Làng Mai

Làng Mai Làng Mai là trung tâm thiền tập tại miền Nam nước Pháp được thiền sư Thích Nhất Hạnh thành lập vào năm 1982. [email protected]

Sau đó Làng Mai đã có thêm nhiều trung tâm khác tại châu Á, châu Âu và châu Mỹ. Trang Nhà Làng Mai (www.langmai.org) là một ngôi chùa điện tử nơi ấy các vị thân hữu của Làng Mai có thể đến thăm viếng, nghe pháp thoại, tụng kinh, dự pháp đàm, ngồi thiền, tụng giới, hát thiền ca và trao đổi kinh nghiệm tu học. Tại ngôi chùa điện tử này, chúng ta thực tập chánh tư duy và chánh ngữ, mọi tư tưởng và lờ

i nói đều đi về hướng hiểu biết và thương yêu và khuyến khích nhau đi tới trên đường chuyển hóa và trị liệu, cho bản thân cũng như cho gia đình và xã hội. Xin chân thành cảm tạ các vị thân hữu có nhã ý muốn đóng góp về kỹ thuật hay tài chính cho ngôi chùa điện tử của chúng ta càng ngày càng phục vụ hữu hiệu.

HỒN NHIÊN EM BÉ THƠ(Nhạc và lời: Thầy Pháp Thiên)Ngày Quốc tế Thiếu Nhi xin mời tăng thân và thân hữu gần xa thưởng thức...
01/06/2026

HỒN NHIÊN EM BÉ THƠ

(Nhạc và lời: Thầy Pháp Thiên)

Ngày Quốc tế Thiếu Nhi xin mời tăng thân và thân hữu gần xa thưởng thức bài hát Hồn nhiên em bé thơ" do thầy Pháp Thiên sáng tác và các thầy các sư cô trẻ Làng Mai trình bày, để nuôi dưỡng, giữ cho tươi mát và trị liệu em bé thơ trong mỗi chúng ta. Nếu nhìn cho thật kỹ, chúng ta sẽ thấy em bé thơ ấy đồng thời cũng có mặt xung quanh ta trong thế hệ tiếp nối, trong con, cháu, trong đàn hậu học, hay trong những người bạn vong niên...
Cầu mong tất cả các em bé thơ trên thế giới này đều được hạnh phúc, ấm no, bình an, được sống với tuổi thơ của mình một cách trọn vẹn.
Xin gửi tấm lòng và lời ước nguyện này đến những em bé thơ còn đang vất vả kiếm sống hoặc trong những hoàn cảnh khó khăn. Cầu mong cho các em được nhiều may mắn, sức khỏe và những thiện tri thức cùng những điều kiện tốt lành đến với các em.

Trân kính

Hồn nhiên em bé thơCười tươi như nắng maiTâm hồn em thơm nụ héTia sáng hồng tinh khôi.Đôi môi xinh thắm xinhĐôi mắt biếc sáng trongBàn tay em như búp măng tr...

NOI THEO ÁNH SÁNG CỦA BỤT(Sư cô Chân Lộc Nghiêm)Thư gửi Bụt nhân mùa Phật đảnXóm Hương Trà, ngày 20.05.2026Bụt kính thươ...
29/05/2026

NOI THEO ÁNH SÁNG CỦA BỤT
(Sư cô Chân Lộc Nghiêm)

Thư gửi Bụt nhân mùa Phật đản

Xóm Hương Trà, ngày 20.05.2026

Bụt kính thương,

Sáng nay khi chuông đại hồng vừa dứt, con đi về phía Bụt ở cội bồ đề trước khi lên thiền đường An Ban cho buổi công phu sáng. Bụt ngồi đó đầy tự tại dù đang ướt đẫm trong sương sớm, đêm qua mưa đầu mùa thật lớn. Con đứng lại bất giác mỉm cười vì nhớ người đồng bào ở đây hay nói: “ Khi nào thấy em bé một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất là biết mùa mưa về”. Cách nhắm chừng thời tiết dễ thương thiệt mà cũng đúng lắm, mùa Phật Đản đến rồi. Sắp tới ngày tiếp nối của Bụt nên đề tài của buổi thiền quán là: Con đang làm gì để nuôi dưỡng tính Bụt trong con? Con biết ơn muôn ngàn nhân duyên đã cho con được làm con của Bụt và được ở trong đại gia đình áo nâu.

“Bụt đã cho con nếp sống tâm linh,
suốt đời con nguyện noi theo ánh sáng của Bụt mà đi.”
(Bài tụng "Hướng về Tam Bảo - Sư Ông Làng Mai)
Mỗi lần lạy xuống trong tư thế phủ phục, con mở hai lòng bàn tay ra trên mặt đất, tất cả con là đây! Không có gì che giấu cả, con thấy mình thật nhỏ bé. “Bụt ơi, xin Bụt soi sáng cho con thấy rõ con hơn mỗi ngày để con biết làm hạnh phúc cho con và mọi người xunh quanh”. Trong giây phút ấy, con được Bụt hiểu Bụt thương như con là con và con không còn phải gồng lên nữa. Con thấy mình thật nhỏ bé với những vụng về, những tủi đau chưa được gia công chuyển hóa tận gốc và những hạn hẹp trong tâm thức do thiếu hiểu biết. Con tập buông xuống cái tôi hay tự ái, buông xuống những suy nghĩ muốn được hiểu, được chấp nhận. Con biết con còn học hoài mới được nhưng con thấy mình đang đi tới theo ánh sáng của Bụt. Con không mong mình trở thành ai giỏi giang lớn lao. Con chỉ mong khi bước đến đâu, con có thể mang theo một chút bình an; khi nhìn ai, con có thể nhìn bằng con mắt từ ái hơn và khi ai đó đang khổ, con đủ an để có mặt cho họ bằng sự lắng nghe thật lòng.

