Bà Chúa Xứ Châu Đốc An Giang

  • Home
  • Bà Chúa Xứ Châu Đốc An Giang

Bà Chúa Xứ Châu Đốc An Giang Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Bà Chúa Xứ Châu Đốc An Giang, Religious organisation, Núi Sam, Phường Núi Sam, Châu Đốc, An Giang, .

NẾU MUỐN THỜ, HÃY THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN-  Cơ quan chức năng tỉnh Sóc Trăng đang xem xét một dự án xây dựng khu du lịch tâm ...
23/09/2020

NẾU MUỐN THỜ, HÃY THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN
-
Cơ quan chức năng tỉnh Sóc Trăng đang xem xét một dự án xây dựng khu du lịch tâm linh tại khu vực thị xã Vĩnh Châu (Sóc Trăng), trong đó hạng mục quan trọng nhất là bức tượng Quan Thánh Đế Quân (Quan Công) với chiều cao dự kiến 36m.

Nhân đây, tôi muốn nói vài điều sau:

Điểm 1: con người Quan Công:

Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa có 4 cái tuyệt:

- Tuyệt nhân Lưu Bị
- Tuyệt trí Khổng Minh
- Tuyệt gian Tào Tháo
- Tuyệt nghĩa Quan Công.

Trong 4 cái tuyệt ấy, quan trọng nhất là cái tuyệt thứ 4: “Tuyệt nghĩa”.

Bởi vì đó là cái tuyệt gắn liền với Tôn giáo. Cụ thể ở đây là nho Giáo cùng quan điểm "Trung quân". Mà tôn giáo lại song hành cùng chính trị. "Trung nghĩa" ấy chính là cái rường cột vĩ đại nhất của các triều đại phong kiến Trung Hoa và Việt Nam.

Quan Vũ tự Vân Trường là hình tượng tuyên truyền vĩ đại nhất của thời đại phong kiến Trung Hoa.

Chính ở đó, Quan Vũ được xây dựng để trở thành hình tượng quan trọng nhất. Dù cho xét mọi mặt ở Tam Quốc thì Quan Vũ đều không xuất sắc bằng người khác trong cùng một lăng kính (ví dụ uy vũ không bằng Trương Phi, Lữ Bố hay mưu lược không bằng Lã Mông, Từ Hoảng). Chưa kể tính cách kiêu ngạo đẩy Quan Vũ vào chỗ chết. Mọi thứ đều không xứng với tầm vóc được thờ cúng.

Nhưng vì là lẽ tồn tại của kẻ thống trị. Nên người ta cần Quan Vũ.

***

Điểm 2: đâu là trung nghĩa đích thực?

Tôi nhắc lại một tham luận của Tiến sĩ Dương Quốc Quân về sự khác biệt Nho giáo của Trung Quốc và Việt Nam:

"Nếu Nho giáo Trung Quốc đem nước phụ thuộc vào vua, truyền bá chủ nghĩa trung quân mà không biết đến chủ nghĩa yêu nước”, thì ở Việt Nam, tư tưởng trung quân của Nho giáo không còn sức ràng buộc mạnh mẽ đối với các nhà nho một khi nó mâu thuẫn với lòng yêu nước, với lợi ích của dân tộc."

Tức là 1 bên Trung với vua. 1 bên Trung với nước.

Bạn cần chứng minh?

Lịch sử hình thành của Trung Quốc: đó là 1 quốc gia được hình thành từ nội chiến, từ nồi da xáo thịt mà ra. Xuân Thu chiến quốc, Tam quốc diễn nghĩa ... vốn chỉ là người Trung Quốc giết người Trung Quốc.

Còn Việt Nam, 4000 năm dựng nước đi đôi với giữ nước. Những triều đại được tôn trọng nhất, những người anh hùng được yêu quý nhất, là những người đánh thắng giặc ngoại xâm. Nội chiến không phải là không có. Nhưng thuộc vào quá trình mở cõi, hoặc xuất hiện trong giai đoạn chưa quá 200 năm. Còn Trung Quốc, nội chiến cả nghìn năm để giành 2 chữ: THIÊN HẠ.

