Tinh Hoa Kim Cương Thừa

Tinh Hoa Kim Cương Thừa Trang chia sẻ Pháp học và hành để giúp hành giả vun bồi Chánh Tri Kiến trên Đạo lộ Kim Cương Thừa

𝑩𝒂́𝒕 𝑲𝒆̣̂ 𝑪𝒉𝒖𝒚𝒆̂̉𝒏 𝑻𝒂̂𝒎བློ་སྦྱོང་ཚིགས་བརྒྱད་མ། (wylie: blo sbyong tshigs brgyad ma), được coi là bản tóm tắt ngắn gọn về...
28/08/2024

𝑩𝒂́𝒕 𝑲𝒆̣̂ 𝑪𝒉𝒖𝒚𝒆̂̉𝒏 𝑻𝒂̂𝒎

བློ་སྦྱོང་ཚིགས་བརྒྱད་མ། (wylie: blo sbyong tshigs brgyad ma), được coi là bản tóm tắt ngắn gọn về giáo lý Lojong _ Luyện Tâm (བློ་སྦྱོང་ ; wylie: blo sbyong) của Geshe Langri Thangpa đạo sư sống ở thế kỷ thứ 12.
Đây là pháp tu vô cùng quý báu, như ngọc mani tại thế gian. Ngày nay, tám bài thi kệ này, được nhiều người biết đến, thật quý biết bao. Nguyện đây là kim chỉ nam của những người tự xưng là Phật Tử Kim Cương Thừa.

1. Với quyết tâm thành tựu
Lợi lạc lớn lao nhất
Nhờ tất cả chúng sinh,
Tôi nguyện luôn giữ gìn
Chúng sinh trong đáy tim,
Vì chúng sinh quí hơn
Cả bảo châu như ý.

2. Khi gặp gỡ tiếp xúc
Với bất kỳ một ai,
Nguyện tôi luôn thấy mình
Là kẻ thấp kém nhất,
Từ đáy lòng chân thật
Luôn tôn kính mọi người
Như kính bậc tối cao.

3. Nguyện trong từng hành động
Tôi luôn tự xét mình,
Phiền não vừa dấy lên,
Ðe dọa mình và người,
Nguyện tức thì nhận diện,
Và tức thì dẹp tan.

4. Khi gặp người hiểm ác
Vì bị tâm phiền não
Và ác nghiệp tác động,
Nguyện tôi quí người ấy
Như vừa tìm ra được
Kho tàng trân quí nhất.

5. Khi gặp người vì lòng
Ganh ghen và đố kỵ
Miệt thị phỉ báng tôi,
Nguyện tôi nhận phần thua,
Nhường đi mọi phần thắng.

6. Khi gặp người mà tôi
Giúp đỡ, đặt kỳ vọng,
Lại vong ân bội nghĩa
Gây tổn hại cho tôi,
Nguyện tôi xem người ấy
Là một đấng tôn sư.

7. Tóm lại tôi xin nguyện
Trực tiếp và gián tiếp
Trao tặng mọi lợi lạc
Cho tất cả chúng sinh
Ðều là mẹ của tôi
Từ vô lượng kiếp trước.
Nguyện [không đợi ai cầu
Vẫn] âm thầm gánh chịu
Mọi ác nghiệp khổ não
Thay thế cho chúng sinh.

8. Nguyện những điều nói trên
Không bị vướng ô nhiễm
Bởi tám ngọn gió chướng.
Nguyện tôi thấy mọi sự
Hiện ra trong cõi đời
Ðều chỉ như huyễn mộng
Cho tâm thôi chấp bám
Thoát ràng buộc luân hồi.

| Hồng Như Việt Dịch

བདག་ནི་སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་ལ། །
ཡིད་བཞིན་ནོར་བུ་ལས་ལྷག་པའི། །
དོན་མཆོག་བསྒྲུབ་པའི་བསམ་པ་ཡིས། །
རྟག་ཏུ་གཅེས་པར་འཛིན་པར་ཤོག །
གང་དུ་སུ་དང་འགྲོགས་པའི་ཚེ། ། 
བདག་ཉིད་ཀུན་ལས་དམན་ལྟ་ཞིང་། །
གཞན་ལ་བསམ་པ་ཐག་པ་ཡིས། །
མཆོག་ཏུ་གཅེས་པར་འཛིན་པར་ཤོག །
སྤྱོད་ལམ་ཀུན་ཏུ་རང་རྒྱུད་ལ། །
རྟོག་ཅིང་ཉོན་མོངས་སྐྱེས་མ་ཐག།
བདག་གཞན་མ་རུངས་བྱེད་པས་ན། །
བཙན་ཐབས་གདོང་ནས་ཟློག་པར་ཤོག །
རང་བཞིན་ངན་པའི་སེམས་ཅན་ནི། །
སྡིག་སྡུག་དྲག་པོས་ནོན་མཐོང་ཚེ། །
རིན་ཆེན་གཏེར་དང་འཕྲད་པ་བཞིན། །
རྙེད་པར་དཀའ་བས་གཅེས་འཛིན་ཤོག །
བདག་ལ་གཞན་གྱིས་ཕྲག་དོག་གིས། །
གཤེ་སྐུར་ལ་སོགས་མི་རིགས་པའི། །
གྱོང་ཁ་རང་གིས་ལེན་པ་དང་། །
རྒྱལ་ཁ་གཞན་ལ་འབུལ་བར་ཤོག །
གང་ལ་བདག་གིས་ཕན་བཏགས་པའི། །
རེ་བ་ཆེ་བ་གང་ཞིག་གིས། །
ཤིན་ཏུ་མི་རིགས་གནོད་ན་ཡང་། །
བཤེས་གཉེན་དམ་པར་བལྟ་བར་ཤོག །
མདོར་ན་དངོས་དང་བརྒྱུད་པ་ཡིས། །
ཕན་བདེ་མ་རྣམས་ཀུན་ལ་འབུལ། །
མ་ཡི་གནོད་དང་སྡུག་བསྔལ་ཀུན། །
གསང་བས་བདག་ལ་ལེན་པར་ཤོག །
དེ་དག་ཀུན་ཀྱང་ཆོས་བརྒྱད་་ཀྱི། །
རྟོག་པའི་དྲི་མས་མ་སྦགས་ཤིང་། །
ཆོས་ཀུན་སྒྱུ་མར་ཤེས་པའི་བློས། །
ཞེན་མེད་འཆིང་བ་ལས་གྲོལ་ཤོག།
དགེ་བཤེས་ཆེན་པོ་གླང་རི་ཐང་པས་མཛད་པའོ། །