Bụt ơi, sắp tới ngày tiếp nối của Bụt, là một đứa con nhỏ của Người, con xin nguyện thực tập tiếp nối Bụt bằng cách đi, cách thở cho có phẩm chất hơn để Bụt tính trong con được lớn lên mỗi ngày trong từng suy nghĩ, lời nói và việc làm. Con xin thực tập ngồi cho yên để chất liệu tỉnh thức, vững chãi và thảnh thơi mà Bụt đã trao truyền được lớn mạnh thêm. Con xin cẩn trọng thủ hộ thân ý mỗi khi có điều bất như ý xảy đến, con có thể dừng lại, nhìn sâu để cái nghe và cái thấy của con được soi tỏ bởi chánh niệm. Con xin nguyện góp bàn tay nhỏ bé vào sự nghiệp xây dựng Tăng thân. Con biết mình còn non lắm, nhưng con nguyện sẽ không bao giờ bỏ cuộc trên con đường hiểu và thương này. Xin Bụt tiếp thêm cho con năng lượng để những lúc chênh vênh con đủ vững để đứng yên mà nương vào Đất Mẹ rồi tiếp tục bước tới.

Con cúi đầu đảnh lễ Bụt bằng tất cả lòng biết ơn và thương kính của con.

Con của Bụt,

Chân Lộc Nghiêm

https://langmai.org/dai-may-tim/thu-tro/nam-2026/but-kinh-thuong/

BỘ ẢNH BỤT ĐÃ SINH RA RỒI - LỄ TẮM BỤT TẠI LÀNG MAI - 25/5/2026
28/05/2026

BỘ ẢNH BỤT ĐÃ SINH RA RỒI - LỄ TẮM BỤT TẠI LÀNG MAI - 25/5/2026

BỤT ĐÃ SINH RA RỒI Sáng ngày 21/5/2026  (nhằm ngày 5 tháng 4 âm lịch), đại chúng ba xóm ở Làng Mai Pháp đã tổ chức Ngày ...
26/05/2026

BỤT ĐÃ SINH RA RỒI

Sáng ngày 21/5/2026 (nhằm ngày 5 tháng 4 âm lịch), đại chúng ba xóm ở Làng Mai Pháp đã tổ chức Ngày quán niệm mừng Bụt đản sinh tại chùa Pháp Vân, Xóm Thượng.

Ngày quán niệm bắt đầu bằng bài pháp thoại của thầy Trời Bảo Tạng về chủ đề tưới tẩm những hạt giống Bụt bên trong mỗi người, để chất liệu Bụt, chất liệu chánh niệm, chất liệu hiểu biết và thương yêu trong chúng ta mỗi ngày một lớn thêm. Đó là sự tiếp nối đẹp đẽ nhất của chúng ta khi làm một người con của Bụt. Sau đó đại chúng vân tập tại thiền đường Nước Tĩnh để bắt đầu nghi thức của buổi lễ mừng Bụt đản sinh. Đại chúng cùng ngồi yên và thở cùng nhau trong bình an theo những lời thiền hướng dẫn từ thầy Pháp Hữu, ý thức mình đang thở những hơi thở bình an mà Bụt đã trao truyền. Sau phần dâng hương lên Bụt và chư vị tổ tiên, đại chúng cùng tụng bài nhạc kinh “Praising the Buddha” tán dương đức Bổn sư. Tiếng tụng vang lên hào hùng trong một bầu không khí ấm cúng và trang nghiêm.

Nghi thức tắm Bụt bắt đầu khi đại chúng từ từ đứng dậy và trong tiếng niệm “Nam mô Bụt Sakyamuni” đi từng bước chậm rãi hướng ra khu vườn trước thiền đường Nước Tĩnh, nơi ba tượng Bụt sơ sinh đã được đặt trên ba chậu nước được trang trí và phủ đầy các loại hoa. Tại đây mỗi vị có cơ hội xá xuống trước đức Bụt sơ sinh và múc một gáo “nước hoa” rồi khoan thai dội lên mình đức Bụt. Nắng cuối xuân và đầu hạ ấm và lấp lánh trong làn nước, trong từng gàu nước, trong những cánh hoa đủ sắc màu, trong những chiếc lá ve vẫy phất phơ, và trong mỗi nụ cười bình an và lặng lẽ của những bàn tay khi xá xuống để bắt đầu một nghi thức gọi dậy đức Bụt sơ sinh trong chính mình.

Tuần này, tại xóm Thượng đang diễn ra khoá tu dành cho những người Mỹ La-tinh và tại xóm Hạ có khoá tu dành cho những người thích làm vườn nên thiền sinh từ nhiều quốc gia cũng có duyên tham gia lễ tắm Bụt. Khá đông đồng bào các cô chú, anh chị em người Việt đã tìm về Làng hôm nay để dự ngày Phật đản. Những chiếc áo dài màu lam, màu trắng, màu nâu, màu xanh của các cô, các bà, các chị người Việt làm cho bầu không khí quốc tế thoang thoảng nét hồn Việt.

Kính mời quý tăng thân và thân hữu khắp nơi cùng lắng lòng thưởng thức những khoảnh khắc của buổi lễ này qua bộ ảnh “Bụt đã sinh ra rồi!” https://langmai.org/dai-may-tim/vien-anh/le-phat-dan/phat-dan-2026/

TẮM BỤT SƠ SINH TRONG TA(Sư Ông Làng Mai)Phật Đản (Vesak) 30.5.1996: https://plumvillage.org/gems/event/The-Buddhas-Birt...
21/05/2026

TẮM BỤT SƠ SINH TRONG TA

(Sư Ông Làng Mai)

Phật Đản (Vesak) 30.5.1996: https://plumvillage.org/gems/event/The-Buddhas-Birthday-Vesak-268hidN29Hto3GiYUzHrKx/preview?start=713 🪷🪷🪷

Hôm nay chúng ta được làm lễ tắm Bụt. Mỗi khi có một gáo nước dội lên trên Bụt sơ sinh, chúng ta cảm thấy mát mẻ. Được tắm cho Bụt sơ sinh là một hạnh phúc rất lớn.

