27/05/2022
Thân thế và sự nghiệp của Bà Chúa Me
Bà Chúa Me, tôn hiệu mà nhân dân trong vùng dành cho Bà Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên, Thái phi của Chúa Trịnh Cương (1686-1729), thời Lê Trung hưng, quê tại thôn (me) My Thử, Đường An (nay là thôn Phục Lễ, xã Vĩnh Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Tuy nhiên, vì lịch sử lúc đó, chưa đánh giá đúng vai trò của nhà Trịnh trong việc xây dựng và phát triển đất nước nên những công lao, đóng góp của Bà không được sử sách ghi nhận như những danh nhân khác. Vì thế đến nay, thân thế và sự nghiệp của Bà ít người biết đến, kể dân làng và cả con cháu trong gia tộc.
Trên cơ sở nghiên cứu Đại Việt sử ký toàn thư, Gia phả dòng họ Vũ và một số tài liệu lịch sử có liên quan, bài viết dưới đây sẽ giới thiệu những thông tin sơ lược về thân thế và sự nghiệp của Bà, nhất là những đóng góp của Bà cho nhà Lê - Trịnh.
Thời xưa, xứ Đông hay trấn Hải Đông, trấn Hải Dương là tên một địa danh cổ, một trấn ở phía Đông của Kinh thành Thăng Long. Xứ Đông có hạt nhân là trấn Hải Đông (nay là thành phố Hải Dương), bao gồm một vùng văn hóa rộng lớn ở Đông Bắc đồng bằng sông Hồng, gồm các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh và một phần đất thuộc 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình. Đây là quê hương của Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tuệ Tĩnh, Phạm Ngũ Lão, Lê Hữu Trác,... và nhiều danh nhân nổi tiếng khác.
Ở Xứ Đông, Đường An là địa danh được nhắc nhiều trong lịch sử. Đường An là tên huyện Bình Giang từ thế kỷ 12, Đời nhà Lê, Đường An thuộc phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương; đời nhà Nguyễn, thuộc phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương do phủ kiêm lý. Năm 1886 đổi là huyện Năng An, sau năm 1945 là huyện Bình Giang. Đường An là huyện có nhiều người đỗ đại khoa (44 người) từ đời Lê về trước, riêng làng Mộ Trạch có 36 người (2). Đường An là quê hương của các danh nhân như Phạm Đình Hổ, Vũ Phong Đề, Phạm Quý Thích, Lê Cảnh Tuân….
Trong vùng đất cũng thuộc hàng “địa linh, nhân kiệt”, Đường An vào thời Lê Trung hưng còn có một người phụ nữ làm nổi danh cho gia tộc và quê hương: Bà Chúa Me - Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên.
I. Thân thế và gia tộc của Bà Chúa Me
Bà Chúa Me - Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên, Thái phi của Chúa Trịnh Cương, tên Vũ Thị Tông, thụy là Từ Đức, húy là Ngọc Nguyên, được tôn phong là Ý công Hậu đức Trang hạnh Đoan Nghi Khuông vận Diễn phúc Quốc Thánh mẫu, tên thụy là Từ Đức (3), (4).
Theo Gia phả, Bà là đời thứ bẩy trong Gia phả gia tộc, là con gái cụ Vũ Tất Tố làm quan chức Tuấn (Duệ) Trạch Công (3), (4) người My Thử, Đường An. Cụ Vũ Tất Tố sinh được bốn người con: Hai trai, hai gái. Bà là chị cả, hai em trai là Vũ Trạc (Đạc) và Vũ Thiết (Vũ Tất Thận) (hai ông sau này được ban Quốc tính vì thế mang họ Trịnh là Trịnh Đạc và Trịnh Thiết); em gái Bà là Vũ Thị Sơ (4).