☸️ 𝓑ấ𝓽 𝓣ườ𝓷𝓰 𝓚𝓱𝓲 Để 𝓣ượ𝓷𝓰 𝓟𝓱ậ𝓽, 𝓑ả𝓸 𝓣𝓱á𝓹 𝓡ỗ𝓷𝓰 𝓚𝓱ô𝓷𝓰…Sẽ không tốt nếu để tượng hoặc bảo tháp hoàn toàn trống rỗng. Để tượ...
25/08/2024

☸️ 𝓑ấ𝓽 𝓣ườ𝓷𝓰 𝓚𝓱𝓲 Để 𝓣ượ𝓷𝓰 𝓟𝓱ậ𝓽, 𝓑ả𝓸 𝓣𝓱á𝓹 𝓡ỗ𝓷𝓰 𝓚𝓱ô𝓷𝓰

…Sẽ không tốt nếu để tượng hoặc bảo tháp hoàn toàn trống rỗng. Để tượng rỗng không thì như không cúng dường gì cho Chư Phật và có thể tạo ra chướng ngại. Do đó, điều quan trọng là phải đặt một lễ vật bên trong bức tượng, chí ít phải là một vài câu thần chú và một ít hương. Việc này cũng tương tự khi cúng dường tượng cho Thầy của bạn; phải luôn có một lễ vật nào đó được đặt bên trong chúng để mang lại điềm lành. Nếu bạn cần đợi chờ thời gian cho đến khi bức tượng/bảo tháp của bạn có thể được yểm đầy và thánh hiến đúng cách, thì hãy cuộn một bản sao của bốn câu thần chú Xá lợi Pháp Thân, hoặc năm thần chú mạnh mẽ và tạm thời đặt chúng bên trong bức tượng với một ít hương…
~ Lama Zopa Rinpoche~
|Tuệ Bảo Việt dịch

P/s: Hình ảnh bốn thần chú Xá lợi Pháp Thân bằng Tạng Ngữ, có thể in ra và đặt vào trong một bức tượng rỗng. Nếu quý vị cần file pdf tốt hơn vui lòng inbox page.

07/12/2023

.•♫•♬• 𝓦𝓪𝓷𝓰𝓭𝓾 𝓟𝓻𝓪𝔂𝓮𝓻 •♬•♫•.

❤️❤️❤️ 𝙃𝙖𝙥𝙥𝙮 𝘿𝙖𝙠𝙞𝙣𝙞 𝘿𝙖𝙮

…Nếu có thể thực hành kính ái và thọ nhận ân phước gia trì của chư Bổn tôn, Không Hành Nữ và Hộ Pháp của các hoạt động kính ái, bạn sẽ thấy rằng thân và tâm dần dần được kiểm soát và các vấn đề sẽ trở nên tốt đẹp hơn…

**ra

🪷🪷🪷𝗣𝗛𝗨̛𝗢̛́𝗖 𝗗𝗨𝗬𝗘̂𝗡 𝗩𝗢̛́𝗜 𝗧𝗛𝗨̛̣𝗖 𝗛𝗔̀𝗡𝗛 𝗧𝐀̂𝗠 𝗬𝗘̂́𝗨 𝗟𝗜𝗘̂𝗡 𝗛𝗢𝗔 𝗧𝗨̛̣ 𝗦𝗜𝗡𝗛 Rangjung Peme Nyingtik, một kho tàng tâm sâu sắc đư...
04/12/2023