Khi một đức Bụt xuất hiện trên trái đất thì đó là một điềm lành rất lớn, rất mầu nhiệm. Chúng ta phải làm thế nào để cho Bụt sơ sinh được xuất hiện mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút bằng sự thực tập của chúng ta.

Chúng ta có thể có khả năng làm cho Bụt giáng sinh trong mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi phút của đời sống thực tập. Mỗi khi chúng ta từ bỏ thế giới của thất niệm, trở về với hơi thở, mỉm cười và tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống là mỗi lần Bụt giáng sinh. Mỗi khi Bụt giáng sinh như vậy thì chúng ta thấy mát mẻ, khỏe khoắn, an lạc và có niềm tin trong tương lai.

Bụt là một thực tại linh động

Bụt không phải là một thực tại đã nhập diệt. Bụt nằm trong trái tim của chúng ta và chúng ta chỉ cần thở nhẹ và mỉm cười là chúng ta tiếp xúc được với Bụt ở trong ta. Bụt có mặt cho ta 24 giờ đồng hồ. Không phải chỉ khi nào ta vào chánh điện, đốt hương và lạy xuống thì Bụt mới có mặt. Cho nên chúng ta đang vô cùng giàu có. Và chúng ta phải làm thế nào để có Bụt trong ta và với ta trong mỗi giờ phút của sự sống.

Như vậy, sự thực tập là làm thế nào để Bụt giáng sinh mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Mỗi khi chúng ta làm lễ đản sinh, mỗi khi chúng ta làm lễ kỷ niệm thành đạo, mỗi khi chúng ta làm lễ kỷ niệm Bụt nhập Niết bàn, mỗi khi chúng ta tới viếng thăm cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng hay leo lên núi Thứu là chúng ta có cái ý nguyện muốn được cảm thấy sự có mặt, cảm thấy sự gần gũi của Bụt với chúng ta. Mỗi bước chân của sự hành hương, mỗi cây nhang chúng ta thắp, mỗi tiếng chuông ta thỉnh đều có cái chủ đích là làm thế nào để Bụt có mặt với ta trong giây phút đó.

Ta đã học và biết rằng ta không cần đi sang tới Ấn Độ, leo lên núi Thứu, tới quỳ gần cội bồ đề trên kim cang tòa ta mới có thể cảm thấy được sự có mặt vô cùng quý giá của Bụt. Ta không cần phải đi vào trong chánh điện, đốt một cây hương và lạy xuống ba lạy mới cảm thấy sự có mặt của Bụt. Cố nhiên là đi qua Ấn Độ, leo trên núi Thứu, ngồi dưới gốc bồ đề, đốt một cây nhang, lạy xuống là những sự thực tập của ta. Nhưng mà không phải chỉ có những sự thực tập đó mới làm lộ ra sự có mặt của Bụt trong tâm tưởng. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi nụ cười đều có thể làm hiển lộ sự có mặt của Bụt.

Trong sách “Phép lạ của sự tỉnh thức”, tôi có viết rằng: trong khi rửa bát hay rửa chén, ta nên quán chiếu cái bát trong tay ta có thể là Bụt. Và ta rửa bát một cách trân trọng như ta đang tắm cho Bụt sơ sinh. Cho nên chính trong khi rửa bát, ta cũng cảm thấy được sự có mặt của Bụt mà không đợi đến khi vào chùa, thắp lên cây nhang và lạy xuống. Ta đi vào chùa, thắp cây hương, lạy xuống để cảm thấy sự có mặt của Bụt, nhưng ở trong nhà bếp, vặn nước, rửa một cái chén, chúng ta cũng phải đạt tới sự thành công đó. Điều này chúng ta đã được chỉ dẫn cặn kẽ để có thể làm cho Bụt có mặt trong mỗi giây phút của đời ta.

Bụt là một bông hoa

Bụt Thích Ca Mâu Ni, Bụt Ca Diếp, hay là Bụt Di Lặc là những bông hoa nở trong khu vườn của nhân loại. Những bông hoa đẹp nhất trong khu vườn của nhân loại. Nhưng bông hoa đó không phải chỉ nở cho loài người mà nở cho tất cả mọi loài, trong đó có các loài cầm thú, chim chóc, cây cối và cả những loài đất đá. Điều này chúng ta phải quán chiếu.

Ngày Bụt đản sinh, về Huế chúng ta sẽ thấy ở ngoài chợ, người ta không có bán đồ mặn mà bán toàn đồ chay. Tại vì ngày hôm đó tất cả mọi người ăn chay, không có ai sát sanh, giết một con gà hay một con heo. Vì vậy chúng ta biết rằng sự ra đời của Bụt không những đem lại hạnh phúc, an toàn cho con người mà còn đem lại hạnh phúc và an toàn cho mọi loài trong đó có các loài cầm thú, cỏ cây và đất đá.

Ngày đó, ở Sri Lanka, trước sân nhà nào cũng có thức ăn bày ra để cúng dường. Không phải để cúng dường các thầy mà thôi; tất cả những người giàu, nghèo, sang, hèn, hễ ai tới nhà là đều được khoản đãi cơm nước. Người giàu cũng ăn những thức đó mà những người nghèo cũng ăn thức những thức đó. Có những nước Phật giáo, ngày đó không có ai đói cả. Trong một ngày mà không có ai đói cả. Ai có gạo, có cơm, có thức ăn đều nấu ra, dọn ra cho tất cả những người khác ăn. Đó là một điều rất đẹp.