Khi lớn lên, do có tài năng hơn người và xinh đẹp nên Bà được Chúa Trịnh Cương đem lòng yêu dấu, lấy làm vợ. Bà đã sinh ra được 2 người con:
1. Con trưởng là Đức Thái thượng vương (Đức Dụ tổ Thuận vương) Trịnh Giang (sau này là Chúa Trịnh Giang);
2. Con thứ là Đức Thánh thượng Đại nguyên súy Tổng quốc chính sự Thượng sư Thượng phụ Anh Đoán Vạn Trị Vũ công Minh vương (Đức Nghị tổ Ân vương ) Trịnh Doanh (sau này là Chúa Trịnh Doanh) (3).
Bà Chúa Me - Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên mất ngày 21 thang 9 (âm lịch - không rõ năm). Ngày 27 tháng 10 năm 1751 (năm Cảnh hưng thứ 12), Minh đô vương Trịnh Doanh có Lệnh chỉ cho nhân dân trong vùng cùng Gia tộc họ ngoại tổ chức kính tế cho Bà (nội dung Lệnh chỉ hiện còn ghi trong gia phả họ Vũ tại Vĩnh Hồng- Bình Giang- Hải Dương) (4).
Về các người em của Bà:
1. Vũ Trạc (Vũ Đạc), được phong các tước Phụ quốc thượng tướng quân, chỉ huy sứ Trạc Quận công và được ban Quốc tính mang họ Chúa (Trịnh Đạc) (4).
2. Vũ Thị Lưu (Sơ). qui phật tại Chùa Kim Liên ngày 10 tháng 8 (không rõ năm), sau Trụ trì tại Chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, Bắc Ninh; được phong tặng Viên không hoà thượng, Gia phong trung khiết hiếu hạnh, Trang tĩnh từ tuệ đại bồ tát, Bồ tát vương (5). Bà Sơ mất ngày 21 tháng 9 năm Tân mùi, thọ 23 tuổi, lăng ở xứ Đồng Ngô, thôn Thanh Long xã Kim Hoạch (huyện Thủy Nguyên) (3).
3. Vũ Thiết (Vũ Tất Thận): được phong Súy Trung Dực vận Công thần Đồng Tham tụng Trung Doanh khuôn quân doanh Đô đốc phủ chánh Đô đốc Thự phủ sự kiêm Tôn nhâm phủ Hữu Tôn chính Đại tư đồ Bỉnh trung công, Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân - Đại Tư Đồ Quốc lão Quận Công Đốc Khánh. (3) vâng cho theo họ Trịnh là Trịnh Thiết cũng như Vương thân vậy (3), (5), (6), (7).
II. Sự nghiệp của Bà Chúa Me
Bà Chúa Me, Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên sinh thời là một trong những Bà Chúa thông minh, mưu lược, tài năng xuất chúng. Điều đó được thể hiện ở một số lĩnh vực sau:
1. Về lĩnh vực giáo dục
Sử sách cũng như Gia phả không nói về việc học hành của Bà ra sao, nhưng Bà được người đương thời đánh giá là người rất giỏi về giáo dục. Chính Bà là người trực tiếp dạy học cho các con trai của mình để nối nghiệp tổ tông nhà Trịnh mặc dù bên cạnh đó vẫn có những ông thầy được Chúa tuyển chọn vào làm thầy dạy học cho các con. Bà cũng là người trực tiếp nuôi dưỡng Lê Ý Tông hoàng đế khi còn nhỏ. Cũng vì lẽ đó, tình cảm, sự kính trọng của các con Bà dành cho Bà là rất lớn. Ngay khi lên ngôi chúa, nhớ tới công ơn dưỡng dục to lớn của Bà với cả chúa và vua, Chúa Trịnh Giang đã phong Bà là Quốc Thánh mẫu (7); truy tôn ông ngoại Tuấn quận công Vũ Tất Tố lên Tuấn (Duệ) trạch công và đã cho xây phủ đệ và nhà từ đường cho nhà ngoại rất nguy nga tại Mi Thử, Đường An, ngày nay là thôn Phục Lễ, xã Vĩnh Hồng, Bình Giang (Việc xây cất này mới hoàn tất vào tháng 5 năm 1736) (7), (8), (9).