🪷🪷🪷𝗣𝗛𝗨̛𝗢̛́𝗖 𝗗𝗨𝗬𝗘̂𝗡 𝗩𝗢̛́𝗜 𝗧𝗛𝗨̛̣𝗖 𝗛𝗔̀𝗡𝗛 𝗧𝐀̂𝗠 𝗬𝗘̂́𝗨 𝗟𝗜𝗘̂𝗡 𝗛𝗢𝗔 𝗧𝗨̛̣ 𝗦𝗜𝗡𝗛

Rangjung Peme Nyingtik, một kho tàng tâm sâu sắc được phát hiện bởi Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche và được giao phó cho tâm tử của ngài là Kyabje Trulshig Rinpoche, là một giáo khóa hoàn chỉnh trong đó các thực hành Đạo Sư, Bổn Tôn, Không Hành và Chư Hộ Pháp tập hội được thực hành như nhau trong mandala của Đạo sư Padmasambhava.
Không cần thiết phải tìm nơi nào khác để tìm ra những thực hành riêng biệt về Tam Căn; thực hành Đạo Sư, gốc rễ của ân phước, Bổn Tôn, gốc rễ của thành tựu, và Không Hành, gốc rễ của hoạt động.
Trong mạn đà la của thực hành Tâm Yếu Liên Hoa Tự Sinh này là những luyện tập sùng mộ về sự thành tựu của Đạo Sư, xuất hiện trong hình tướng của Guru Orgyen Dorje Chang, Đức Padmasambhava, hiện thân của tất cả chư Phật trong ba thời.
Đạo Sư cũng xuất hiện trong hình tướng Ngũ Bộ Phật của Padma Thotrengtsal, và tám hóa thân của Guru Rinpoche: Padmakara, Padma Gyalpo, Loden Chogtse, Shakya Senge, Padmasambhava, Senge Dradok và Dorje Drolo.
Trong cùng mandala này là những thực hành cá nhân để thành tựu Đạo Sư là Bổn Tôn, Tám Herukas của Mật Điển Đại Du Già: Yamantaka, Hyagriva, Vissudhe, Amritakundali, Kilaya, Ekajati, Jigten Choto, và DragNgak và tất cả Tám Herukas được thực hành cùng nhau.
Cũng trong mandala này, Đạo Sư được thành tựu như Không Hành.
Trong suốt quá trình thực hành này, các giai đoạn phát triển và hoàn thiện không tách rời mà được thực hành cùng nhau như một.
Bất kể hành giả tập trung tuần tự vào phần nào của thực hành rộng lớn này, gốc rễ của mọi thực hành là sự thành tựu của Đạo Sư, và sự hiểu biết cùng sự chắc chắn rằng tất cả các Bổn Tôn sinh khởi và thực hành không gì khác hơn chính là tâm trí tuệ của Đạo Sư. Bất khả phân với tuệ tâm của chính hành giả.
“Nền tảng” của thực hành này là lòng sùng mộ và niềm tin kiên định vào Đạo Sư là Guru Padmasambhava; “Đạo” là sự thực hành của Đạo Sư; “Quả” là sự thành tựu tâm trí tuệ của Đạo Sư, tinh tuý tâm hết thảy chư Phật trong ba thời.
Tâm Yếu Liên Hoa Tự Sinh có thể được thực hành một cách ngắn gọn hoặc chi tiết trong khóa tu hoặc như một thực hành hàng ngày, tùy theo hành giả mong muốn, vì thực hành này là thực hành duy nhất để thành tựu và chứng ngộ của Đạo Sư, Guru Padmasambhava, cội nguồn của ba gốc rễ, và ở chính đó ba gốc rễ tụ hội.
Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi có nhiều học trò cao cấp của Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche đã thực hành thực hành này hàng ngày. Thật may mắn cho những ai thực hành Pháp này!