Giả dụ không chỉ có một ngày, mà ta có 365 ngày trong năm như vậy thì trên trái đất này sẽ không có ai đói hết. Đó là một điều rất đẹp. Ngày mừng Phật đản, ta nên để tâm quán chiếu những điều đó. Chúng ta thấy rằng một người, và chỉ một người thôi, ra đời mà lại tạo ra được không biết bao nhiêu là phép lạ như vậy trong nhân gian, không những ở một nước mà ở rất nhiều nước; không những trong một năm mà trong 2500, 2600 năm. Và sẽ còn tiếp tục. Chúng ta là con cháu của Ngài, chúng ta sẽ tiếp tục làm cho phép lạ của từ bi, của hiểu biết, của thương yêu tiếp tục trong lịch sử của loài người và trong lịch sử của muôn loài.

Bụt đản sinh trong trái tim ta mỗi giờ, mỗi phút

Là đệ tử của Bụt, làm lễ mừng Phật đản, ta phải nhìn sâu vào trong tự tánh của ngày lễ. Ta biết rằng nhờ sự thực tập chánh niệm ta có thể nuôi dưỡng được chất liệu của Bụt, chất liệu chánh niệm, chất liệu chế tác hiểu biết và thương yêu. Hai ngàn sáu trăm năm rồi mà chất liệu đó vẫn còn tiếp tục làm cho người ta bớt khổ, đem cho người ta rất nhiều niềm vui. Là con của Bụt, mình có bổn phận phải tiếp tục sự nghiệp của Bụt. Và phương pháp tiếp tục hay nhất là làm thế nào để cho Bụt tiếp tục được đản sinh trong trái tim của mình mỗi giờ và mỗi phút. Ánh sáng của chánh niệm là chất liệu của tình thương và của sự hiểu biết, chúng ta cần phải chế tác cho thế gian ngày hôm nay, ngày mai, cho trái đất này và cho con cháu chúng ta.

Nếu chúng ta không có yếu tố của sự tỉnh thức, của sự an lạc thì trái địa cầu xinh đẹp này sẽ không có tương lai và con cháu của chúng ta cũng không có tương lai.

(https://langmai.org/?page_id=65400)

NGÀY TRĂNG TRÒN THÁNG TƯ BỤT RA ĐỜIHồi mới chín tuổi, Siddhatta (Tất Đạt Đa) đã nghe kể lại rằng ngày có mang Siddhatta,...
19/05/2026

NGÀY TRĂNG TRÒN THÁNG TƯ BỤT RA ĐỜI

Hồi mới chín tuổi, Siddhatta (Tất Đạt Đa) đã nghe kể lại rằng ngày có mang Siddhatta, mẹ của Siddhatta nằm mộng thấy một con voi trắng sáu ngà từ trên trời đi xuống. Trên không nhã nhạc vang lừng và tiếng ca hát chúc tụng của chư thiên vọng lên không ngớt. Con voi trắng đi xuống càng lúc càng gần, da của nó trắng như tuyết trên đỉnh núi và vòi của nó quấn một đóa sen hồng. Con voi tới gần bà, đưa đóa hoa chạm vào người bà. Rồi con voi ấy đi vào trong bà. Tự nhiên bà thấy trong người sảng khoái lạ thường. Bà có cảm tưởng rằng từ nay bà sẽ không bao giờ còn khổ đau, lo lắng, giận dữ và phiền muộn nữa. Bà thức giấc. Chưa bao giờ bà cảm thấy hạnh phúc như thế. Bà trỗi dậy. Những tiếng hát ca của chư thiên và nhạc trời êm ái còn như văng vẳng bên tai bà. Bà đi tìm vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và kể cho vua nghe về giấc mộng. Vua chia sẻ niềm vui với bà. Sáng hôm ấy, vua vời những đạo sĩ và những thầy Bà la môn nổi tiếng ở kinh đô vào cung để nhờ đoán mộng. Sau khi đã nghe kể về giấc mộng của hoàng hậu, các vị đều nói:

– Tâu bệ hạ, hoàng hậu sẽ hạ sinh một hoàng nam. Thái tử sau này sẽ là một người xuất chúng. Thái tử có thể sẽ là một vị chuyển luân thánh vương trị vì cả bốn cõi; thái tử cũng có thể sẽ đi tu và trở thành vị lãnh đạo tinh thần cho cả cõi người và cõi trời. Cõi đất của chúng ta, tâu bệ hạ, đã chờ đợi từ lâu rồi một người như thái tử.

Vua Suddhodana rất vui mừng. Sau khi hội ý với hoàng hậu, vua cho lệnh lấy bớt tài vật trong kho ban phát cho những người ốm đau và bệnh tật trong xứ. Thần dân ở vương quốc Sakya đều được thấm nhuần ơn đức của vua và hoàng hậu.

Mẹ của Siddhatta tên là Mahamaya người nước Koliya. Hoàng hậu Maya là một người đức hạnh. Bà thương yêu con người, nhưng bà cũng biết thương yêu các loài cầm thú và cỏ cây. Mùa Xuân năm sau, đúng vào ngày trăng tròn tháng tư, hoàng hậu hạ sinh thái tử trên đường từ Kapilavatthu (Ca tỳ la vệ ) về thủ đô Ramagama của vương quốc Koliya quê hương của bà.