2. Về lĩnh vực chính sự
Không chỉ giỏi giang về mặt giáo dục, Bà còn là người đầy thao lược về mặt chính trị, quân sự. Bà đã từng nhiếp chính, điều khiển chính sự để lập chúa, phò vua; điều binh, khiển tướng để dẹp loạn bảo vệ chính quyền Lê Trịnh.
Năm 1729 Chúa Trịnh Cương mất, Trịnh Giang là con trưởng kế vị ngôi Chúa. Trịnh Giang và đại thần Hoàng Công Phụ đã điều hành chính sự ở Đàng ngoài. Do việc điều hành đất nước có những chính sách không hợp lòng dân, gây bất bình khiến nông dân nổi loạn ở nhiều nơi.
Trước tình hình đó Bà Thái phi cho triệu một số quần thần như Nguyễn Quý Cảnh, Nguyễn Công Thái, Trịnh Ðạc, Vũ Tất Thận, Nguyễn Ðình Hoàn bàn trừ khử bè đảng Hoàng Công Phụ và đưa Trịnh Doanh lên ngôi chúa để trừ hoạn nạn trong cung phủ. Lợi dụng lúc Hoàng Công Phụ đem toàn quân bản bộ ra dẹp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển ở ngoài, Nguyễn Quý Cảnh đem hương binh vào kinh bảo vệ phủ chúa và vào chầu vua Lê, xin ra chỉ đưa Trịnh Doanh lên ngôi chúa. Sau đó hương binh của Quý Cảnh giết hết bè đảng của Hoàng Công Phụ (9).
Nǎm Canh Thân (1740) Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang, lấy hiệu là Minh đô vương tiến tôn Trịnh Giang làm Thái thượng vương (10).
Trịnh Doanh liền ban hành nhiều quyết định hợp lòng người, được quần thần và dân chúng ủng hộ. Chính sách cai trị dưới thời Trịnh Doanh khá chắc chắn và hoàn chỉnh. Nhiều sắc chỉ được ban hành dưới thời Trịnh Cương (đã bị Trịnh Giang bỏ) nay được thực hiện.
Trịnh Doanh chăm lo chính sự, cho đặt ống đồng ở cửa phủ để nhận thư từ dân chúng tố giác việc làm sai trái của quan lại. Khi cần tuyển chọn và cất nhắc quan lại, Trịnh Doanh coi trọng thực tài nên trước khi bổ nhiệm ai, người đó phải vào phủ đường yết kiến để chúa trực tiếp hỏi về công việc, ai có khả năng mới trao cho chức quyền. Chúa thưởng phạt rất công minh. Nhiều danh sĩ xuất thân khoa bảng được trọng dụng thời đó, tiêu biểu là Lê Quí Đôn. Ngô Thì Sĩ..v.v.
Trong “Danh tướng Việt Nam” còn ghi lại (9):
“Tháng 10 năm 1740, Chúa Trịnh Doanh tự mình cầm đại quân đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Đó quả là một quyết tâm rất lớn. Biết không thể đồng thời trấn áp tất cả các cuộc khởi nghĩa, vì thế, Chúa Trịnh Doanh bèn áp dụng kế sách dùng sức mạnh đại binh, lần lượt đè bẹp từng cuộc khởi nghĩa một, để rồi cuối cùng là đè bẹp tất cả.
Tháng 11 năm 1740, đại binh của Chúa đóng tại khu vực Vũ Điện (11), sau đó, chuyển sang đóng tại Hiến Doanh (12). Mục tiêu đầu tiên của Chúa là khép kín vòng vây, tiêu diệt cho bằng được lực lượng của Vũ Đình Dung ở Ngân Già (13), lấy chiến thắng Ngân Già cổ vũ quân sĩ xông lên đánh thắng lực lượng Nguyễn Tuyển và Nguyễn Cừ.
Đại quân của Chúa Trịnh Doanh do các tướng Đinh Văn Giai, Nguyễn Đình Hoàn, Vũ Tất Thận và Trương Khuông làm tiên phong đã tấn công rất quyết liệt vào Ngân Già. Nghĩa quân Vũ Đình Dung tuy chiến đấu rất ngoan cường, nhưng không sao chống đỡ nổi. Trịnh Doanh chiếm được Ngân Già, sau đó, sai đổi gọi Ngân Già là Lai Cách (14).