**ra

02/12/2023

📚𝓒â𝓾 𝓬𝓱𝓾𝔂ệ𝓷 𝓿ề 𝓡𝓪𝓷𝓰𝓳𝓾𝓷𝓰 𝓟𝓮𝓶𝓮 𝓝𝔂𝓲𝓷𝓰𝓽𝓲𝓴

…Câu chuyện đầy cảm hứng sau đây đằng sau việc phát lộ bộ giáo lý này, Rangjung Pema Nyingthik, là một câu chuyện hấp dẫn được kể lại bởi Shechen Rabjam Rinpoche, cháu trai của Dilgo Khyentse Rinpoche.
Tâm Yếu Liên Hoa Tự Sinh
Khi nhập thất, Dilgo Khyentse Rinpoche luôn trì tụng một lời cầu nguyện dựa trên Tám Heruka. Khi ngài hai mươi mốt tuổi, một buổi sáng Ngài thức dậy và nhận thấy thân thể mình là Bổn tôn, với tám Heruka an trú ở các vị trí khác nhau trên thân thể ngài. Kinh nghiệm này duy trì trong một thời gian dài.
Sau này, khi Ngài du hành đến Tu viện Dzongsar để nhận giáo lý từ Thầy của mình, Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, một nhóm người đã thỉnh cầu Dilgo Khyentse Rinpoche về việc trao truyền Bài cầu nguyện Bảy Chương tới Đức Guru Rinpoche. Khi Ngài khẩu truyền, mọi hiện tượng đã thay đổi và xung quanh trở thành khung cảnh của Samye vào thời kỳ của Guru Rinpoche. Những thân tướng khác nhau của Guru Rinpoche trút xuống Ngài với nhiều kích cỡ khác nhau và hòa tan vào Ngài. Điều này mang lại những trải nghiệm linh kiến và đột nhiên bản văn và cách thực hành Tam Căn xuất hiện rõ ràng và trọn vẹn trong tâm Ngài.
Dilgo Khyentse Rinpoche đã viết nó ra và dâng nó cho Thầy Chökyi Lodro, Thầy để ý rằng văn phong này giống với văn phong được sử dụng trong terma cổ xưa. Đức Chokyi Lodro nhận ra rằng thực hành này lẽ ra đã được phát lộ bởi Jamyang Khyentse Wangpo, nhưng do hoàn cảnh ngăn cản nên nó đã đến với Dilgo Khyentse Rinpoche.
Trong Cách mạng Văn hóa, một học viên đã giấu bản văn trong hang động để bảo vệ nó, nhưng một ngọn lửa bùng cháy ngoài tầm kiểm soát đã phá hủy văn bản gốc.
Nhiều năm sau, cùng với Kyabje Trulshik Rinpoche, Dilgo Khyentse Rinpoche viếng thăm Yanglesho, hang động linh thiêng của Guru Rinpoche ở Nepal, nơi ngài cử hành lễ cúng dường Ganachakra. Ngài chợt nhận ra rằng khi còn nhỏ Ngài thường nhìn thấy hang động này trong giấc mơ. Trulshik Rinpoche lễ lạy và thỉnh Ngài viết ra những gì xuất hiện trong tâm thức. Nhân dịp này Ngài lại viết ra Rangjung Pema Nyingthik. Nhiều năm sau đó, một nhà sư từ Surmong đã cung cấp một số văn bản mà ông đã sao chép từ bản gốc ở Tây Tạng trước khi chúng bị lửa thiêu rụi, và cách diễn đạt gần giống với những gì được viết ở Nepal.
Rinpoche đã ban quán đảnh, khẩu truyền và bình giảng của giáo khóa terma này cho những đệ tử thân cận của Ngài. Bây giờ chúng ta có cơ hội đi vào tri kiến giác ngộ của nghi quỹ này và chuyển hóa cuộc đời mình…

**ra

˜”*°•.𝓡𝓪𝓷𝓰𝓳𝓾𝓷𝓰 𝓟𝓮𝓶é 𝓝𝔂𝓲𝓷𝓰𝓽𝓲𝓴.•°*”˜…𝗥𝗮𝗻𝗴𝗷𝘂𝗻𝗴 𝗣𝗲𝗺𝗲́ 𝗡𝘆𝗶𝗻𝗴𝘁𝗶𝗸 (Tạng. རང་བྱུང་པདྨའི་སྙིང་ཐིག་) 'Tâm Yếu Liên Hoa Tự Sinh' — ...
01/12/2023

˜”*°•.𝓡𝓪𝓷𝓰𝓳𝓾𝓷𝓰 𝓟𝓮𝓶é 𝓝𝔂𝓲𝓷𝓰𝓽𝓲𝓴.•°*”˜

…𝗥𝗮𝗻𝗴𝗷𝘂𝗻𝗴 𝗣𝗲𝗺𝗲́ 𝗡𝘆𝗶𝗻𝗴𝘁𝗶𝗸 (Tạng. རང་བྱུང་པདྨའི་སྙིང་ཐིག་) 'Tâm Yếu Liên Hoa Tự Sinh' — một terma tâm của Tổ Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche , một thực hành Tam Căn. Bảo tạng này lần đầu tiên được tiết lộ ở Tây Tạng khi Khyentse Rinpoche ở cùng Jamyang Khyentse Chokyi Lodro. Khám phá này được giữ bí mật và các bản văn bị bỏ lại tại tu viện Mindroling và sau đó bị thất lạc.
Nhiều năm sau khi sống lưu vong ở Nepal, Trulshik Rinpoche nghe về thực hành này khi ngài nhận khẩu truyền Kangyur từ Khyentse Rinpoche và ngài yêu cầu Khyentse Rinpoche phát lộ nó một lần nữa. Chư vị đến Yangleshö và sau bảy ngày thực hành, Khyentse Rinpoche phát lộ thực hành lần thứ hai. Sau này, khi một bản sao của văn bản gốc được tìm thấy ở Tây Tạng được mang đến Nepal thì mọi người thấy nó giống hệt…

📝: Phước duyên Quán đảnh Tâm Yếu Liên Hoa Tự Sinh sẽ được ban bởi chính tâm tử của Thánh Dilgo, Vị cũng chính là cháu ngoại của Tổ, Shechen Rabjam Rinpoche, viện chủ tu viện Shechen Nepal. Quán đảnh tại chùa Giác Ngộ vào ngày 13/12/2023. Hoan hỷ!

**ra

07/11/2023

🪄 𝐊𝐔𝐑𝐔𝐊𝐔𝐋𝐋𝐀 - 𝐃𝐈𝐕𝐀- 𝐊𝐇𝐎̂𝐍𝐆 𝐇𝐀̀𝐍𝐇 𝐍𝐔̛̃ 𝐂𝐔̉𝐀 𝐏𝐇𝐀́𝐏 𝐓𝐇𝐔𝐀̣̂𝐓 𝐆𝐈𝐀́𝐂 𝐍𝐆𝐎̣̂.
𝐍𝐔̛̃ 𝐏𝐇𝐔̀ 𝐓𝐇𝐔𝐘̉ 𝐂𝐇𝐔𝐘𝐄̂̉𝐍 𝐇𝐎𝐀́ 𝐒𝐔̛̣ 𝐐𝐔𝐘𝐄̂́𝐍 𝐑𝐔̃ 𝐓𝐇𝐀̀𝐍𝐇 𝐍𝐆𝐔𝐘𝐄̂𝐍 𝐍𝐇𝐀̂𝐍 𝐂𝐔̉𝐀 𝐓𝐑𝐈́ 𝐓𝐔𝐄̣̂.