Trung Quốc thực tế là 1 quốc gia có sức PHẢN KHÁNG trước ngoại xâm rất yếu nhưng sức ĐỒNG HÓA thì cực mạnh. Mông Cổ, Mãn Thanh, Nhật Bản đều lấy được Trung Quốc rộng và đông gấp 10 lần họ.

Việt Nam ngược lại, không có sức đồng hóa mạnh nhưng có sức phản kháng mạnh.

Do đó:

Trung Quốc cần Quan Công, chứ không phải Việt Nam cần Quan Công.

Trung Quốc cần Quan Công theo kiểu đánh nhau nội bộ, chọn lọc tự nhiên để tạo nên đế chế. Còn Việt Nam không có lý do gì chọn người như thế, mà nên chọn người trung nghĩa vì non sông.
-

Vậy thế nào là trung nghĩa đích thực của Việt Nam?

Tôi rất thích một câu nói của một người chú là cựu chiến binh, từng tham gia chiến dịch mùa xuân 1975:

"Trung Nghĩa kiểu Khổng Nho là nguồn sáng tạo ra nhiều loại tội ác. Trong thời loạn, đưa con người ta vào cảnh "nồi da xáo thịt", bước vào cuộc chiến tranh của những kẻ không quen biết bởi những kẻ biết nhau. Còn Trung Nghĩa với Non sông, với đồng bào, đồng loại là khác. Là nguồn sáng tạo ra người hiền và người hùng!"
-

Điểm cuối: Đâu là Quan Công của Việt Nam?

Hình tượng Quan Vũ từ bao đời nay là hình tượng đẹp.

Là thánh nhân?

Nhưng là thánh nhân của Tàu hay của Việt? Nếu thánh của Việt hãy chọn Hưng Đạo Đại Vương.

Ảnh minh họa: cần gì phải ngựa Xích Thố, cần gì phải Thanh Long Yểm Nguyệt Đao, cần gì phải mặt đỏ râu dài. Giản dị và nhỏ bé này là người Việt Nam ta, là dân tộc đã đứng vững và bao lần đánh bại kẻ thù bằng hình ảnh này đấy.

1. Sự linh thiêng của Đức Thánh Trần, hãy xuôi về Bắc để hỏi.

2. Sự vĩ đại của Đức Thánh Trần. Đọc và hiểu trên tầm Quan Công cỡ nào.

Ngày Hưng Đạo Vương ốm nặng, Vua tới thăm và hỏi nếu quân phương Bắc tràn xuống thì sao? Hưng Đạo Đại Vương đã kể rất nhiều bài học về giữ nước của các bậc tiền nhân từ thời Đinh, Tiền Lê, nhà Lý, cuối cùng ông trả lời “Khoan thứ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy". Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn bất tử trong lòng người dân, không chỉ bởi sự vĩ đại của một con người kiệt xuất văn võ song toàn, với võ công oanh liệt nhất là thắng giặc Nguyên Mông. Mà còn cả một tấm lòng yêu dân vô hạn.

3. Còn bàn về 2 chữ Trung nghĩa ư? Trần Quốc Tuấn bỏ qua lời trăn trối của cha lúc lâm chung “Con không vì cha lấy được thiên hạ, cha dưới suối vàng không nhắm được mắt”. Bất kể lúc đó, ông nắm cả quân đội trong tay và sự ủng hộ của phần đông quý tộc. Đây là cái tuyệt nghĩa dành cho dân tộc, cao và hơn chuyện “Hoa Dung đạo” thả Tào Tháo nhiều lắm.

Trần Hưng Đạo là Đức Thánh Trần của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử của Việt Nam gieo trong lòng người trẻ, cho thế hệ sau đã yếu kém lắm rồi. Vậy mà các vị làm gì? Không nỗ lực vực dậy. Không xây dựng hình tượng. Không mở rộng ra một Đức Thánh Trần, lại đi PR thêm cho một kẻ dưới tầm Đức Thánh của chính dân tộc.