Tục lệ của nước bà là người con gái có chồng phải về sinh con tại nhà cha mẹ. Trên đường đi, bà đã ghé vào nghỉ tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni). Trong vườn muôn hoa đang nở rộ, chim chóc ca hát vang lừng. Những con công xòe đuôi rực rỡ trong nắng mai. Thấy một cây vô ưu hoa nở rực đầy cành, bà bước tới. Khi tới gần cây này, bà thấy hơi lảo đảo. Bà vội đưa tay nắm chặt một cành cây vô ưu. Một giây sau đó, bà sinh em bé. Thái tử Siddhatta được các thị nữ nâng lên và bọc lại trong một tấm khăn choàng bằng lụa màu vàng. Các thị nữ biết rằng chuyến đi Ramagama không cần thiết nữa cho nên dìu hoàng hậu ra xe bốn ngựa đi trở về Kapilavatthu. Thái tử được đem tắm bằng nước ấm rồi được đặt lên giường bên cạnh hoàng hậu. Được tin, vua Suddhodana lập tức vào thăm hai mẹ con. Vua vui mừng khôn xiết. Mặt vua sáng rỡ. Vua đặt tên cho thái tử là Siddhatta.

Hôm đó tất cả quần thần đều được nghe tin, mọi người đều đến chúc mừng vua và hoàng hậu. Vua Suddhodana truyền mời các ông thầy tướng giỏi đến coi tướng cho Siddhatta. Ông thầy nào cũng nói rằng Siddhatta có tướng của một vị chuyển luân thánh vương, và cũng đều tiên đoán rằng thái tử sẽ là một vị vua trị vì không phải một phương mà cả bốn biển.

Một tuần lễ sau đó, có một ông đạo sĩ Bà la môn tên là Asita Kaladevala (A Tư Đà) đến thăm. Đạo sĩ Asita là một ẩn sĩ trên núi. Vị đạo sĩ này đã già lắm, lưng ông đã còm. Ông phải chống gậy đi từ trên núi xuống.

Khi được quân hầu báo tin, vua Suddhodana đích thân ra khách đường chào ông và đưa ông vào cung thăm thái tử. Ông nhìn thái tử một hồi mà không nói năng gì. Bỗng nhiên ông nấc lên khóc. Thân hình ông rung rung trên chiếc gậy. Vua hoảng kinh, hỏi:

– Tại sao, tại sao thầy khóc như thế? Có điều gì không hay sẽ xảy ra cho trẫm hoặc cho thái tử đây không?

Đạo sĩ Asita lấy tay quệt nước mắt. Ông lắc đầu:

– Tâu bệ hạ không có chuyện gì xấu cả. Tôi khóc là khóc cho số phận tôi. Tôi biết thái tử sau này sẽ thành một bậc vĩ nhân, thấu suốt được mọi lẽ huyền vi trong vũ trụ. Thái tử sẽ không làm vua đâu: thái tử sẽ làm một vị đạo sĩ lấy trời đất làm quê hương, lấy muôn loài làm thân tộc. Tôi khóc là vì tôi sẽ chết trong nay mai, và chẳng có diễm phúc được nghe tiếng nói chân thốt ra từ miệng người. Bệ hạ có phúc lớn lắm, nước nhà có phúc lớn lắm mới có được thái tử.

Tâu xong đạo sĩ Asita lập tức rời bỏ hoàng cung để về núi, vua Suddhodana tìm đủ mọi cách để lưu ông lại, nhưng vua không thành công.

Cuộc viếng thăm của đạo sĩ Asita làm vua bâng khuâng. Vua không muốn rằng sau này Siddhatta đi tu. Vua chỉ muốn sau này Siddhatta nối nghiệp vua để làm vua, và mở rộng bờ cõi. Vua nghĩ rằng vị đạo sĩ Asita chỉ là một đạo sĩ trong hàng trăm hàng ngàn vị đạo sĩ khác. Có thể là ông nói sai. Và có thể những vị đạo sĩ khác đã nói đúng. Nghĩ như thế, vua thấy yên dạ.

Hoàng hậu Maya sinh thái tử được tám ngày thì mất. Cả nước thương tiếc bà. Vua Suddhodana tuyển ngay em ruột của bà là bà Maha Pajapati (Maha Ba Xà Ba Đề) vào cung và đưa lên ngôi hoàng hậu. Phu nhân Pajapati cũng được gọi là Gotami. Bà thay thế chị để chăm sóc Siddhatta. Siddhatta là cháu gọi bà bằng dì, nhưng bà thật sự xem Siddhatta như con ruột của chính bà. Lớn lên, Siddhatta đã nhiều lần hỏi bà về mẹ. Siddhatta biết rằng dì Gotami thương mẹ lắm và cũng biết rằng trong trời đất có lẽ ngoài dì Gotami không ai có thể thương mình bằng mẹ của mình. Được săn sóc và thương yêu, Siddhatta lớn lên rất mau.

(Trích Đường Xưa Mây Trắng - Chương 6: Bóng mát cây hồng táo - Thích Nhất Hạnh) https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/thien-tap/duong-xua-may-trang/chuong-06-bong-mat-cay-hong-tao/

Ngày 16.5 hằng năm là Ngày Quốc tế Sống chung An lạc do Liên Hiệp Quốc khởi xướng, nhằm khơi dậy cảm hứng để mọi người c...
16/05/2026

Ngày 16.5 hằng năm là Ngày Quốc tế Sống chung An lạc do Liên Hiệp Quốc khởi xướng, nhằm khơi dậy cảm hứng để mọi người cùng sống, cùng làm việc và liên kết với nhau trong tinh thần hiểu biết và thương yêu, vượt lên trên những khác biệt về văn hóa, xã hội hay nguồn gốc. Đây cũng là cơ hội để cùng nhau xây dựng một thế giới hòa bình, đoàn kết và hòa hợp bền vững.