Kurukulla có thể được coi là ngôi sao nhạc pop, là một "Diva" của chư Không Hành Mẫu. Bổn Tôn giống như một người nổi tiếng xinh đẹp và hiện đại, luôn ủng hộ những mục đích xứng đáng; Ngài tỏa sáng với vẻ đẹp linh thánh và giác ngộ để thu hút chúng sinh đến với Phật Pháp. Sử dụng "phép thuật" đầy mê hoặc của mình để xóa bỏ những chướng ngại của chúng sinh cho việc thực hành. Tất cả chúng ta có để ý rằng có phải mỗi người đều cần một chút quyến rũ, thu hút trong cuộc sống của mình?

Ngày nay Nữ Tôn vẫn nổi tiếng như hàng trăm năm về trước. Là một Vị Không Hành Mẫu của thực hành Mật Điển cao cấp, Ngài là "nhân của trí tuệ" - tên tiếng Tạng là Rigyedmna ( རིག་བྱེད་མ) dịch theo nghĩa đen là "Bổn Tôn là nhân của tri thức". Mặc dù Ngài có những hóa thân và thực hành riêng, Ngài vẫn được coi là một hóa thân của Tara: Tarobhava Kurukulla, “Kurukulla xuất phát từ Tara” (Tara Đỏ: sgrol-ma dmar-po. ) Như được mô tả trong "Hướng dẫn thực hành Thánh Tara Kurukulla", được dịch từ bản chú giải giới thiệu của văn bản Kangyur (dự án 84000):

"Là một Bổn Tôn, Đức Bà được hiểu là thể hiện khía cạnh trí tuệ của sự giác ngộ (tức là không tính) và như một hoá thân của Đấng cứu thế Tārā, là một biểu hiện của Quan Thế Âm, thể hiện lòng từ bi với tất cả.
Nhưng phẩm chất đặc biệt của Ngài có liên quan đến "hoạt động" của sự giác ngộ. Nhiều Kinh Văn mô tả hoạt động tự giác và bất dụng công của Phật vì lợi ích của chúng sinh.”

Trong một câu kệ nghi lễ của Nyingma, Đức Bà được mô tả tương tự:
"Đỉnh cao của nhận thức nguyên sơ và lòng từ bi của tất cả Đấng Chiến Thắng, khởi sinh như sự hạnh phúc- tính không. Nữ tôn quyền năng, kiểm soát tất cả chúng sinh của ba cõi với dung mạo quyến rũ; con xin kính lễ Không Hành Mẫu. ”

HOÁ THÂN DIỆU KỲ CỦA TARA

Ai cũng thích những phép màu dễ thương. Kurukulla là tất cả của sự quyến rũ. Giống như những hình thái khác của Tara, Ngài có thể sử dụng vẻ đẹp thần thánh để thu hút và ảnh hưởng, Kurukulla nắm giữ điều này, nhưng đến mức cực đoan khiêu gợi. Đây chính là những khía cạnh kỳ diệu và kỳ lạ của Kurukulla, điều giữ cho Liên Hoa Không Hành Mẫu phổ biến ngay cả hiện tại và trong nhiều thế kỷ trước. Mặc dù Ngài thường gắn liền với "sức hấp dẫn" và "từ hóa" - là một khía cạnh tổng thể của Hồng Liên Hoa Bộ của Phật A Di Đà, Quan Âm và Mã Đầu Minh Vương- Ngài không phải là một vị Nữ Thần thông thường. Mặc dù được mô tả với sức mạnh thu hút “thần kỳ", điều đó không vì mục đích tham lam là thu hút bạn tình, tiền bạc, hay thứ xa xỉ.
Giống như những hoá thân khác của Tara, Kurukulla nói về những “hoạt động” của lòng từ, trong trường hợp này là sự hấp dẫn và mê hoặc. Và, giống như tất cả các Vị Tara khác, đây là một phương tiện khéo léo để giúp chúng sinh bạt trừ chướng ngại trong thực hành của chính mình, bằng cách thu hút vận may cho Tăng Đoàn, hoặc cho hành giả. Với chỉ duy nhất một mục tiêu là thiện hạnh, Bồ Đề Tâm, việc thực hành Ngài có thể có khía cạnh thiện hạnh để tạo ra điều kiện lành mạnh cho việc thực hành.

Kurukulla là Vị đẹp nhất của Dakini. Là một Không Hành Mẫu của gia đình Liên Hoa, Bổn tôn đại diện cho Đạo và Ngữ. Một cách để hiểu về vẻ ngoài quyến rũ của Ngài như một biểu tượng cho sự "sự hấp dẫn" của Đạo. Danh hiệu của Ngài được dịch là "Nữ Thần là nguyên nhân của kiến thức”. Cung và tên Ngài cầm được tạo thành từ hoa Uptala đỏ, thánh hoa đối với Tara và Gia đình Liên Hoa của Phật A Di Đà, tượng trưng cho lòng từ bi.

