,

Pháp pháp hà tằng pháp.

Dịch:

Pháp gốc pháp không pháp,

Pháp không pháp cũng pháp,

Nay khi trao không pháp,

Mỗi pháp đâu từng pháp.

Ngài già yếu, Phật nhiều lần khuyên: "Ca-diếp tuổi đã già, nên ở một chỗ nhận những thức cúng dường của thí chủ, chớ đi khất thực nhọc nhằn".

Ngài bạch Phật: "Con tuy già yếu, song không dám ở một chỗ thọ sự cúng dường của thí chủ. Vì sợ e sau này, các Tỳ-kheo đời sau sẽ nói: 'Đệ tử lớn của Phật trước kia vẫn ở một chỗ thọ sự cúng dường', rồi họ sanh phóng túng".

Lúc Phật Niết-bàn tại thành Câu-thi-na trong rừng Sa-la, thì ngài đang ở trong động Tất-bát-la trên núi Kỳ-xà-quật. Nghe tin Phật Niết-bàn, ngài và 500 đệ tử vội vã hướng về thành Câu-thi-na. Đến nơi, đã để Phật vào kim quan, ngài buồn bã. Thầy trò đi nhiễu kim quan ba vòng, rồi đảnh lễ Phật. Khi ấy, hai bàn chân Phật duỗi ra ngoài kim quan để an ủi ngài. Ngài vuốt ve hai bàn chân Phật, lòng rất bi thảm.

Sau khi thiêu thân Phật xong, ngài tuyên bố với chúng Tỳ-kheo: "Xá-lợi của Phật giao cho trời, người xây tháp thờ làm ruộng phước, còn trách nhiệm Tỳ-kheo chúng ta phải lo kết tập kinh điển để lưu lại đời sau".

Ngài bèn nói kệ:

Như Lai đệ tử,

Thả mạc Niết-bàn.

Đắc thần thông giả,

Đương phó kết tập.

Dịch:

Đệ tử Như Lai,

Chớ vội Niết-bàn.

Người được thần thông,

Nên đến kiết tập.

Thế là, sau Phật Niết-bàn 3 tháng, ngài triệu tập 500 vị đại A-la-hán tụ họp tại núi Kỳ-xà-quật, trong động Tất-bát-la kết tập. Chỉ có tôn giả A-nan không được dự hội, vì chưa sạch các lậu. Tôn giả A-nan buồn bã, suốt đêm chuyên tâm thiền định, đến gần sáng liền chứng ngộ, các lậu dứt sạch được quả A-la-hán. Sau đó, tôn giả được mời dự hội.

Ngài thưa toàn chúng: "Tỳ-kheo A-nan nhớ giỏi bậc nhất, thường theo hầu hạ Như Lai, nghe pháp Phật nói ghi nhớ không sót, như nước rót vào bình không rơi ngoài một giọt, nên mời kết tập tạng Kinh và tạng Luận. Mời Tỳ-kheo Ưu-ba-ly kết tập tạng Luật". Toàn chúng đều hoan hỷ chấp thuận. Hội kết tập này, ngài là chủ tịch.

Sau cuộc kết tập này viên mãn, nhân duyên độ sanh đã xong xuôi, ngài thấy tuổi quá già yếu, bèn gọi tôn giả A-nan đến bảo: "Khi Như Lai sắp vào Niết-bàn có dặn ta đem Chánh pháp nhãn tạng giao phó cho ông. Nay ta sắp ẩn, đúng lúc giao phó cho ông, ông phải khéo gìn giữ chớ để đoạn dứt".

Ngài nhớ lời Phật dặn giữ gìn y bát của Phật đợi đến Phật Di-lặc ra đời sẽ trao lại, nên dự bị vào núi Kê Túc nhập định. Liền đó, ngài đi từ giả vua A-xà-thế và những người thân thuộc, rồi vào núi Kê Túc trải tòa cỏ ngồi an nhiên nhập định.

Đức Phật đã từng dạy phương pháp thiền niệm hơi thở trong nhiều bài kinh khác nhau và từ pháp thiền hơi thở ấy sẽ làm nề...
06/11/2023

Đức Phật đã từng dạy phương pháp thiền niệm hơi thở trong nhiều bài kinh khác nhau và từ pháp thiền hơi thở ấy sẽ làm nền tảng để đi đến mục đích cuối cùng đó là đi đến giác ngộ các sự thật và giải thoát, chấm dứt khổ đau sinh tử.

Phương pháp thực hành thiền hơi thở là một trong bốn mươi đề mục về thiền định mà Đức Phật đã dạy. Lộ trình mà một người hành giả cần thực hành đó là thực hành giới, định, tuệ. Nếu như một người không giữ giới trong sạch thì sẽ không bao giờ đắc thiền được, không bao giờ có thể thành công trong sự thực hành thiền. Đầu tiên là mình cần phải thọ trì những giới căn bản nhất, đó là bỏ những việc ác, làm những việc lành. Thọ trì giới bằng cách đó là sống có sự phòng hộ, có sự thu thúc các căn. Phòng hộ ở đây là mình tránh xa những cái cảnh trần mà gây ra những ô nhiễm, những phiền não ở trong nội tâm. Một người mà còn quá tham đắm với những trò vui ở thế gian, như là xem ca nhạc, múa hát, xem phim truyện... hay là còn ưa thích những niềm vui phàm trần, không phòng hộ các căn thì tâm sẽ luôn luôn bị loạn tưởng, bị loạn động và sẽ không thực hành được. Sự giữ giới ở đây là mình cần có sự phòng hộ đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình; không để cho những phiền não ở bên ngoài thâm nhập vào trong nội tâm.

