Cộng đoàn Hanshin-Nigawa

Cộng đoàn Hanshin-Nigawa Cộng đoàn Công Giáo

PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH 27/08/2026 THÁNH MÔNICA Thánh Monica – Người Vợ, Người Mẹ Can Đảm Và Đạo Hạnh        TÓM LƯỢC LỊCH SỬ...
26/08/2026

PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH 27/08/2026 THÁNH MÔNICA

Thánh Monica – Người Vợ, Người Mẹ Can Đảm Và Đạo Hạnh

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ

Monica sinh năm 332 tại Thagaste, Numidia, đế quốc Roma. Ngày nay là Souk Ahras, Algeria.

Qua đời năm 387 tại Ostia, Italy, đế quốc Roma. Hưởng dương 55 tuổi. Góa chồng năm 38 tuổi.

Được tôn kính tại Giáo Hội Chính Thống Đông Phương, Cộng Đồng Anh Giáo, Chính Thống Đông Phương (gồm các giáo hội Ethiopian, Coptic, Armenian, Syrian, Indian và Eritrean) và Tin Lành Lutheran.

Lễ kính ngày 27 tháng 8.

Thánh Monica là vị thánh giúp giải quyết những cuộc hôn nhân gặp khó khăn, đổ vỡ,

Giúp những con cái hư hỏng quay trở về,

Giúp những nạn nhân của ngoại tình, những nạn nhân bị hành hung, thóa mạ, và hoán chuyển những người thân trong gia đình.

CUỘC ĐỜI CỦA THÁNH NỮ

Thánh Monica (c.331/2−387), (AD 322-387), còn được gọi là Thánh Monica thành Hippo, là một trong những vị thánh thuộc Công Giáo tiên khởi, thế kỷ thứ ba, và là mẹ của Thánh Augustine, Giám Mục, Tiến Sỹ Hội Thánh. Thánh Monica được tôn kính trong hầu hết cộng đồng và cộng đoàn Kitô giáo, các nữ tu viện vì những nhân đức anh hùng, phi thường, đặc biệt là sự can đảm, hy sinh, và bền bỉ trong kinh nguyện trước những đau khổ gây ra bởi người chồng ngoại tình, và người con hoang đàng. Nhờ liên lỷ cầu nguyện, siêng năng trong gương sáng và sự hy sinh, Monica đã đưa bà mẹ chồng, chồng và con là Augustine trở lại với Chúa, với Giáo Hội. Chính Thánh Augustine sau đó đã viết về người mẹ và cuộc trở lại của mình trong cuốn Tự Thuật (Confessions) của ngài.

Monica được cho là đã sinh ra tại Thagaste, ngày nay gọi là Souk Ahras thuộc Algeria. Monica kết hôn rất trẻ với Patricius, một viên chức ngoại đạo người Roma cai trị Thagaste. Ông được biết đến như một người với tính tình nóng nảy, cộc cằn, và có lối sống thiếu đạo đức. Những điều này là do di sản ông được truyền thụ từ mẹ của ông. Do đó, những việc làm đạo đức như cầu nguyện, thăm hỏi, giúp đỡ người cùng khổ của Monica đã làm cho Patricius bực bội, tuy vậy, ông vẫn giữ được sự kính nể đối với vợ mình. Nhờ lời cầu nguyện của Monica, một năm trước khi Patricius qua đời cả ông và mẹ ông đã được rửa tội.

Monica có ba người con, hai trai là Augustine và Navigius, và một gái là Perpetua, nhưng không một người con nào được rửa tội. Trường hợp Augustine hơi đặc biệt, trong lúc còn nhỏ, Augustine bị bệnh nặng, Monica đã nài nỉ chồng cho phép Augustine được rửa tội, Patricius đã đồng ý, nhưng khi Augustine khỏe lại, ông đã rút lại lời hứa.

Thời gian đi qua, trong khi Perpetua và Navigius bước vào đời sống đạo hạnh, thì Augustine lại bắt đầu cuộc sống lêu lổng, lười biếng. Augustine sau đó đã được gửi vào trường ở Madauros. Khi lên 17 tuổi, trong lúc ông đang theo học khoa tu từ học (rhetoric) tại Carthage thì cha ông, Patricius qua đời.

Cũng trong thời gian tại Carthage, Augustine đã theo giáo phái Manichaeism (Giáo phái Nhị Nguyên). Một giáo phái coi thế giới nguyên thủy xung đột giữa ánh sáng và bóng tối. Sau khi chết, con người được đưa khỏi thế giới vật chất để trở lại thế giới của ánh sáng, nơi mà từ đó sự sống của nó được tạo thành, và điều này khiến cho thánh Monica rất đau khổ. Monica đã có lần đuổi Augustine ra khỏi nhà. Mặc dầu vậy, thánh nữ vẫn tin tưởng rằng với lời cầu nguyện, Augustine sẽ sớm được ơn ăn năn trở lại.

Một hôm, trong khi viếng một vị giám mục, ngài đã an ủi Monica rằng “một đứa con với những giọt nước mắt của người mẹ sẽ không bao giờ bị hư mất”. Can đảm, nhẫn nại và tin tưởng vào sức mạnh của lời cầu nguyện, Monica đã theo người con đi hoang này đến tận Roma, khi Augustine âm thầm trốn nhà. Nhưng khi Monica đến Roma thì Augustine lại trốn mẹ đi Milan. Không thất vọng, Monica đã đến Milan, ở đó gặp được Thánh Ambrose, nhờ ngài, Monica đã vui mừng nhìn thấy Augustine được ơn về lại với Chúa sau 17 năm trong nước mắt và kinh nguyện của mình.