Tương tự như Vajrayogini, vẻ ngoài của Kurukulla chính là phong trào, sôi động, trẻ trung, năng động, gợi cảm. Để đại diện cho khía cạnh từ hoá của mình, và gia đình Liên Hoa, Ngài được hình dung là thân ánh sáng màu đỏ tỏa chiếu. Ngài nhảy múa, như hầu hết các Dakini đã làm, để đại diện cho hoạt động của mình như một Bổn tôn thông thái, và dưới chân Ngài dẫm lên asura Rahu (người nuốt mặt trời. )

Bổn Tôn thường có bốn cánh tay, một số thân khác là tám cánh tay. Ngài thường cầm một chiếc cung và mũi tên bằng những bông hoa xinh đẹp trong đôi tay của mình. Một tay cầm một cái móc và một tay cầm thòng lọng hoa. Như với tất cả các hình ảnh trong Mật Điển, cần một lời chú giải của một Vị Thầy. Độ sâu của biểu tượng rất thâm thuý. Đức Bà vừa là một hoá hiện Khía cạnh thiện hạnh Phật A Di Đà, vừa là một hình thức hoá thân của Tara.
Mật điển gốc của Ngài là Arya-Tara-Kurukulle-Kalpa (Thực hành Đức Tara Kurukullā cao quý), được dịch bởi Ts'utr'im jeya, một đệ tử thân thiết của Thánh Atisha vĩ đại.

Theo Tài nguyên Nghệ thuật Himilaya, người thu thập và lưu trữ bảo tàng nghệ thuật Phật Pháp chất lượng, Ngài được mô tả:
Kurukulle_Bổn tôn quyền năng.
"Hơi an bình và hơi phẫn nộ trong vẻ ngoài màu đỏ sẫm, có một khuôn mặt, ba mắt, mái tóc vàng sẫm chảy lên phía trên và bốn bàn tay. Trong đôi bàn tay đầu tiên được nâng lên là một cung và mũi tên được bằng hoa utpala màu đỏ và hướng về phía trái. Cặp thứ hai giữ bên phải một cái móc câu và tay còn lại một dây lasso. Trang hoàng với một vương miện gồm năm đầu lâu trắng, bông tai và một vòng cổ năm mươi đầu, Ngài đeo một chiếc khăn màu xanh lá cây và một chiếc váy da hổ. Đứng với chân phải co lên trong tư thế nhảy múa và chân trái dẫm lên một xác chết phía trên đĩa mặt trời và ngai hoa sen đỏ, được bao quanh bởi một vòng tròn lửa của nhận thức nguyên sơ.
Ở trung tâm trên cùng là A Di Đà, Vô Lượng Quang Như Lai , màu đỏ, ngồi với hai tay trong ấn thiền định đặt trong lòng một bình bát màu đen. Ở dưới trung tâm là những lễ vật quý giá của trang sức ước nguyện, san hô đỏ, và tương tự với những lọ hoa đứng ở mỗi bên.

CHI TIẾT HÌNH TƯỚNG
Cũng như với tất cả các vị Bổn Tôn Mật Điển Phật giáo, mỗi tư thế, tay, chân, hành động và phục sức là một biểu tượng đại diện cho chân lí sâu sắc. Trong trường hợp Kurukulla bốn tay, hình tướng phổ biến nhất:

* Màu đỏ: tượng trưng cho phương tây, lửa, Liên Hoa Bộ.

* Quyến rũ và đẹp đẽ: một thiếu nữ mười sáu tuổi (trong Phật giáo Tây Tạng, mười sáu tuổi thường tượng trưng cho sức sống trẻ trung), cho thấy sức mạnh thu hút, mê hoặc. Thu hút và mê hoặc những người theo dõi sự thông thái bên trong của mình và Đạo Pháp.

* Những luồng ánh sáng đỏ: toát ra từ hình hài xinh đẹp của Ngài, tượng trưng cho lòng từ bi vươn tới tất cả chúng sinh.

* Cung và mũi tên của hoa Uptala đỏ: màu đỏ là Padma (Liên Hoa Bộ) và hoa Uptala là linh thánh đối với Tara. Giống như Thần Tình Yêu Cupid, sức mạnh của Nữ Tôn xuyên qua chúng ta bằng sự thông thái đầy quyến rũ.

* Móc câu Vajra (cũng là hoa Uptala màu đỏ): trong đôi tay thứ hai, tay phải của Ngài cầm một móc Kim Cang (ở Ấn Độ, một con dê hoặc voi) để "móc lại" tất cả những sinh vật thiện cảm vào vòng tay nhân ái của Ngài.

* Dây thòng lọng Lasso: cũng được làm bằng hoa Uptala đỏ ở tay trái.

* Nhảy múa: Không Hành Nữ hầu như luôn xuất hiện trong hình thức "nhảy múa". Một phần, điều này tượng trưng cho bản chất khó nắm bắt, tinh ranh của Tính Không (Shunyata) và niềm vui thuần khiết của Quang Minh.

* Chân trái đứng trên một người nam - thường ám chỉ việc khuất phục cái tôi của chúng ta. Chân trái luôn là chân chính của chư nữ thần Dakini (trong khi nam thần phẫn nộ là chân phải. )

* Trang phục kỳ quặc: vương miện đầu lâu, tràng hoa đầu mới cắt, váy da hổ, lụa đẹp và vòng cổ.
Các hình tướng khác: Kurukulla, tùy thuộc vào dòng tu và truyền thống, cũng có thể xuất hiện với các màu sắc khác: xanh da trời, trắng, hồng, ngồi, hai tay, sáu tay hoặc trong một mandla đầy đủ 23 vị bổn tôn.