Giữ giới ở đây bằng cách là nuôi mạng thanh tịnh, tức là sống bằng một nghề chân chánh, không sống bằng nghề bất chánh - một nghề nghiệp mà tạo ra những cái ác nghiệp. Giữ giới ở đây bằng cái cách nữa là sống có sự thiểu dục, có sự tri túc, tức là không quá tham đắm đối với những vật chất ở thế gian. Thiểu dục với những cái những vật dụng trong đời sống hàng ngày, như là ăn có sự tri túc, ngủ có sự tri túc, mặc có sự tri túc, tức là biết vừa đủ với mình chứ không quá tham đắm, đắm nhiễm vào những vật dụng thường tình. Thì đó cũng là một đời sống có giới hạnh.

Rồi vị ấy ngồi trang nghiêm tề chỉnh, nhắm mắt hoàn toàn, để cho hơi thở đi vào tự nhiên, hơi thở đi ra tự nhiên nhất.

Vị ấy hướng tâm lên trước cửa mũi, để ý hơi thở đi vào đi ra có một làn gió rất nhẹ chạm vào da ở ngay cửa mũi.

Trước tiên là đếm hơi thở từ 1 đến 10 trong khoảng 20 đến 30 phút đầu: hơi thở vào ra đếm 1, vào ra đếm 2, đếm 3… 10

Sau đó ngưng đếm chỉ chỉ biết hơi thở vào ra một cách tự nhiên – có khi hơi thở vào nhanh, ra nhanh vị ấy cũng nhận biết như vậy. Hoặc hơi thở vào chậm ra chậm vị ấy cũng nhận biết như vậy.

Hơi bắt đầu đi vào – đang đi vào – kết thúc đi vào vị ấy cũng nhận biết được như vậy.

Hơi thở đi vào đi ra giống như một làn gió rất là vi tế, rất là nhẹ nhàng. Nó chạm vào vùng da ở hai bên cánh mũi, hoặc nó chạm vào vùng da ở chóp mũi, hoặc nó chạm vào da ở môi trên. Mình cần phải hướng tâm lên điểm xúc chạm đó, tập trung tâm vào một điểm rất nhỏ ở ngay trước đầu mũi, ở ngay trước cửa mũi, hay ở cánh mũi ấy thôi. Để cái tâm ở đó, giữ cái tâm ở đó không được đưa tâm đi đến vị trí khác. Không được đưa tâm lên mắt, không được đưa tâm lên đầu, không đưa tâm lên trán, không được đưa tâm xuống ngực, không được đưa tâm xuống bụng, không được quan sát chân tay, không được quan sát những cảm giác ở trên thân, mà phải luôn giữ tâm ở cửa mũi này. Và lúc ấy khi thấy làn hơi thở đi vào thì cái ý thức của mình chánh niệm ghi nhớ biết nó đang đi vào, chánh niệm tỉnh giác ghi nhớ biết nó đang đi ra. Chánh niệm có nghĩa là mình đang nhận biết nó, tỉnh giác có nghĩa là mình quan sát được nó một cách rõ ràng, chi tiết.

Xét trong Thích Đạo An kinh lục có ghi: Ngài An Thế Cao từ hai năm Kiến Hoà của Hán Hằng đế cho đến niên hiệu Linh đế Ki...
05/10/2023

Xét trong Thích Đạo An kinh lục có ghi: Ngài An Thế Cao từ hai năm Kiến Hoà của Hán Hằng đế cho đến niên hiệu Linh đế Kiến Ninh, hơn hai mươi năm dịch ra hơn ba mươi bộ kinh. Lại biệt truyền rằng:

cuối đời Tấn Thái Khang có Đạo nhơn An Hầu đến Tang Thản dịch.

Dịch xong viết một lá thư để ở chùa bảo sau bốn năm mới mở ra. Cuối nhà Ngô Ngài đi đến Dương Châu, nhờ người đem một rương đồ đạc đổi lấy một người nô bộc đặt tên Phước Thiện, nói là Thiện tri thức của ta. Cùng đem người nô bộc đi đến Dự Chương, đến miếu hồ công đình, làm chùa xong Phước Thiện dùng dao chém vào lưng An Hầu chết. Người ở Tang Thản mở thư ra, trong đó có dòng chữ ghi: Tôn sùng đạo của ta là cư sĩ Trần Tuệ, truyền thiền kinh là Tỳ-kheo Tăng Hội, ngày đó vừa đúng bốn năm.