Mẹ con đã trải qua sáu tháng hạnh phúc tại Rus Cassiciacum (ngày nay là Cassago Brianza), sau khi Augustine lãnh phép rửa tội tại thánh đường Gioan Tẩy Giả tại Milan. Trên con đường trở lại cố hương, cả hai đã dừng chân tại Civitavecchia và Ostia. Chính ở đây Monica đã trút hơi thở cuối cùng để lại cho Augustine một sự nhớ thương và ông đã kết thúc cuốn Tự Thuật của mình ở đây.

Monica qua đời tại Ostia gần Roma vào năm 387. Thánh nữ được an táng tại Ostia. Những năm đầu hầu như bị quên lãng, mặc dù xác của thánh nữ được đưa về một hầm mộ dưới thánh đường Thánh Aureus vào thế kỷ thứ sáu. Vào thế kỷ thứ 13, phong trào tôn kính thánh nữ lan rộng, và lễ kính vào ngày 4 tháng Năm. Năm 1430, Giáo Hoàng Martin V truyền mang xác thánh nữ về Roma. Tại đây có rất nhiều phép lạ đã được thực hiện do lời cầu bầu của thánh nữ. Sau này, Tổng Giám Mục Rouen là Hồng Y d’Estouteville đã truyền xây một thánh đường dâng kính thánh Augustine ở Roma, và thánh tích của thánh nữ đã được mang về đây đặt tại bàn thờ bên trái thánh đường này.

Năm 1850 một hội được thành lập tại Notre Dame de Sion ở Paris do các bà mẹ Công Giáo dưới sự bảo trợ của Thánh Monica chuyên về cầu nguyện cho những người con và người chồng hoang đàng. Năm 1856 hội này được nâng lên thành Đoàn Thể Công Giáo lan rộng khắp thế giới có trụ sở tại Dublin, London, Liverpool, Sydney, Buenos Aires. Trước đó đã lâu, Giáo Hoàng Eugenius IV cũng đã cho phép thành lập một đoàn thể tương tự để hoạt động dưới sự phù trợ của Thánh Monica.

KINH CẦU VỚI THÁNH MONICA

Lạy Thánh Monica,

Con xin Ngài cầu cùng Chúa cho con.

Ngài thấu hiểu con đang cảm thấy như thế nào vì chính ngài cũng đã từng trải qua những đoạn trường ấy.

Con đang đau khổ, vô vọng, và thất vọng.

Con ao ước đứa con của con được trở về với Chúa Kitô và Giáo Hội, nhưng con không thể làm gì một mình.

Con cần ơn Chúa giúp.

Xin ngài cùng với con cầu xin ân sủng quyền năng của Thiên Chúa tuôn đổ trên đời sống của con con.

Xin ngài cầu cùng Chúa Giêsu làm tan chảy trái tim con của con, để chuẩn bị con đường ăn năn trở về, và xin ban Chúa Thánh Thần xuống trong đời sống của con con.

Amen

Trần Mỹ Duyệt

PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH 24/08/2026 THÁNH BATÔLÔMÊÔ , TÔNG ĐỒTrong Tân Ước, Thánh Batôlômêô chỉ được nhắc đến trong danh sách ...
23/08/2026

PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH 24/08/2026 THÁNH BATÔLÔMÊÔ , TÔNG ĐỒ

Trong Tân Ước, Thánh Batôlômêô chỉ được nhắc đến trong danh sách các tông đồ. Một số học giả cho rằng ngài là Natanien, người Cana xứ Galilê được Philípphê mời đến gặp Ðức Giêsu. Và Ðức Giêsu đã khen ông: “Ðây đích thực là người Israel. Lòng dạ ngay thẳng” (Gioan 1:47b). Khi Natanien hỏi Ðức Giêsu làm sao Ngài biết ông, Ðức Giêsu trả lời “Tôi thấy anh ở dưới cây vả” (Gioan 1:48b). Ðiều tiết lộ kinh ngạc này đã khiến Natanien phải kêu lên, “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa; chính Thầy là Vua Israel” (Gioan 1:49b). Nhưng Ðức Giêsu đã phản ứng lại, “Có phải anh tin vì tôi nói với anh là tôi thấy anh dưới cây vả? Anh sẽ được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa!” (Gioan 1:50)

Quả thật Natanien đã được nhìn thấy những điều trọng đại. Ngài là một trong những người được Ðức Giêsu hiện ra trên bờ biển Tiberia sau khi Phục Sinh (x. Gioan 21:1-14). Lúc ấy các ngài chài lưới cả đêm mà không được gì cả. Vào buổi sáng, họ thấy có người đứng trên bờ dù rằng không ai biết đó là Ðức Giêsu. Ngài bảo họ tiếp tục thả lưới, và họ bắt được nhiều cá đến nỗi không thể kéo lưới lên nổi. Sau đó Gioan nói với Phêrô, “Chính Thầy đó.”

Khi họ d**g thuyền vào bờ, họ thấy có đám lửa, với một ít cá đang nướng và một ít bánh. Ðức Giêsu bảo họ đem cho mấy con cá tươi, và mời họ đến dùng bữa. Thánh Gioan kể rằng mặc dù họ biết đó là Ðức Giêsu, nhưng không một tông đồ nào dám hỏi ngài là ai. Thánh Gioan cho biết, đó là lần thứ ba Ðức Giêsu hiện ra với các tông đồ.