𝙇𝒖̛𝙪 𝒀́: 𝙆𝙪𝙧𝙪𝙠𝙡𝙡𝙖 𝙡𝒂̀ 𝙘𝒂́𝙘𝙝 𝙨𝒖̛̉ 𝙙𝒖̣𝙣𝙜 𝙫𝒂̀ 𝙥𝙝𝒂́𝙩 𝐚̂𝙢 đ𝒖́𝙣𝙜 𝙩𝒆̂𝙣 𝙩𝙝𝙞𝒆̂𝙣𝙜 𝙡𝙞𝒆̂𝙣𝙜 𝙘𝒖̉𝙖 𝙉𝒖̛̃ 𝙏𝙝𝒂̂̀𝙣. 𝙆𝙪𝙧𝙪𝙠𝙪𝙡𝙡𝙚 ( 𝙩𝒆̂𝙣 𝙜𝒐̣𝙞 𝙜𝒐̛̣𝙞 𝙘𝒂̉𝙢 𝙘𝒖̉𝙖 𝙉𝙜𝒂̀𝙞) 𝙝𝒂̂̀𝙪 𝙝𝒆̂́𝙩 đ𝒖̛𝒐̛̣𝙘 𝙨𝒖̛̉ 𝙙𝒖̣𝙣𝙜 𝙩𝙧𝙤𝙣𝙜 𝙩𝙝𝒂̂̀𝙣 𝙘𝙝𝒖́, 𝙫𝒂̀ 𝙠𝙝𝒐̂𝙣𝙜 𝙥𝙝𝒂̉𝙞 𝙡𝒂̀ 𝙘𝒂́𝙘𝙝 𝙫𝙞𝒆̂́𝙩 𝙝𝙤𝒂̣̆𝙘 𝙭𝒖̛𝙣𝙜 𝙙𝙖𝙣𝙝 𝙘𝒖̉𝙖 𝙉𝙜𝒂̀𝙞. 𝙆𝙪𝙧𝙪𝙠𝙪𝙡𝙡𝙚 𝙡𝒂̀ 𝙩𝙞𝒆̂́𝙣𝙜 𝙋𝙝𝒂̣𝙣 - 𝙫𝒊̀ 𝙫𝒂̣̂𝙮 "𝙚" đ𝒖̛𝒐̛̣𝙘 𝙥𝙝𝒂́𝙩 𝐚̂𝙢 (𝙡𝙪𝒐̂𝙣 𝙡𝙪𝒐̂𝙣) 𝙡𝒂̀ "𝙚𝙝". 𝙏𝙧𝙤𝙣𝙜 𝙩𝙝𝒂̂̀𝙣 𝙘𝙝𝒖́, 𝙙𝙤 đ𝒐́, 𝙣𝒐́ đ𝒖̛𝒐̛̣𝙘 𝙥𝙝𝒂́𝙩 𝐚̂𝙢 𝙡𝒂̀ 𝙆𝙪𝙧𝙪𝙠𝙪𝙡𝙡𝙚𝙝 (𝙆𝙃𝑶̂𝙉𝙂 𝙋𝙃𝑨̉𝙄 𝙆𝙪𝙧𝙪𝙠𝙪𝙡𝙚𝙚).

Nguồn: buddhaweekly.
~ Chuyển ngữ Trùng Quang~



🙏🙏🌸

06/11/2023

𝘽𝙖‐𝙇𝙖‐𝙈𝒂̣̂𝙩 𝙎𝒖̛́𝙘 𝙢𝒂̣𝙣𝙝 đ𝒂́𝙣𝙝 𝙩𝙝𝒂̆́𝙣𝙜 𝙗𝒐̂́𝙣 𝙢𝙖 𝙫𝒖̛𝒐̛𝙣𝙜 𝙣𝙝𝒖̛ 𝙩𝙝𝒆̂́ 𝙣𝒂̀𝙤…

Đức Milarepa cũng đã nói rằng, “không có năng lực nào vĩ đại hơn năng lực của Ba‐La‐Mật Sức mạnh trong việc đánh bại bốn ma vương.” Bốn ma vương gồm: ma vương ngũ uẩn, ma vương các cảm xúc ô nhiễm; ma vương con Trời, ma vương thần chết.
Ma vương ngũ uẩn được đánh bại khi chúng ta nhận ra rằng bản chất thật của ngũ uẩn, tứ đại, và các giác quan thì không có sự tồn tại thật sự nào cả. Ma vương ngũ uẩn được giải thoát khi chúng ta nhận ra về bản chất, ngũ uẩn thật sự thanh khiết và chính là các vị [Hộ] Phật.
Ma vương những cảm xúc tiêu cực được nhận ra và giải thoát khi chúng ta nhận ra rằng những phát khởi của tâm và những cảm xúc ô nhiễm không tồn tại thực sự, và khi được nhận ra thì chúng sẽ tan đi như là những tảng băng tan thành nước. Nhận ra được bản chất trỗng rỗng của những cảm xúc tiêu cực, ma vương cảm xúc ô nhiễm được giải phóng.
Ma vương con của Trời tựu chung chính là những dính mắc vào những vui thú tạm thời không thanh tịnh của đời này. Khi chúng ta nhận ra được hạnh phúc luân hồi không có bản chất thực tại và nỗ lực để đạt đến hạnh phúc vĩnh cửu và tối hậu của Giác Ngộ thì ma vương con của Trời được giải thoát.
Ma vương thần chết được giải thoát khi chúng ta nhận ra bản chất bất tử của Phật tánh. Khi chúng ta nhận rằng tâm mình thật sự không thể chết, chúng ta được giải phóng khỏi ma vương thần chết. Đó là cách mà Milarepa đã giải thích về Ba‐La‐Mật sức mạnh.