Lại Dữu Trọng Ung, Hình châu ghi rằng: Đầu nhà Tấn có Sa-môn An Thế Cao độ cho thần miếu, được tài vật đem về cất chùa Bạch Mã ở hướng góc Đông Nam của Hình thành. Đời nhà Tống, Khang Vương Tuyên ở Lâm Xuyên có ghi: Trăn chết vào cuối đời nhà Ngô. Trong Đàm Tông tháp tự ghi: chùa Ngoã Quan ở Đan Dương thời Tấn Ai đế Sa-môn Tuệ Lực lập ra. Sau có Sa-môn An Thế Cao, đem tài vật từ miếu Cung Đình về sửa sang tu bổ lại.

Nhưng Pháp sư Đạo An, xem qua các kinh, so sánh các bản dịch

thuật, thấy không có sai khác, từ năm thứ hai Kiến Hoà cho đến cuối đời Tần Thái Khang, trải qua một trăm bốn mươi năm. Nếu Cao công trường thọ hoặc có thể như thế, mà việc không đúng như vậy. Vì sao, xét ở Khang-tăng-hội chú giải kinh An Ban Thủ Ý, bài tựa có ghi: Kinh này do An-thế-cao viết ra, lâu ngày bị thất lạc. Lại có Hàn Lâm ở Nam Dương, Văn Nghiệp ở Dĩnh Xuyên, Trần Tuệ ở Cối Kê. Đây là ba bậc hiền giả, có lòng tin đạo sâu xa. Khương-tăng-hội đều mời thỉnh hợp tác. Trần Tuệ chú nghiã, tôi phụ châm trước vào. Tăng-hội mất vào năm Tấn Thái Khang nguyên niên và nói kinh này không bao lâu sẽ bị quên mất. Lại trong thư ngài Thế Cao có ghi: “Tôn sùng Đạo ta có Cư sĩ Trần Tuệ, truyền thiền kinh là Tỳ-kheo Tăng Hội. Nhưng An Ban nói rõ ràng về thuyết Thiền nghiệp, biết là lời ghi trong thư đó là lời thật. Đã gọi là hai người thì mới truyền là” Đạo ta”, há là dung hoà cùng đồng thế. Vả lại trong Biệt truyện tự nói: Truyền Thiền kinh đó là Tỳkheo Tăng-hội. Ngài Tăng-hội đã tịch vào đầu niên hiệu Thái Khang, sao lại dung hợp với An Hầu Đạo nhơn vào cuối Thái Khang. Đầu đuôi đã tự mâu thuẫn, chỉ do một lá thư lầm nói vào đầu nhà Tấn. Các tác giả về sau hoặc nói Thái Khang hoặc là nói Ngô mạt. Thuyết nói đầu nhà Tấn đã khó thật, mà Đàm Tông Ký còn ghi: Thời Tấn Ai Đế, Anthế-cao mới sửa chùa. Thật là nói lại lệch quá lắm vậy.

Là Phật tử mình không thể hành xử như người chưa được học lời Phật. Theo đó, thay vì kết oán, mình tháo gỡ "cục đá" ở tr...
14/09/2023

Là Phật tử mình không thể hành xử như người chưa được học lời Phật. Theo đó, thay vì kết oán, mình tháo gỡ "cục đá" ở trong lòng mình ra, phiền giận hay ôm ấp khổ đau vì một lời nói, một sự tác động tiêu cực từ bên ngoài chỉ khiến mình khổ lâu thêm, nuôi dưỡng sân-si, kéo dài oán đối.

Là Phật tử, mình cũng hiểu vô thường. Không ai sống đời mà không chết, không xảy ra mất mát, đau thương. Suy cho cùng, ai cũng đáng thương như nhau trong thân-phận con người, nên tập thương nhau, thương còn không hết thì oán làm gì.

Ngãi YÊU trói Ƀuộc_ kéo đôi lứa đó quay về là dù đã chia lìa.Hàn gắn yêu thương cho những đôi chia ly _ Gia đình hòa thu...
05/04/2023

Ngãi YÊU trói Ƀuộc_ kéo đôi lứa đó quay về là dù đã chia lìa.
Hàn gắn yêu thương cho những đôi chia ly _ Gia đình hòa thuận yên ấm yêu thương đùm bọc.
Giúp cho người khác yêu bạn_Khiến đối phương nghe lời chỉ nghĩ về một mình bạn.
Trọn đời trọn kiếp sẽ chỉ lấy và yêu thương riêng mình bạn.

ที่อยู่

Na Phra Lan, Phra Nakorn
Bangkok
10100

เบอร์โทรศัพท์

+84356992832

เว็บไซต์

แจ้งเตือน

รับทราบข่าวสารและโปรโมชั่นของ Se Duyên Trói Buộc Yêu Thương Luyện Bùa Cao Dân Tộcผ่านทางอีเมล์ของคุณ เราจะเก็บข้อมูลของคุณเป็นความลับ คุณสามารถกดยกเลิกการติดตามได้ตลอดเวลา

ติดต่อ ธุรกิจของเรา

ส่งข้อความของคุณถึง Se Duyên Trói Buộc Yêu Thương Luyện Bùa Cao Dân Tộc:

แชร์