Sống chung an lạc là khả năng chấp nhận và trân quý những khác biệt nơi nhau; biết lắng nghe với tâm cởi mở, biết công nhận, tôn trọng và nâng đỡ nhau để có thể cùng chung sống trong hòa bình và tình huynh đệ.
(theo https://www.internationaldays.org/may/international-day-of-living-together-in-peace)

Xin trân trọng giới thiệu đến quý thân hữu gần xa sự thực tập Sống chung An lạc qua lời dạy của Sư Ông Làng Mai. Sự thực tập ấy bắt đầu từ chính tự thân, từ cách ta chăm sóc và nuôi dưỡng hiểu biết, thương yêu với những người thân cận quanh mình, rồi từ đó lan tỏa đến cộng đồng và xã hội.

HIỆP ƯỚC SỐNG CHUNG AN LẠC

(Trích trong pháp thoại ngày 09/11/1997 của Sư Ông Làng Mai)

Chúng ta là những người chưa phải là thánh nhân. Chúng ta còn bị kẹt vào những tri giác sai lầm của mình rất nhiều. Và chúng ta ôm giữ những nghi ngờ, những hờn giận không có căn cứ. Người kia không muốn làm ta khổ, nhưng ta cứ tin chắc rằng người kia muốn trừng phạt, muốn làm ta đau khổ. Vì vậy, chúng ta kéo dài sự giận hờn ấy, có khi suốt cả cuộc đời.

Cho nên, hai người đừng làm như chàng Trương và người thiếu phụ Nam Xương. Hai người là ai? Hai người là vợ chồng với nhau. Hai người là ai nữa? Hai người là cha con với nhau. Nhiều khi vợ chồng, cha con, mẹ con giận nhau chỉ vì một tri giác sai lầm mà cứ tiếp tục làm khổ nhau. Vì vậy, phải tìm đến với nhau để nói cho rõ.

Nhưng khi đến với nhau, phải có khả năng ngồi yên, sử dụng ngôn ngữ hòa ái và phương pháp lắng nghe. Trong đạo Phật, phương pháp lắng nghe gọi là đế thính. Tiếng Anh gọi là deep listening hay compassionate listening. Đó là hạnh của Đức Quan Thế Âm.

Còn ngôn ngữ hòa ái thì gọi là ái ngữ. Tiếng Anh gọi là loving speech. Loving speech và deep listening là hai điều mà mỗi người đoàn sinh, mỗi người huynh trưởng phải thực tập cho thật vững, rồi mới có thể tạo dựng và khôi phục hạnh phúc trong gia đình cũng như trong đoàn của mình.

Hiệp ước chung sống trong an lạc sở dĩ có thể thực tập thành công là nhờ hai phương pháp ấy, hai sự thực tập ấy. Tức là deep listening — lắng nghe sâu — và loving speech — ái ngữ.

Từ bây giờ, theo hiệp ước này, khi chúng ta viết một mảnh giấy đưa cho người kia thì có thể viết rằng:
“Anh ơi, em đang giận anh. Em đang khổ và em muốn anh biết điều đó. Thứ Sáu này chúng ta sẽ ngồi lại để cùng quán chiếu.”

Quán chiếu tức là deep looking — nhìn sâu. Nhưng muốn nhìn sâu thì phải có hai phương tiện thực tập: lắng nghe và ái ngữ. Nếu không có hai điều đó mà ngồi lại với nhau thì chỉ dẫn đến cãi vã và tổn thương thêm.

Vì vậy, trong gia đình mọi người đều phải thực tập hai điều ấy. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là người có khả năng lắng nghe rất sâu và rất giỏi. Ngài cũng sử dụng những lời nói đầy hòa ái. Ngoài ra còn có một vị Bồ Tát khác tên là Diệu Âm. Quan Âm thì lắng nghe rất giỏi, còn Diệu Âm thì nói ra những lời rất hòa ái. Hai vị Bồ Tát ấy đều có mặt trong kinh Pháp Hoa.

Có được hai điều ấy thì việc khôi phục hạnh phúc trong gia đình sẽ trở nên rất dễ dàng.

Từ giờ cho đến thứ Sáu, ta thực tập. Nếu nhận ra rằng mình đã thất niệm, đã vô ý trong lời nói hay hành động và gây khổ cho người kia, thì phải gọi điện thoại xin lỗi ngay. Hoặc nếu trong quá trình thực tập, ta thấy rằng nỗi khổ và sự giận hờn của mình phát sinh từ sự hấp tấp, từ nhận thức sai lầm — rằng người kia không hề muốn làm ta khổ mà ta cứ tưởng như vậy — thì ta phải lập tức gọi điện thoại và nói:

“Anh ơi, em đã giận lầm anh rồi. Em đã có nhận thức sai lầm, đã quá vội vàng và hấp tấp, nên mới sinh ra tri giác sai lầm và vọng tưởng như vậy. Thôi, thứ Sáu này mình chỉ ngồi chơi với nhau, uống trà hay ăn bánh thôi, khỏi cần quán chiếu gì nữa.”

Nói như vậy để người kia bớt buồn.

Nhưng nếu đến chiều thứ Sáu mà vẫn chưa giải quyết được, thì hai người phải ngồi lại với nhau trong không khí thân tình và thanh thản. Trước tiên, thực tập thở khoảng năm phút. Sau đó, một người được phép cầm bông hoa trên tay, và người ấy sẽ nói hết tất cả nỗi khổ niềm đau của mình cho người kia nghe.

Trong bình hoa đặt giữa hai người chỉ có một bông hoa thôi. Chỉ khi cầm bông hoa trên tay thì mới có quyền nói. Người không cầm hoa thì không được nói. Người nói phải bày tỏ hết những điều trong lòng mình, nhưng với điều kiện là phải sử dụng ái ngữ. Nếu trong lúc nói mà cơn giận dâng lên quá mạnh, đến mức cảm thấy mình không còn có thể dùng lời hòa ái nữa, thì phải dừng lại ngay. Nếu không, mình sẽ vi phạm hiệp ước sống chung an lạc.