~Trích từ sách ’Thuyết giảng khóa tu Phật A Di Đà’_ Garchen Rinpoche’~

04/11/2023

˜”*°•.˜”*°• 𝐋𝐡𝐚𝐛𝐚𝐛 𝐃𝐡𝐮𝐜𝐡𝐞𝐧•°*”˜.•°*”˜
- 𝐧𝐠𝐚̀𝐲 𝐡𝐨̣̂𝐢 𝐇𝐚̣ 𝐭𝐡𝐞̂́ 𝐭𝐮̛̀ 𝐜𝐨̃𝐢 𝐭𝐫𝐨̛̀𝐢

Lhabab Dhuchen, ngày thứ 22 tháng thứ chín Tạng lịch năm Thỏ nước , là “Ngày hội Hạ thế từ cõi trời”. Đây là một trong bốn ngày đại lễ của Phật Giáo. Thân mẫu của Đức Phật, bà Maya Devi sinh vào cõi trời Đế Thíchi . Để báo hiếu và giải thoát mẹ, và để lợi lạc cho chúng sinh cõi trời, Đức Phật đã tới cõi trời thuyết Pháp suốt ba tháng. Khi Phật trở về nhân gian vua Đế Thích và Phạm Thiên đã hóa hiện ba chiếc thang dài 80.000 yojana vươn tới tận Sankisa. Khi Phật bước xuống chiếc thang giữa, hai vị đã tháp tùng Ngài và cầm lọng báu để tôn vinh Phật. Phật hạ thế tại vùng Sankisa, hiện nay là Uttar Pradesh, một trong 80 thánh địa Phật Giáo.
Chúng con xin thành Kính Đảnh Lễ hiện thân của lòng bi mẫn không thể nghĩ bàn suốt ba thời Đức Phật Shakyamuni.
Mong mọi sự tốt lành !

OM MUNI MUNI MAHA MUNIYE SOHA

30/10/2023

“𝘽𝑨̀-𝙈𝑬̣-𝙏𝑼̛̣-𝙏𝑨́𝙉𝙃 𝙗𝒊̣ 𝙘𝙝𝙚 𝙢𝒐̛̀ 𝙗𝒐̛̉𝙞 𝙥𝙝𝙞𝒆̂̀𝙣 𝙣𝒂̃𝙤.𝙋𝙝𝒂́𝙥 𝙩𝙪 𝙑𝒂̆𝙣 𝙏𝙝𝒖̀ 𝙘𝒐́ 𝙨𝒖̛́𝙘 𝙢𝒂̣𝙣𝙝𝙘𝙝𝒂̣̆𝙩 đ𝒖̛́𝙩 𝙜𝒐̂́𝙘 𝙧𝒆̂̃ 𝙫𝒐̂ 𝙢𝙞𝙣𝙝 𝙫𝒂̀ 𝙠𝙝𝙖𝙞 𝙢𝒐̛̉ 𝙩𝙧𝒊́ 𝙩𝙪𝒆̣̂ 𝙘𝙝𝙤 𝙩𝙖 𝙣𝙝𝒂̣̂𝙣 𝙧𝙖 𝘽𝑨̀-𝙈𝑬̣-𝙏𝑼̛̣-𝙏𝑨́𝙉𝙃.”

Có thể nói rằng chúng ta là những kẻ lạc nhà, chúng ta rời bỏ chân tâm bản tánh của mình, chúng ta không kết nối được với BÀ-MẸ-TỰ-TÁNH. Chính vì lẽ đó chúng ta lang thang trong luân hồi. Chừng nào chúng ta còn trong luân hồi, chừng đó ta còn gặp nhiều khổ đau, trắc trở, vấn nạn. BÀ-MẸ-TỰ-TÁNH bị che mờ bởi phiền não. Pháp tu Văn Thù có sức mạnh chặt đứt gốc rễ vô minh và khai mở trí tuệ cho ta nhận ra BÀ-MẸ-TỰ-TÁNH. Thực hành pháp Văn Thù Sư Lợi sẽ đem lại lợi lạc vô cùng lớn lao. Tóm lại, điều rất quan trọng, rất tốt đẹp cho chúng ta là trì chú Văn Thù, hồng danh đức Văn Thù, quán tưởng Văn Thù, nghĩ tưởng và cầu nguyện tới đức Văn Thù và tự tịnh hóa mình bằng thực hành pháp Văn Thù Sư Lợi.

~ Hungkar Dorje Rinpoche~
Việt dịch Hiếu Thiện.

Address

Zangdok Palri
Swat

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tinh Hoa Kim Cương Thừa posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share