Mất Ngân Già, Nguyễn Tuyển và Nguyễn Cừ mất hẳn một lực lượng liên minh, một chỗ dựa hết sức quan trọng. Trước tình thế đó, hai ông cho rằng, nếu đánh nhau với Trịnh Doanh khi Trịnh Doanh đang có đủ trong tay cả binh hùng lẫn tướng mạnh, thì thật khó mà giành được thắng lợi. Hai ông quyết định dùng kế nghi binh, buộc Trịnh Doanh phải lập tức quay về kinh thành Thăng Long như cũ. Nguyễn Cừ được lệnh cùng với tướng Trần Diệu, đem một cánh quân nhỏ tiến thẳng vào Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội ngày nay). Cánh quân này vừa tiến vừa nói phao lên rằng sẽ đánh thẳng vào tận kinh thành Thăng Long. Lúc này, đại quân đã đi xa, Thăng Long đang trống rỗng, khả năng chống trả bị suy giảm rất nghiêm trọng. Trước tình thế đó, Bà Thái phi liền sai tướng Trịnh Đạc phân chia lực lượng quân sĩ ít ỏi còn lại ở trong cung đi trấn giữ các cửa thành, đồng thời, sai các quan văn như Phạm Kinh Vĩ, Nguyễn Bá Quýnh… huy động dân ra phía ngoài thành, xếp thành đội ngũ chỉnh tề để nghi binh, xong thì cấp báo cho Chúa Trịnh Doanh.
Lúc ấy, Chúa Trịnh Doanh vừa đánh dẹp được Ngân Già, chợt nghe tin cấp báo từ kinh thành Thăng Long chuyển đến, vội hạ lệnh cho các đạo quân phải về Thăng Long để cứu lấy đất căn bản. Nhưng, khi đại quân mới về đến xã Kim Lan thì giặc đã rút lui rồi. Kinh sư nhờ đó vẫn được yên ổn” (14), (15).
Với sự hậu thuẫn đắc lực của Bà Thái Phi cùng các đại thần như: Hoàng Ngũ Phúc, Vũ Tất Thận, Phạm Đình Trọng.v.v…trong một thời gian ngắn Chúa Trịnh Doanh đã đưa xã hội Đàng ngoài trở lại ổn định và phát triển. Lịch sử đã ghi nhận những năm Chúa Trịnh Doanh cầm quyền ở Bắc Hà là thời kỳ đất nước ổn định và thịnh đạt.
III. Đánh giá
Như vậy, qua những nghiên cứu trên đây có thể thấy rằng, Bà Chúa Me – Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên là một trong những Bà Chúa tài năng và có nhiều đóng góp cho nhà Lê - Trịnh.
1. Nhà Trịnh có hơn 200 năm điều hành đất nước, trải qua 12 đời chúa. Bà Chúa Me là Thái phi của Chúa Trịnh Cương, đời chúa thứ 6, sau đó 6 đời chúa còn lại, từ vị chúa thứ 7 (Trịnh Giang) đến vị chúa thứ 12 (Trịnh Bồng) đều là con trai, cháu và chắt ruột của Bà.
2. Điều đặt biệt, cũng là hiếm có trong lịch sử, việc Bà trực tiếp nuôi dạy cả chúa và vua và là mẹ của hai vị Chúa: Trịnh Giang và Trịnh Doanh. Chúa Trịnh Giang mặc dù cũng là vị Chúa có nhiều tai tiếng, nhưng cũng là người có nhiều công lao trong xây dựng đền, chùa, nhiều công trình văn hóa quan trọng còn lưu đến ngày nay (Ví dụ như Đền Ngọc Sơn, Hồ Gươm, Hà Nội ....) góp phần làm rực rỡ văn hóa tâm linh thời Lê Trung hưng. Còn Chúa Trịnh Doanh là người có nhiều công lao cho sự phát triển đất nước lúc đó cũng đã được lịch sử ghi nhận. Có thể nói, các con trai Bà, những vị Chúa cũng đã bị ảnh hưởng nhiều bởi người mẹ, người trực tiếp nuôi dạy họ.