Nói tóm lại, theo nguyên tắc, mình có quyền nói hết nỗi khổ niềm đau của mình cho người kia biết, và cũng có bổn phận phải nói ra. Nhưng điều kiện là phải nói bằng ái ngữ. Nếu cảm thấy mình chưa thể nói bằng ái ngữ, thì có thể xin lỗi:

“Em xin lỗi anh. Em đã cố gắng hết sức, nhưng hôm nay em chưa đủ khả năng để nói bằng lời hòa ái. Xin anh cho phép em hoãn lại khoảng năm ngày hoặc đến tuần sau.”

Làm cha cũng vậy, làm mẹ cũng vậy, làm vợ hay làm chồng cũng vậy. Phương pháp này rất hay. Có những cặp vợ chồng mới cưới thực tập theo phương pháp này và sống rất hạnh phúc. Mỗi tuần, dù không có giận nhau, họ vẫn ngồi lại để “làm mới” với nhau. Vì ngay từ đầu đã có những hạt giống nhỏ của sự không hạnh phúc. Nếu không chăm sóc và chuyển hóa, những hạt giống ấy sẽ lớn dần thành những khối nội kết rất khó tháo gỡ.

Cho nên, mỗi tuần làm mới là điều rất cần thiết.

Trong gia đình, mỗi tuần nên thực tập “làm mới”. Tiếng Anh gọi là beginning anew. Danh từ xưa gọi là “sám hối”. Nhiều người nghĩ sám hối là lạy lên lạy xuống để cầu xin Bụt tha tội. Nhưng bản chất của sám hối không phải là cầu xin tha tội, mà là làm mới lại tâm mình. Những vụng về, lỗi lầm đều phát sinh từ tâm. Nếu mình làm mới và làm sạch được tâm mình, nguyện từ nay không tiếp tục như vậy nữa, thì đó chính là sám hối.

Có câu:
“Tội tùng tâm khởi, tùng tâm sám.
Tâm nhược diệt thời, tội diệt vong.
Tội vong tâm diệt, lưỡng câu không.
Thị tắc danh vi chân sám hối.”

Nghĩa là những lỗi lầm phát sinh từ tâm mình. Nhưng nếu tâm mình chuyển hóa rồi thì lỗi lầm ấy cũng không còn nữa.

Và khi mình thấy được rằng mình đã vụng về, vội vã, đã vì vọng tưởng và tri giác sai lầm mà nói hay làm những điều gây đổ vỡ, rồi nay mình tỉnh thức và thấy ra điều đó, thì mình phát nguyện từ nay sẽ không tiếp tục như vậy nữa.

“Anh ơi, em biết rằng trong lúc vội vã, bực bội và thất niệm, em đã nói và làm những điều gây đổ vỡ. Em thấy được điều đó rồi. Em nguyện từ nay về sau sẽ cẩn thận hơn, có chánh niệm hơn, sẽ không nói và làm như vậy nữa.”

Đó gọi là “làm mới”, hay theo danh từ xưa là “sám hối”.

Thành ra trong gia đình, mỗi tuần đều nên thực tập làm mới. Dù không có giận hờn, mình cũng nên ngồi lại với nhau, uống trà, ăn bánh và hỏi xem có ai muốn cầm bông hoa lên để nói hay không. Bông hoa lúc nào cũng có đó. Nếu mình có chuyện gì hơi buồn hay hơi bực một chút thì đừng nên giữ lại một mình, vì để lâu rất nguy hiểm. Cho nên, hễ có điều gì buồn hay giận thì đó chính là cơ hội để nói ra và làm mới lại với nhau.

Lúc ấy, mình chắp tay lại và nói:
“Con xin được nói. Con xin được cầm bông hoa để nói.”

Khi bố gật đầu, mẹ gật đầu, anh chị em gật đầu, thì mình đứng dậy, đi từng bước nhẹ nhàng đến bình hoa. Mình nâng cành hoa lên, rồi trở về chỗ ngồi, thở ba hơi thật sâu và bắt đầu nói:

“Hôm trước ba nói như thế này, con thấy đau khổ lắm. Tại vì ba chưa hiểu con nên mới nói như vậy. Sự thật là như thế này, như thế này… Con muốn ba hiểu con hơn.”

Mình nói ra hết tất cả những điều ấy. Phương pháp này rất tốt, rất nhẹ nhõm. Nó giúp đưa những độc tố của giận hờn ra khỏi cơ thể mình — get it out of your system.

Trong khi mình nói, tất cả mọi người trong gia đình đều thực tập lắng nghe. Bởi vì không ai có bông hoa trên tay nên không ai có quyền nói. Chỉ người đang cầm bông hoa mới có quyền nói thôi. Nói xong, mình đi từng bước trở lại, đặt bông hoa vào bình rồi chắp tay cảm tạ mọi người đã lắng nghe mình. Bởi vì tất cả những người ngồi quanh bình hoa đều là đệ tử của Đức Bồ Tát Quan Thế Âm, nghĩa là ai cũng có khả năng lắng nghe sâu.

Một gia đình mà không ai biết lắng nghe nhau thì gia đình ấy là một địa ngục. Mà hiện nay có rất nhiều gia đình như vậy. Không ai biết lắng nghe ai, cũng không ai biết dùng ái ngữ với nhau. Hễ mở lời là nói chua chát, trách móc, lên án nhau. Vì vậy, chúng ta phải học hai điều: hạnh lắng nghe của Bồ Tát Quan Âm và hạnh ái ngữ của Bồ Tát Diệu Âm.