Sổ Tử Ðạo Rôma viết rằng Thánh Batôlômêô đã rao giảng ở Ấn và Armenia, là nơi ngài bị lột da và bị chém đầu bởi vua Astyages.

Lời Bàn

Batôlômêô hay Natanien? Một lần nữa chúng ta phải đương đầu với sự kiện là hầu như chúng ta không biết gì về các tông đồ. Tuy vô danh nhưng các vị vẫn là nền tảng, là 12 cột trụ của Israel mới mà 12 chi tộc ấy đã tràn lan trên khắp mặt đất. Cá tính của các ngài chỉ là thứ yếu (nhưng không vì thế mà bị coi thường) so với nhiệm vụ trao truyền lại những gì các ngài được cảm nhận đầu tiên, được lên tiếng nhân danh Ðức Giêsu, được đưa Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể vào ngôn ngữ loài người để khai sáng thế gian. Sự thánh thiện của các ngài không phải là thái độ trầm ngâm về thân phận trước mặt Thiên Chúa. Ðó là một ơn sủng mà họ phải chia sẻ với tha nhân. Ðược gọi là Tin Mừng vì tất cả chúng ta được mời gọi trở nên thánh thiện khi là phần tử của Ðức Kitô, qua ơn sủng từ bi của Thiên Chúa.

Sự thật thì loài người hoàn toàn vô dụng trừ phi được Thiên Chúa lưu tâm. Do đó, vì được trở nên thánh thiện bởi chính sự thánh thiện của Thiên Chúa, nhân loại trở thành tạo vật quý báu nhất của Thiên Chúa.

Lời Trích

“Cũng như chính Ðức Kitô, các tông đồ không ngừng làm chứng cho chân lý của Thiên Chúa. Họ chứng tỏ sự can đảm khác thường khi ‘mạnh dạn nói lời của Thiên Chúa’ (TÐCV 4:31) trước dân chúng và nhà cầm quyền. Với đức tin mạnh mẽ, các ngài xác tín rằng chính phúc âm là sức mạnh của Thiên Chúa để cứu chuộc những người có lòng tin… Các ngài đã noi gương hiền lành và khiêm nhường của Ðức Kitô” (Tuyên Ngôn Về Tự Do Tôn Giáo, 11).

https://hddmvn.net/tusach/tusach/hanhcacthanh/theovetchannguoi.htm

Bài học tiếp theo …BẠN MUỐN TÌM HIỂU ĐẠO CÔNG GIÁO QUA KHOÁ HỌC GIÁO LÝ DỰ TÒNG .Bài 4 và Bài 5Xem video hỗ trợ cho bài ...
20/08/2026