Lời cuối:

Tôi không phải là mẫu người anti China một cách mù quáng. Ví dụ các gia đình Việt thờ Quan Công không có nghĩa là gia đình ấy không yêu nước hay nhà doanh nhân ấy có ý gì. Họ quý vì cái tính cách, sự linh thiêng. Hay thậm chí là mua may bán đắt.

Nhưng khi một tỉnh xây tượng đài Quan Công là chuyện khác. Chuyện này là vấn đề có tính quốc gia chứ không phải là giống như những người buôn bán hay một số gia đình Việt thờ Quan Công nữa.

Bởi nhân vật được dựng tượng ấy là biểu tượng trung nghĩa của quốc gia đang tranh chấp biển Đông với chính chúng ta.
---

Tác giả Dũng Phan

Hình ảnh mặt trăng hình mặt người do 1 nhà sư ở Trà Vinh nhìn thấy và ghi lại. Đang có quá nhiều hiện tượng lạ lùng liên...
02/04/2020

Hình ảnh mặt trăng hình mặt người do 1 nhà sư ở Trà Vinh nhìn thấy và ghi lại. Đang có quá nhiều hiện tượng lạ lùng liên tiếp diễn ra trong năm 2020 vừa qua! Chúng ta cùng chia sẻ và cầu nguyện cho mọi điềm xấu xa ta biến.
Cầu nguyện Bà Chúa Xứ chu chúng con được bình an.

Đạo sĩ Ba Lưới (ngụ trên núi Cấm thuộc xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, An Giang) đã qua đời ở tuổi 105.Cụ bà lớn tuổi nhất t...
30/05/2019

Đạo sĩ Ba Lưới (ngụ trên núi Cấm thuộc xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, An Giang) đã qua đời ở tuổi 105.
Cụ bà lớn tuổi nhất thế giới qua đời ở tuổi 117

Người thân tổ chức đám tang cho đạo sĩ Ba Lưới.
Đạo sĩ Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y. Quê ông ở huyện Chợ Mới, An Giang. Cụ Ba Lưới không chỉ là đạo sĩ cuối cùng của vùng đất Thất Sơn huyền thoại mà còn là người có những trận thư hùng vang danh với chuyện diệt cọp và rắn hổ mây khổng lồ.
Được biết, vào năm 19 tuổi, nghe người dân đồn trên núi Cấm có nhiều đạo sĩ có công năng kỳ dị, nên chàng trai Nguyễn Văn Y quyết định rời gia đình tầm sư học đạo.
Sinh ra ở vùng sông nước, ngày ngày kiếm cá đổi cơm nên đi đâu ông cũng dắt manh lưới bên mình, thấy ngộ các đạo sĩ gọi ông là Ba Lưới. Cũng từ đó, chẳng ai nhớ đến cái tên Nguyễn Văn Y của ông nữa.

Là người có sức khỏe, trí thông minh, lại chăm chỉ học hỏi nên chàng trai Ba Lưới được nhiều đạo sĩ dạy dỗ, đào tạo. Có đạo sĩ dạy ông cách luyện khí công, đạo sĩ dạy thuốc, đạo sĩ dạy võ…
Một hôm ông đi kiếm củi về, đột nhiên thấy một con hổ mây đen thui, dài có đến bốn mét vắt ngang thân cây. Nghe tiếng động con rắn khổng lồ lao về phía ông. Ông Ba Lưới nhẹ nhàng thoát miếng đớp của con rắn. Lúc này, bình tĩnh nhìn hướng di chuyển của nó ông lấy sức giáng một búa thật mạnh khiến rắn bị thương. Chưa dừng lại, ông lấy đòn gánh đâm nhát chí mạng vào cổ rắn.
Những năm sau đó, cụ Ba Lưới lần lượt hạ sát được nhiều mãnh thú như cọp dữ và cả heo rừng nặng đến 200kg để đem lại sự bình yên cho người dân. Chuyện diệt cọp và hổ mây khổng lồ của đạo sĩ Ba Lưới hiện đã đi vào cẩm nang giới thiệu về vùng Bảy Núi.
Nhưng người đời truyền tụng, giữ sự kính trọng đối với các vị đạo sĩ Thất Sơn không phải từ những câu chuyện mang tính truyền thuyết ấy mà là tài năng bốc thuốc cứu người của ông.