3. Sự thu xếp, sắp đặt của Bà để chuyển giao quyền lực từ anh sang em (năm 1740), khi người anh (Chúa Trịnh Giang) không còn năng lực, đã tránh cho nhà Lê – Trịnh một cuộc đổ máu vô ích, điều quan trọng là tránh xung đột, mâu thuẫn ngay chính trong hai con của Bà, tránh được cảnh huynh đệ tương tàn như nhiều đời vua, chúa khác trong lịch sử (16).
4. Trong lịch sử xã hội phong kiến nước ta, những người phụ nữ tham gia chính sự, làm nhiếp chính không nhiều. Khi thành Thăng Long bị nguy hiểm do quân khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ kéo quân về đánh úp, Bà đã điều binh, khiển tướng, dàn quân ngoài thành Thăng Long để đối phó (lúc đó Kinh thành bỏ ngỏ do Chúa Trịnh Doanh còn mang quân đi đánh trận ở ngoài chưa về kịp), thể hiện rõ sự mưu lược, hiểu biết binh pháp của Bà, thể hiện ý chí quyết tâm, dũng cảm bảo vệ kinh thành Thăng Long và chính quyền nhà Lê - Trịnh.
Tất cả những điều đó càng khẳng định sự nghiệp và công lao của Bà không chỉ với Chúa, với Vua, với nhà Lê - Trịnh mà còn cả với đất nước thời Lê Trung hưng. Lịch sử đã qua đi gần ba trăm năm, hiện nay, trên mảnh đất nơi Bà Chúa Me sinh ra vẫn còn một số dấu tích của Bà với những câu chuyện huyền thoại được truyền miệng trong dân chúng huyện Đường An - Bình Giang, Hải Dương cho đến ngày nay./.
Chú thích và tài liệu tham khảo
1. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
2. Theo Bia văn chỉ huyện Đường An và các tài liệu có liên quan;
3. Theo Trịnh Gia chính phả;
4. Vũ tộc phả ký: Gia phả của dòng họ Vũ tại xã Vĩnh Hồng, Bình Giang, Hải Dương
5. Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) có Sắc tôn thần hộ Quốc cho ông Vũ Tất Thận, hiện sắc phong còn đang lưu giữ tại nhà thờ của họ Vũ.
6. Vũ Tất Thận tức Bính Quận Công, tháng 1 năm 1740 (tức là ngay sau khi được lên ngôi chúa) Chúa Trịnh Doanh đã xếp Vũ Tất Thận vào hàng công thần, mũ và đai của Vũ Tất Thận được trang sức bằng vàng, tương tự như mũ và đai của các bậc thân vương;
7. Theo Trịnh Thị Ngọc phả:
8. Theo Danh tướng Việt Nam, tại đây Chúa Trịnh Giang đã cho xây phủ đệ và nhà từ đường cho nhà ngoại rất nguy nga. Việc xây cất này mới hoàn tất vào tháng 5 năm 1736, sau đó bị nghĩa quân Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ đến đốt phá
9. Danh tướng Việt Nam, tập 3, Nguyễn Khắc Thuần, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1998;
10. Theo Khâm định Việt sử thông giám mục;
11. Vũ Điện là tên làng, xưa thuộc huyện Nam Xang, trấn Sơn Nam, nay thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam;
12. Hiến Doanh tức Phố Hiến, nay thuộc tỉnh Hưng Yên;
13. Xã Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương ngày nay
14. Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 38, tờ 38);
15. Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 38, tờ 38). Xã Kim Lan nói đến ở đây về sau đổi gọi là Kim Quan, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội.
16. Theo Hoàng Lê nhất thống chí và nhiều tài liệu khác, Trịnh Giang làm lễ nhường ngôi cho em và nhận phong là Thái Thượng Vương;
17. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Ngô Đức Thọ, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1993.
18. Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, Dương Thị The và Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1981.
19. Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút;
20. Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, nhóm Đỗ Mộng Khương dịch, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1992;
21. Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Phạm Trọng Điềm dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế 1992.