Bài học tiếp theo …
BẠN MUỐN TÌM HIỂU ĐẠO CÔNG GIÁO QUA KHOÁ HỌC GIÁO LÝ DỰ TÒNG .
Bài 4 và Bài 5
Xem video hỗ trợ cho bài học . Video đề cập đến những nội dung nào ?
https://youtu.be/UnG9IK032n8?si=ha0Z8WW5dEQT5fry
……
PHẦN I : THIÊN CHÚA,ĐẤNG TẠO HÓA
BÀI 4 : THIÊN CHÚA DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT MUÔN VẬT
VÀ LOÀI NGƯỜI
I. LỜI CHÚA : “Thiên Chúa phán : Chúng ta sẽ làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới mặt đất” (St 1,26).
II. TRÌNH BÀY : Vào một lúc nào đó trong cuộc đời (sau một thất bại, trong cơn đau đớn dai dẳng, khi bị phản bội...). Nhiều người đặt câu hỏi : Loài người bởi đâu mà có ? Tôi sống ở đời này để làm gì ? Chết rồi đi đâu ? Trời đất tự nhiên mà có sao ? ...
Khoa học, Triết học, Tôn giáo, cả một suy luận bình dân đều muốn trả lời các vấn nạn trên.
Đạo Công giáo, tôn trọng ý kiến mọi người, tôn trọng niềm tin của các tôn giáo. Tuy nhiên, dựa vào Mạc Khải, đạo Công Giáo có những xác tín sau đây :
1. Vũ trụ bởi Thiên Chúa mà có
- Theo Thánh Kinh, Thiên Chúa dùng quyền năng mình mà dựng nên vũ trụ. Từ ngữ “dựng nên” khác với “chế tạo”. “Chế tạo” là dùng vật liệu đã có làm thành cái khác. “Dựng nên” là từ “không” làm cho “có” : chỉ Thiên Chúa mới có khả năng “dựng nên”, còn loài người thì “chế tạo”. Thiên Chúa phán một lời, các vật thể lần lượt xuất hiện.
- Các sinh vật xuất hiện thế nào trên mặt đất ?
Thánh Kinh không trực tiếp giải đáp vấn nạn này, mà qua mmột số hình ảnh trong sách Sáng thế (St1), Thánh Kinh có ý dạy rằng : cả sự sông trên trái đất cũng do Thiên Chúa dựng nên.
- Vũ trụ được dựng nên vì loài người và cho loài người.
Thiên Chúa dựng nên vũ trụ để loài người có nơi cư ngụ, có thực phẩm nuôi sống. Vũ trụ vật chất là cái nôi, là nguồn cung cấp lương thực cho loài người.
2. Thế còn loài người ?
- Loài người cũng do Thiên Chúa dựng nên. Thánh Kinh dùng những hình ảnh như : Thiên Chúa lấy bùn đất nặn nên một thân xác hà hơi vào cho thân xác ấy sống động, là có ý nói : Loài người gồm có hồn và xác. Xác là vât chất nên sẽ tiêu tan theo luật vật chất. Còn linh hồn thì thiêng liêng và bất tử.
- Loài người là hình ảnh của Thiên Chúa. Thánh Kinh ghi lại rằng trước khi dựng nên loài người, Thiên Chúa suy nghĩ rồi quyết định : “Chúng ta sẽ làm ra con người theo hình ảnh chúng ta” (St 1,26). Cách diễn tả này vừa nói lên Thiên Chúa quan tâm đặc biệt khi dựng nên loài người, vừa nói lên loài người có phẩm giá rất cao quý, vì là hình ảnh của Thiên Chúa.
+ Loài người là hình ảnh của Thiên Chúa nhờ có lý trí, ý chí, tự do (do đó có trách nhiệm và có thưởng phạt).
+ Người nữ cũng do Thiên Chúa tác thành, cùng phẩm giá và bình đẳng với người nam.
+ Hôn nhân là cách thế tự nhiên giúp đôi bạn phát triển nhân cách, xây dựng xã hội và Hội Thánh.
- Loài ngưòi được tham dự hạnh phúc của Thiên Chúa.
Thánh Kinh cho biết Thiên Chúa đặt nguyên tổ loài người sinh sống trong vườn địa đàng, làm chủ và hưởng dùng mọi tạo vật. Điều đó nói lên loài người được tham dự hạnh phúc của Thiên Chúa .
+ Ở đời này, loài người sống và thực hiện thánh ý Thiên Chúa (biến cải vũ trụ thêm xinh đẹp hơn, nhận biết Thiên Chúa là cha, xây dựng đời sống cộng đồng trong yêu thương).
+ Ở đời sau, loài người được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa .
Như vậy, loài người là chủ thế giới hữu hình do Thiên Chúa dựng nên, có sứ mệnh nhận biết, tôn thờ, yêu mến Người, yêu thương hòa thuận với nhau như anh em một nhà, để được hạnh phúc vĩnh cửu.
3. Ngoài tạo vật hữu hình, Thiên Chúa còn dựng nên loài nào nữa không ?
- Thiên Chúa còn dựng nên loài vô hình là các Thiên thần. Các Thiên thần có nghĩa vụ tôn thờ Thiên Chúa, thi hành mệnh lệnh của Ngài.
- Thiên Chúa cũng dự định cho các Thiên thần được hưởng hạnh phúc đời đời. Tiếc thay một số đã phản bội, nên bị phạt hỏa ngục, gọi là ma quỷ. Chính ma quỷ xúi dục nguyên tổ Ađam-Eva phạm tội, gây nên tình trạng khổ cực cho ông bà và con cháu. Ngày nay, ma quỷ luôn cám dỗ ta phạm tội mất lòng Chúa như lời Thánh Phêrô : “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử đang gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng trong đức tin mà chống cự” (1Pr 5,8-9).
III. BÀI HỌC
8. H. Trời đất muôn vật bởi đâu mà có ?
T. Trời đất muôn vật bởi Thiên Chúa dựng nên.
9. H. Loài người là loài nào ?
T. Loài người là loài có linh hồn và xác, Chúa đã dựng nên giống hình ảnh Người, cho làm chủ vũ trụ và hưởng hạnh phúc đời đời.
IV. THÁI ĐỘ SỐNG : Nhờ Thánh Kinh, tôi biết Thiên Chúa dựng nên loài người có phẩm giá cao quý. Tôi quyết tâm sống ngay thẳng thật thà và bảo vệ sự sống.