06/05/2019

BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI

* Con người: Là tổng hoà của cấu tạo vật chất đơn giản (thể xác) và vật chất cao cấp (linh hồn): Là kết quả của sự tiến hoá của tự nhiên; là sản phẩm sáng tạo tất yếu của Thượng đế và là hình ảnh của Thượng đế; là động vật có tiến hoá cao nhất ở trần giới, phù hợp với xã hội hiện thực, tạo ra xã hội và là nhân tố của xã hội.

* Thể xác-vật chất đơn giản: Thể xác của con người là bao gồm toàn thể phần cấu tạo nên hình dạng ( cá thể). Các bộ phận vật chất của cơ thể nhìn thấy được. Thể xác con người là Vũ trụ thu nhỏ, chứa nguyên khí Vũ trụ, là sản phẩm tinh vi nhất của Vũ trụ. Thể xác chịu ảnh hưởng của các qui luật sinh hoá, có tuổi thọ phụ thuộc vào các giá trị tích tụ và duy trì nguyên khí Vũ trụ trong nó. Thể xác con người chấp nhận sự tìm hiểu và khám phá như nền y học hiện đại nghiên cứu. Nhưng nay Thiên Đạo tìm ra qui luật, kiến thức mới về cơ thể con người như: “Qui luật chuyển hoá nguyên khí từ trường trong con người”, ‘các cửa sổ của con người”, “khai mở năng linh”, “ sự vận hành của khí, trí, lực”, “cải tạo tế bào bằng nhân điện”, “Điều khiển tâm hồn và chữa trị nhân cách”, “Não người-bộ ra-di-o-máy phát điện đa chiều”, “phép biến đổi linh hồn”…(Nguyên Lý Trung Phương bổ trợ).
Các công trình này, khi được phổ quát kiến thức, mở ra hướng nghiên cứu, giúp nhận thức con người hoàn thiện hơn về bản thân một cách khoa học. Dòng nguyên khí lưu chuyển trong con người là nguồn cung cấp và duy trì năng lượng tự nhiên, trong đó có linh hồn dựa vào dòng nguyên khí này để duy trì sự tồn tại của cơ thể theo qui luật tự nhiên. Các huyệt đạo chính là các điểm nối tập trung nguyên khí: Các dòng máu là vật chở nguyên khí. Nguyên khí lan toả khắp cơ thể. Giống như trái đất vậy và Vũ trụ cũng vậy.
Thức ăn là vật nạp năng lượng trực tiếp cụ thể. Còn nguyên khí gốc được hình thành, được Thượng đế tu tạo ngay từ ban đầu, nó là một “cơ chế” mở, được biến đổi theo các qui luật khắt khe của tự nhiên, là một hành lang cụ thể, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn nguyên năng, tức là sự tác động tự nhiên, tức Thượng đế an bài: Đó chính là số phận của thể xác (sống, chết).
Cơ thể con người là cơ thể của một động vật, do đó, nó cần thiết các yếu tố thông thường của động vật như: Cơ chế bản năng, cơ chế sinh hoá, cơ chế chuyển hoá vận động. Nó đơn thuần là một thể xác dục vọng tầm thường. Nó là bộ máy cao cấp kỳ diệu của tự nhiên-không thể hoàn thiện hơn được nữa. Mọi vấn đề của nguyên khí có được của cơ thể, đều biểu hiện cụ thể, trực tiếp ở thể xác. Nguyên khí mạnh, tất mặt, hình dáng, khí chất, gan bàn chân tay…(gọi là tướng học hay diện tướng) có các đặc điểm tương ứng và ngược lại. Cho nên, số và tướng hài hoà với nhau, không có gì là bí hiểm cả. Về cấu tạo, đặc tính, nguyên lý hoạt động, sự vận hành của cơ thể con người, đến nay khoa học đã nghiên cứu, mổ xẻ nhiều, đạt được những thành tựu sát thực. Duy có một về sự hình thành của tư tưởng (suy nghĩ), cấu tạo như thế nào, nguyên lý tồn tại của nó. Động vật cao cấp thì cótư duy (tức đồng nghĩa với việc có linh hồn), thì khoa học chưa chứng minh được.