Ví dụ như mình là cha, và con mình đang có đau khổ nên nói ra. Khi nghe con nói, mình đừng trả lời ngay lập tức. Trả lời liền thường không có hiệu quả tốt. Mình chỉ nên nói:

“Con đã nói, và bố đã nghe, đã ghi nhận rồi. Bây giờ hai cha con mình uống trà nhé.”

Dù con có nói chưa đúng sự thật, hay còn hiểu lầm, mình cũng cứ để cho con nói hết. Mình chưa cần phản hồi ngay. Cách đó rất hay.

Rồi đến tuần sau, hoặc vài ngày sau, khi con đã nhẹ lòng rồi, mình mới nói lại. Vì nếu phản ứng ngay lúc đó thì rất dễ biến thành đôi co, tranh cãi, và làm mất đi niềm hạnh phúc của người vừa được nói ra nỗi lòng mình. Phải để cho người ấy được hưởng cảm giác nhẹ nhõm ấy trong vài ngày.

Vài ngày sau, trong lúc hai cha con đang vui vẻ với nhau, người cha có thể nhẹ nhàng nói:

“Con ơi, hôm trước con nói thì cha chỉ lắng nghe thôi. Nhưng có lẽ con hiểu lầm cha rồi. Cha đâu có ý như vậy, cha muốn nói thế này nè…”

Trong khung cảnh hòa ái như vậy, con sẽ nghe được. Phương pháp này ở Làng Mai chúng tôi thực tập rất thường xuyên.

Trong phương pháp “làm mới”, bình hoa chỉ có một bông hoa thôi, và người cầm bông là người duy nhất được nói. Tất cả những người khác đều thực tập lắng nghe theo hạnh của Đức Quan Thế Âm. Còn người cầm bông thì thực tập hạnh của Bồ Tát Diệu Âm, tức là nói bằng lời từ ái.

Nếu mình có cơ hội nói mà cảm thấy hôm nay mình chưa đủ khả năng nói bằng ái ngữ, thì mình có thể xin lỗi:

“Hôm nay con chưa đủ vững chãi để nói bằng lời hòa ái. Xin cho con được nói vào dịp khác.”

Bây giờ tôi xin mời một vài thầy và sư cô lên trình bày thêm về hiệp ước sống chung an lạc này. Mỗi chúng ta rồi sẽ có một bản văn để nghiên cứu thêm.

Trước đó, tôi muốn kể thêm một chuyện. Hôm trước, trong một buổi giảng cho ba ngàn người Mỹ ở Santa Monica, tôi có chia sẻ một phương pháp rất đơn giản. Vì chỉ có một tiếng rưỡi để thuyết pháp nên tôi không thể trình bày đầy đủ về “Hiệp ước sống chung an lạc”, mà chỉ đưa ra một phiên bản rất cô đọng.

Tôi nói rằng khi mình giận, sau khi đi thiền hành xong, mình hãy về viết lên một mảnh giấy ba câu.

Câu thứ nhất:

“Darling, I am angry at you. I suffer. I want you to know it.”
(Anh ơi, em đang giận anh. Em đang khổ và em muốn anh biết điều đó.)

Nhưng chỉ câu đó thôi thì chưa đủ. Nó cho thấy mình chưa biết thực tập. Vì vậy phải viết thêm câu thứ hai:

“Darling, I am doing my best.”
(Em đang cố gắng hết sức.)

Tức là mình đang cố gắng thực tập hơi thở chánh niệm, đi thiền hành và nhìn sâu. Mình không chỉ là nạn nhân của cơn giận. Mình là con của Bụt, là học trò của thầy, là người thương của anh — nên khi giận thì phải biết thực tập.

Rồi câu thứ ba:

“Please help me.”
(Anh hãy giúp em.)

Cả ba câu ấy đều là ngôn ngữ của thương yêu. Khi đau khổ và giận hờn, mình phải cho người thương của mình biết. Và mình cũng nói rằng mình đang thực tập chứ không buông xuôi theo cơn giận. Hơn nữa, mình không muốn thực tập một mình, nên mình mời người kia cùng thực tập với mình.

Nếu mình là người trẻ và lỡ giận ba mình thì cũng có thể làm như vậy:

“Ba ơi, con đang giận ba. Con đang khổ lắm và con muốn ba biết điều đó.”

Rồi thêm câu thứ hai:

“Con đang cố gắng thực tập theo lời Bụt dạy, theo lời thầy dạy.”

Và câu thứ ba:

“Ba ơi, ba giúp con với.”

Câu đó rất hay. Bởi vì khi giận, người ta thường nói:
“I don’t need you. Stay away from me. Leave me alone. I hate you.”
Tức là: “Tôi không cần anh nữa. Tránh xa tôi ra. Để tôi yên. Tôi ghét anh.”
Giận thường làm người ta nói những điều như vậy.

Vì thế, trong buổi giảng ở Santa Monica, khi tôi trao truyền phương pháp này cho ba ngàn người Mỹ, nhiều người đã rơi nước mắt. Phương pháp rất đơn sơ, nhưng nếu biết thực tập thì sẽ tránh được rất nhiều đổ vỡ.

https://langmai.org/tang-kinh-cac/bai-viet/hiep-uoc-song-chung-an-lac/

Adresse

Thénac
24240

Heures d'ouverture

Mercredi 08:00 - 18:00
Jeudi 08:00 - 18:00
Vendredi 08:00 - 18:00
Samedi 08:00 - 18:00
Dimanche 08:00 - 18:00

Notifications

Soyez le premier à savoir et laissez-nous vous envoyer un courriel lorsque Làng Mai publie des nouvelles et des promotions. Votre adresse e-mail ne sera pas utilisée à d'autres fins, et vous pouvez vous désabonner à tout moment.

Contacter Le Lieu De Culte

Envoyer un message à Làng Mai:

Partager