V. CẦU NGUYỆN : Lạy Chúa, Chúa dựng nên chúng con theo hình ảnh Chúa. Chúng con cảm tạ Chúa. Xin cho chúng con biết sống xứng đáng phẩm giá làm người và làm con Chúa. Amen.
-------------------o0o--------------------
BÀI 5 : LOÀI NGƯỜI SA NGÃ
TỘI – LỜI HỨA CỨU ĐỘ
I. LỜI CHÚA : “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy ; dòng giốnng ấy sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn gót nó” (St 3,15).
II. TRÌNH BÀY : Loài người có lý trí, ý chí và tự do nên phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình : làm lành thì được hưởng, làm dữ thì bị phạt. Thánh Kinh cho biết trình trạng và số phận của loài người như sau :
1. Hạnh phúc ban đầu : Sau khi dựng nên loài người, Thiên Chúa cho ở trong vườn địa đàng. “Thiên Chúa trồng một vườn ở Êđen, khiến mọc lên từ đất đai đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon với cây trường sinh ở giữa vườn” (St 2,8-9) là kiểu nói mô tả cuộc sống hạnh phúc ban đầu ấy. Ở trình trạng nguyên thủy này, loài người có trí khôn minh mẫn, ý chí hướng về điều lành, không phải đau khổ, không phải chết.
2. Loài người sa ngã : Thánh Kinh thuật lại rằng Thiên Chúa đã đặt nguyên tổ Ađam-Eva trong trình trạng thử thách, để ông bà có cơ hội tỏ lòng tuân phục Thiên Chúa và biểu lộ thái độ hiếu thảo của con cái. Hình ảnh “con rắn và trái cấm” mô tả cách bình dân cuộc thử thách đó. Ông bà sa ngã. Căn bản tội phạm này là : “Tạo vật không tuân phục Tạo Hóa”. Thiên Chúa căn dặn : “Ngày nào ăn trái cây đó, ngươi sẽ phải chết”. Ông bà biết rõ là lệnh cấm nghiêm nhặt, nhưng vì Satan phỉnh gạt “không chết đâu : Thiên Chúa biết ngày nào ăn, ông bà được bằng Thiên Chúa”. Tội kiêu ngạo muốn bằng Thiên Chúa làm đảo lộn cuộc sống hiện tại và tương lai của ông bà và con cháu : Ông bà bị đuổi khỏi vườn địa đàng, phải chết. Điều tai hại nhất, là ông bà và con cháu mất tình thuận hảo với Thiên Chúa, mất hy vọng sống hạnh phúc mai sau, phải trầm luân hỏa ngục đời đời.
3. Tội : Tội phản bội Thiên Chúa của nguyên tổ Ađam –Eva, gọi là tội tổ tông. Tội này tác hại khủng khiếp trên con cháu : mất vinh dự làm con Chúa, không được hưởng gia tài mai sau, làm cho lý trí ra tối tăm, ý chí suy nhược, tình dục nổi loạn ; thúc giục loài người tiếp tục làm trái lệnh Thiên Chúa : kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, lười biếng.
Loài người càng đông, tội càng lan tràn... tới độ Thiên Chúa phải thanh tẩy mặt đất bằng những tai họa.
Ngoại trừ Đức Maria được Thiên Chúa gìn giữ làm Mẹ Chúa Cứu Thế sau này, còn tất cả loài người đều bị liên lụy bởi tội tổ tông, tất cả trở thành tội nhân trước mặt Chúa.
Có người hỏi : Tại sao Ađam –Eva phạm tội mà con cháu phải chịu lây ? Thưa, vì Ađam-Eva đứng đầu loài người, đại diện loài người. Nếu như Ađam –Eva trung thành giữ luật Chúa, cả loài người đượcc hưởng hạnh phúc. Giờ đây, ông bà bất tuân lệnh Chúa, thì con cháu bị liên lụy, là điều hợp lý. Mặt khác chính tội riêng của mỗi người làm tình trạng này trở nên bi đát hơn. Như thế, loài người sinh ra ở trần gian này vừa mắc tội tổ tông, vừa có tội riêng.
4. Lời hứa cứu độ : Tuy nhiên, lòng Chúa xót thương thật hải hà nên sau khi tuyên phạt ông bà, Thiên Chúa đã phán một lời đầy hy vọng : “Ta sẽ gây mối thù giữa mi (con rắn cám dỗ) và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15). Lời này chỉ về người con của Mẹ Maria là Đức Giêsu Kitô, Đấng mà suốt thời Cựu Ước, các Ngôn sứ đã loan báo.
III. BÀI HỌC
10. H. Thiên Chúa đã ban cho nguyên tổ cuộc sống nào ?
T. Thiên Chúa ban cho nguyên tổ cuộc sống được làm con Chúa và nhiều đặc ân khác.
11. H. Nguyên tổ có được hạnh phúc đó mãi không ?
T. Không, vì nguyên tổ đã trái lệnh Chúa, nên mất hạnh phúc, chuốc lấy muôn vàn hậu quả tai hại cho mình và con cháu.
12. H. Tội là gì ?
T. Tội là sự lỗi luật Chúa và Hội Thánh trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót.
13. H. Thiên Chúa có thái độ nào khi nguyên tổ phạm tội ?
T. Thiên Chúa đã nghiêm phạt nguyên tổ, nhưng vẫn một lòng thương xót hứa ban ơn cứu độ.
IV. THÁI ĐỘ SỐNG : Xét bản thân, tôi thấy mình phạm nhiều tội lỗi. Vậy tôi quyết chí sống khiêm hạ và thận trọng trong mọi hoàn cảnh để được Chúa tha thứ tội lỗi và xứng đáng hưởng ơn cứu độ.
V. CẦU NGUYỆN : Lạy Chúa, con không dám trách cứ nguyên tổ nữa, vì chính tội lỗi con cũng đáng Chúa luận phạt rồi... Xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi của con, cho con biết cải thiện cuộc sống để xứng đáng hưởng ơn cứu độ.