Tại sao nói: Thể xác là “vật chất đơn giản”. Bởi vì: Vốn dĩ thể xác nếu tách khỏi linh hồn, thì nó là vật vô tri. Nó “đơn giản” so với “vật chất siêu đẳng” là linh hồn khi chết, và là “hồn vía” khi người còn ở thế gian. “Vật chất đơn giản” cấu tạo bằng các phân tử hạng nặng, là khối nặng. Các điện tử hoá học tạo nên các phân tử này, hoạt động chậm, nặng nên tiêu thụ năng lượng lớn. Càng tiêu thụ năng lượng lớn, cơ thể càng nặng nề, các phân tử càng nhanh già. Đó là lý do tại sao người tu hành ăn kiêng khem, lại sống thọ. Người ăn thịt nhiều, tuổi thọ lại ít hơn những người sống thanh bạch. Đặc biệt, sống thanh sạch dễ siêu thoát hơn người sống không thanh sạch, nặng về vật chất, nhiều tham vọng. Vấn đề này có ngược với chủ trương là phấn đấu an lạc, no ấm không? Chúng ta không chủ trương sống thanh bần, mà sống thanh sạch: Thanh sạch tinh thần và thể xác. Nếu còn đói khổ thì còn mưu cầu, còn sinh ra vô số tham ác khác nhau; vả lại, mục đích của con người muôn đời là no ấm hạnh phúc, các kiếp trước tu tốt, kiếp sau mới an khang, no ấm, ấy là luật Trời. Nhưng thanh sạch, no ấm phải có đạo đức. No ấm, giàu sang mà có đạo đức thì quý vô cùng! Con người đã hưởng no đủ, ấm lòng, sẽ hướng về cuộc sống xa các thứ xa xỉ để chuẩn bị cho hành trang tinh thần lên Thượng giới.
Vấn đề tâm lý khát vọng, tham vọng cực kỳ quan trọng trọng các cảnh giới: Thế thì một giáo hữu no ấm, đầy đủ, không thèm khát gì, lại thuần đạo Chân Lý, coi khinh sự phàm tục vật dục ở cuối đời, thì sẽ giải thoát nhanh hơn các loại khác!
Thiên đường Hạ giới có, khi con người đạt đỉnh cao về hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc tư tưởng, thế thì còn hối tiếc gì, mà không về Trung-Thượng giới? Vấn đề là ở chỗ mục đích sống là gì? Cùng thiện, cùng no ấm, cùng tiến bộ, cùng thanh sạch, phải cần thanh sạch, hoặc ngược lại. Thế đó!

Văn khấn cúng miếu bà chúa Xứ núi Sam:“Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ.Cúi xin được ...
02/03/2019

Văn khấn cúng miếu bà chúa Xứ núi Sam:

“Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ.
Cúi xin được phù hộ độ trì. Hương tử con là:... Ngụ tại:…. sinh ngày ... tháng ... năm...
Ngày hôm nay là Ngày….. Tháng….. Năm.
Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được: gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, bách sự cầu được như ý. ……. (Muốn gì cầu xin) Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ, cúi xin được phù hộ độ trì.”