TÌM HIỂU VỀ GIÁO LUẬT VỀ BÍ TÍCH HÔN PHỐI ( https://youtu.be/KX0Jc7_hv70?si=6UdRCXPA_iSrTXt3)“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợ...
20/08/2026

TÌM HIỂU VỀ
GIÁO LUẬT VỀ BÍ TÍCH HÔN PHỐI ( https://youtu.be/KX0Jc7_hv70?si=6UdRCXPA_iSrTXt3)
“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.
(Mc 10,9)
Hôn nhân không chỉ liên quan đến hai vợ chồng mà còn liên quan đến một phạm vi rộng lớn hơn, từ họ hàng hai bên cho đến xã hội, bởi vì gia đình là tế bào căn bản của xã hội. Gia đình có êm ấm thì xã hội mới ổn định và bền vững.
Vì mang tính xã hội, nên hôn nhân cần được pháp luật chứng nhận và bảo vệ. Tại Việt Nam, về mặt dân sự ta có luật “Hôn nhân và Gia đình” được Quốc Hội thông qua ngày 09.6.2000, gồm 110 điều. Còn về mặt tôn giáo, trong bộ luật của Hội Thánh, được gọi là giáo luật, ban hành ngày 25.01.1983, có 111 khoản về hôn nhân.
Luật của Hội Thánh chỉ ràng buộc đối với người Công giáo[1]. Khi đưa ra những luật này, Hội Thánh nhắm giúp con cái mình xây dựng một cuộc sống hôn nhân và gia đình bền vững, hạnh phúc, thánh thiện, thể hiện ơn gọi hôn nhân và gia đình như ý Thiên Chúa muốn.
1. Điều kiện cử hành bí tích Hôn phối
Để Bí tích Hôn phối thành sự, cần những điều kiện sau:
- Phải là một người nam và một người nữ, đã rửa tội[2].
- Hai người có tự do để kết hôn. Tự do ở đây có nghĩa là: Không bị ép buộc Không bị ngăn trở bởi luật tự nhiên hoặc luật Hội Thánh[3].
- Phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn của mình.
- Cử hành theo thể thức của Hội Thánh[4].
2. Các ngăn trở Hôn phối
Ngăn trở hôn phối là tình trạng hay hoàn cảnh làm cho cuộc hôn phối không thành sự hoặc bất hợp pháp.
Để có thể kết hôn thành sự, cả hai phải trong tình trạng tự do, không bị ngăn trở nào theo luật tự nhiên hoặc luật Hội Thánh. Những ngăn trở thuộc luật tự nhiên dựa trên hôn nhân như một định chế tự nhiên, chúng chi phối mọi người. Những ngăn trở thuộc luật Hội Thánh dựa trên bản chất bí tích của hôn nhân, cũng như trên mối liên hệ của hôn nhân với cộng đồng tín hữu, chỉ chi phối người Công giáo mà thôi.
Các ngăn trở hôn phối gồm có:
2.1. Ngăn trở do chưa đủ tuổi để kết hôn
Để kết hôn thành sự, nam phải đủ 16 tuổi, nữ phải đủ 14 tuổi[5]. Tuy nhiên, Hội Đồng Giám mục của mỗi quốc gia có quyền quy định tuổi cao hơn để kết hôn hợp pháp[6]. Tại Việt Nam, nam phải từ 20 tuổi trở lên, nữ 18 tuổi trở lên, theo như Luật Hôn nhân và Gia đình điều 9.
2.2. Ngăn trở do bất lực
Một trong hai người trước khi kết hôn đã mắc chứng bất lực, không thể chữa trị được[7]. Bất lực khác với vô sinh. Bất lực là không thể giao hợp. Còn vô sinh là không thể có con. Việc vô sinh không phải là một ngăn trở hôn phối[8].
2.3. Ngăn trở do đã kết hôn
Một trong hai người còn bị ràng buộc bởi dây Hôn phối trước[9]. Ngăn trở này chỉ chấm dứt khi:
- Người phối ngẫu chết[10].
- Hôn nhân thành sự nhưng chưa hoàn hợp, được Đức Giáo Hoàng đoạn tiêu vì lý do chính đáng[11].
- Hôn nhân giữa hai người chưa rửa tội được đoạn tiêu do đặc ân Phaolô nhằm bảo vệ đức tin của bên lãnh nhận phép Rửa tội, do chính sự kiện là bên được rửa tội lập hôn nhân mới, và bên không được rửa tội muốn phân ly[12].
2.4. Ngăn trở do khác biệt tôn giáo
Một bên Công giáo, còn một bên không Công giáo[13].
2.5. Ngăn trở do chức thánh
Những người đã chịu chức thánh không thể kết hôn thành sự[14]. Những người có chức thánh gồm: Giám mục, linh mục và phó tế.
2.6. Ngăn trở do khấn dòng
Những người chính thức thuộc về một dòng tu bằng lời khấn công khai sẽ vĩnh viễn sống khiết tịnh (hay còn gọi là khấn trọn đời, vĩnh khấn) không thể kết hôn thành sự[15].
2.7. Ngăn trở do bắt cóc
Hôn nhân bất thành đối với trường hợp bắt cóc người nữ để lấy cô ta[16].
2.8. Ngăn trở do tội mưu sát phối ngẫu
- Giết vợ hay giết chồng mình (kể cả âm mưu hoặc đồng loã) để lấy người khác.
- Giết vợ hay giết chồng của người phối ngẫu (kể cả âm mưu hoặc đồng loã) để lấy họ[17].
2.9. Ngăn trở do họ máu (huyết tộc)
- Theo hàng dọc: hôn nhân bất thành giữa mọi người trong họ máu hàng dọc[18].
- Theo hàng ngang: hôn nhân bất thành cho tới hết 4 bậc[19].
2.10. Ngăn trở do họ kết bạn
Hôn thuộc theo hàng dọc dù ở cấp nào cũng tiêu huỷ hôn phối[20]. Ví dụ, giữa cha chồng với con dâu, chàng rể với mẹ vợ. Tuy nhiên, theo hàng ngang thì không bị ngăn trở. Ví dụ: anh chồng có thể lấy em dâu, vợ chết có thể lấy em vợ.
2.11. Ngăn trở do công hạnh
Hay còn gọi là ngăn trở liêm sỉ. Ngăn trở này phát sinh do cuộc hôn phối bất thành sau khi đã có sống chung, hoặc do tư hôn công nhiên hay công khai. Ngăn trở này tiêu hủy hôn nhân giữa người nam với các người họ máu của người nữ bậc một hàng dọc, và ngược lại[21]. Chẳng hạn: nếu anh X đã từng chung chạ với cô Y, thì không thể lấy mẹ hoặc con riêng của cô Y; và cô Y cũng không thể lấy cha hoặc con riêng của anh X.
2.12. Ngăn trở do pháp tộc
Những người có họ hàng thân thuộc pháp lý do nghĩa dưỡng, ở hàng dọc hoặc hai bậc hàng ngang, không thể kết hôn với nhau thành sự[22]. Ngăn trở này làm hôn nhân bất thành giữa: con nuôi với cha mẹ nuôi; con nuôi với cha mẹ hoặc con cháu ruột của cha mẹ nuôi; hai con nuôi của cùng một cha mẹ nuôi.
3. Chuẩn ngăn trở
Nếu mắc phải một trong các ngăn trở trên, dù hai người có lấy nhau, hôn phối vẫn không thành. Đó chỉ là một sự chung chạ bất hợp pháp mà thôi. Để kết hôn thành sự và hợp pháp, cần phải xin phép chuẩn. Tuy nhiên, không phải ngăn trở nào Hội Thánh cũng có thể miễn chuẩn được.
Đối với những ngăn trở thuộc luật tự nhiên, Hội Thánh không có quyền miễn chuẩn. Đó là những ngăn trở:
- Do bất lực[23].
- Do đã kết hôn[24].
- Do có họ máu hàng dọc[25].
- Do có họ máu hai bậc hàng ngang[26].
Đối với những ngăn trở chỉ do luật Hội Thánh mà thôi thì Hội Thánh có quyền miễn chuẩn, và khi được miễn chuẩn thì cuộc hôn nhân thành sự.
Các ngăn trở Hội Thánh có thể miễn chuẩn khi có lý do chính đáng:
- Về tuổi tối thiểu.
- Về họ máu ba bậc trở đi theo hàng ngang: bà con và anh em họ.
- Về họ kết bạn.
- Về tội ác (tội mưu sát phối ngẫu)
- Về chức thánh.
- Về lời khấn.
- Về công hạnh.
- Về khác tôn giáo.

Riêng đối với các cuộc hôn nhân khác tôn giáo, sở dĩ Hội Thánh dè dặt và thận trọng chỉ vì yêu thương con cái. Muốn gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải hoà hợp. Tín ngưỡng là một vấn đề quan trọng. Nếu có sự khác biệt thì dễ xảy ra xung khắc, đe doạ sự hoà hợp, nhất là đối với việc giáo dục con cái. Tuy nhiên, cũng vì tôn trọng tự do, Hội Thánh không cấm đoán. Hội Thánh hy vọng lòng đạo đức của bên này sẽ thánh hoá bên kia[27].

4. Sự ưng thuận kết hôn
Hội Thánh coi việc hai người bày tỏ sự ưng thuận kết hôn là yếu tố cần thiết “làm nên hôn nhân”. Thiếu sự ưng thuận này thì hôn nhân không thành[28].
“Sự ưng thuận kết hôn là hành vi nhân linh - nghĩa là hành vi của con người có ý thức và tự do -, trong đó hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau: “Anh nhận em làm vợ”; “Em nhận anh làm chồng”. Sự ưng thuận này nối kết hai vợ chồng lại với nhau và được thể hiện trọn vẹn khi hai người “trở nên một xương một thịt” (x. St 2,24; Mc 10,8; Ep 5,31)[29]”. Bởi vậy, “sự ưng thuận này phải là một hành vi ý chí của mỗi bên kết hôn, không bị cưỡng bức vì bạo lực hay quá sợ hãi do một nguyên cớ bên ngoài. Không một quyền hành nào của loài người có thể thay thế sự ưng thuận này. Nếu thiếu sự tự do này, cuộc hôn nhân sẽ không thành[30]”.
Thiếu sự tự do ưng thuận thực sự giữa hai bên, khi:
- Không có đủ trí khôn[31].
- Thiếu trầm trọng trí phán đoán về những quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân[32].
- Vì bị tâm thần không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân[33].
- Vô tri: Không biết hôn nhân là gì[34].
- Lầm lẫn về người, hoặc về phẩm cách của người phối ngẫu[35].
- Lường gạt[36]. Khi chủ ý lừa dối về sự có hay không một phẩm cách của mình, nhằm đạt được sự ưng thuận của bên kia. Phẩm cách này quan trọng đến nỗi sau này khi khám phá ra thì đời sống hôn nhân có thể bị tác hại trầm trọng.
- Giả vờ ưng thuận, nhưng thực sự không muốn[37].
- Ưng thuận với điều kiện về tương lai. Đặt điều kiện về tương lai thì hôn nhân bất thành[38].
- Ưng thuận vì bạo lực hoặc vì sợ hãi[39]. Bạo lực: nếu bị người khác dùng sức mạnh để cưỡng ép ưng thuận kết hôn thì sự ưng thuận đó vô hiệu. Sợ hãi: sự sợ hãi có thể làm cho hôn nhân vô hiệu khi hội đủ 3 đặc tính sau:
a. Sợ hãi có tính cách trầm trọng chứ không phải vu vơ.
b. Sợ hãi do nguyên nhân ngoại tại, nghĩa là do một người khác gây ra chứ không phải do chính đương sự.
c. Sự sợ hãi có tính cách tất định, nghĩa là không có cách nào khác để thoát khỏi sự đe dọa ngoại trừ ưng thuận kết hôn.
5. Thể thức hôn phối
Để Hôn nhân thành sự, đôi hôn phối cần phải cử hành theo thể thức của Hội Thánh: Hôn nhân chỉ thành sự khi được kết ước trước mặt vị chứng hôn có thẩm quyền: hoặc cha xứ, hoặc một linh mục, hay phó tế được một trong hai vị trên ủy quyền, cùng với hai người làm chứng[40].
Linh mục (hay phó tế) chứng giám nghi thức Hôn phối, nhân danh Hội Thánh nhận lời ưng thuận của đôi hôn phối và chúc lành cho họ. Sự hiện diện của thừa tác viên Hội Thánh và của những người làm chứng cho thấy rõ hôn nhân là một bậc sống trong Hội Thánh[41].
Ngoài ra, còn phải cử hành tại nhà thờ giáo xứ, nơi một trong hai người kết hôn có chỗ thường trú, hoặc tạm trú một tháng. Nếu muốn cử hành nơi khác, phải có phép của Đấng Bản quyền sở tại hoặc cha xứ.[42]
 GHI NHỚ :
1. H. Để Bí tích Hôn phối thành sự phải có những điều kiện nào?
T. Phải có bốn điều kiện này:
- Một là một nam một nữ đã rửa tội.
- Hai là có tự do kết hôn, không bị ép buộc cũng không bị ngăn trở bởi luật tự nhiên hoặc luật Hội Thánh
- Ba là phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn.
- Bốn là cử hành theo thể thức của Hội Thánh.
2. H. Ngăn trở hôn phối là gì?
T. Ngăn trở hôn phối là những hoàn cảnh hoặc trường hợp làm cho cuộc phôn phối không thành sự hoặc bất hợp pháp.
3. H. Có bao nhiêu ngăn trở hôn phối?
T. Có 12 ngăn trở sau đây:
- Một là chưa đủ tuổi kết hôn
- Hai là bất lực, không thể sinh hoạt vợ chồng.
- Ba là còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.
- Bốn là khác tôn giáo.
- Năm là chức thánh.
- Sáu là khấn dòng.
- Bảy là bắt cóc.
- Tám là tội mưu sát phối ngẫu.
- Chín là có họ máu.
- Mười là có họ kết bạn.
- Mười một là công hạnh.
- Mười hai là pháp tộc.
4. H. Khi mắc ngăn trở thì phải làm gì?
T. Phải xin phép chuẩn. Tuy nhiên, có những ngăn trở Hội Thánh cũng không thể miễn chuẩn được, đó là các trường hợp:
- Một là bất lực,
- Hai là còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.
- Ba là có họ máu theo hàng dọc.
- Bốn là có họ máu hai bậc theo hàng ngang.
5. H. Vì sao sự ưng thuận kết hôn là yếu tố cần thiết làm nên hôn nhân?
T. Vì sự ưng thuận này nối kết hai vợ chồng lại với nhau và được thể hiện trọn vẹn khi hai người “trở nên một xương một thịt”. Không một quyền hành nào của loài người có thể thay thế sự ưng thuận này. Thiếu sự tự do này, cuộc hôn nhân sẽ không thành.
6. H. Những trường hợp nào thiếu sự tự do ưng thuận kết hôn?
T. Những trường hợp sau đây:
- Một là không có đủ trí khôn.
- Hai là thiếu trầm trọng trí phán đoán về những quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.
- Ba là vì tâm thần không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.
- Bốn là vô tri, không biết hôn nhân là gì.
- Năm là lầm lẫn về người, hoặc về phẩm cách của người phối ngẫu.
- Sáu là lường gạt.
- Bảy là giả vờ ưng thuận, nhưng thực sự không muốn.
- Tám là ưng thuận với điều kiện về tương lai.
- Chín là ưng thuận vì bạo lực hoặc vì sợ hãi.
 GỢI Ý SUY NGHĨ :
1. Vì sao Hội Thánh lại có những điều luật về Hôn nhân? Đâu là mục đích của những điều luật đó?
2. Vì sao trong việc lập gia đình, Hội Thánh nhấn mạnh khía cạnh tự do ưng thuận?
3. Phải chăng Hội Thánh có thể miễn chuẩn mọi ngăn trở hôn phối? Tại sao?
 CẦU NGUYỆN :
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa, vì Chúa hằng yêu thương chúng con. Xưa kia Chúa đã ban lề luật cho dân Israel, để giúp họ sống trung thành với giao ước, xứng đáng là dân Chúa. Chúa đã mời gọi chúng con bước vào đời sống hôn nhân và gia đình, để làm chứng cho tình yêu của Chúa, và Chúa đã ban cho chúng con Hội Thánh, để hướng dẫn chúng con. Xin giúp chúng con biết nghe theo lời giáo huấn của Hội Thánh, để cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc như ý Chúa muốn. Amen.

住所

4-2-11 Danjo Cho
Nishinomiya-shi, Hyogo

ウェブサイト

アラート

Cộng đoàn Hanshin-Nigawaがニュースとプロモを投稿した時に最初に知って当社にメールを送信する最初の人になりましょう。あなたのメールアドレスはその他の目的には使用されず、いつでもサブスクリプションを解除することができます。

事業に問い合わせをする

Cộng đoàn Hanshin-Nigawaにメッセージを送信:

ショートカット

共有する

カテゴリー