THÁNH MẪU LINH THIÊNGChia sẻ và cùng nhau cầu nguyện:Đa lộc, đa tài, đa phú quý. Đắc thời, đắc lợi, đắc nhân tâm.Để gặp ...
02/03/2019

THÁNH MẪU LINH THIÊNG
Chia sẻ và cùng nhau cầu nguyện:
Đa lộc, đa tài, đa phú quý.
Đắc thời, đắc lợi, đắc nhân tâm.
Để gặp may mắn cả năm. 🙏🙏🙏

Bài văn khấn cúng Bà Chúa Xứ trên núi Sam ở Châu Đốc
Đồ Cúng Tâm Linh Việt xin giới thiệu một bài viết đầy đủ nhất về cúng bà Chúa Xứ cùng với toàn bộ sự tích linh thiêng về địa danh nổi tiếng trên dốc núi Sam ở Châu Đốc. Cùng với bài văn khấn bà chúa Xứ để xin Lộc. Nào cùng bắt đầu hành trì đến với Châu Đốc.

Miếu Bà Chúa Xứ
Bài văn khấn cúng ở miếu Bà Chúa Xứ trên núi Sam linh thiêng tại Châu Đốc tỉnh An Giang
Bà chúa Xứ Châu Đốc
Châu Đốc cách TP.HCM khoảng 250km, cách TP. Long Xuyên khoảng 55km, là một thị xã trực thuộc tỉnh An Giang, nằm bên ngã ba của sông Châu Đốc và sông Hậu sát biên giới Việt Nam với Campuchia. Thị xã Châu Đốc có chiều dài lịch sử gắn liền với những câu chuyện ly kỳ về Bà Chúa Xứ Núi Sam – nơi có Lễ hội Bà Chúa Xứ vào khoảng tháng Tư âm lịch hàng năm.

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng. Kiến trúc có dạng chữ “”quốc””, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng.

Bà Chúa Xứ Núi Sam
Trông từ xa, ngôi miếu như một bông sen xanh ngự uy nghi trên cao để người đời hướng về bái vọng. Lại gần, khách sẽ thấy ngỡ ngàng khi chiêm ngưỡng các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son.

Văn khấn cúng miếu bà chúa Xứ núi Sam:
“Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ.
Cúi xin được phù hộ độ trì. Hương tử con là: Ngụ tại:….
Ngày hôm nay là Ngày….. Tháng….. Năm.
Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được: gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, bách sự cầu được như ý. ……. (Muốn gì cầu xin) Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ, cúi xin được phù hộ độ trì.”
—Hết—

Xin lộc bà chúa Xứ
“Ai đi cũng nên xin một BAO LÌ XÌ LỘC BÀ về cho may mắn nha…nói thẳng trong bao có khi là tiền, có khi là tấm áo Bà Mặc cắt ra làm lộc
Lộc bà chúa Xứ
Cách sử dụng lộc Bà Chúa Xứ như sau:
– Khi rước lộc về nhà, thỉnh lộc bà lên một cái dĩa, sau đó để 4 ly nước suối kế bên, cầm từng ly lên khấn cung nghinh bà về cư gia, cứ mỗi ly nước ta khấn xong ta chế 4 góc nhà.
– Sau đó trân trọng đặt lên bàn thờ ở Mẹ Quan Âm chứ không nên để chỗ thờ Ông Địa như các nhà thường làm. Sẽ khinh thường bà, mà ông địa ông thần tài năm đó cũng không về được khánh.

– Khi đặt lên thì trong 9 ngày phải thay nước và 3 ngày thay trầu cau 1 lần.
– Sau đó ta có thể bỏ bóp hay để bàn thờ nhưng ta nhớ thường xuyên khấn Bà xin độ cho chúng con. Nếu để bàn thờ thì nên đặt thêm quanh bao lộc đó 5 thứ ngũ cốc.
– Cuối năm ngày 23 âm lịch hóa bao lộc này

Bên trong miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam
Vía Bà Chúa Xứ
Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của cư dân vùng sông nước Nam Bộ. Lễ hội diễn ra từ ngày 22 đến 27- 4 âm lịch, thu hút khoảng 4,5 triệu lượt du khách mỗi năm đến hành hương, dâng lễ cũng như chiêm ngưỡng cảnh sắc thiên nhiên của vùng đất An Giang. Lễ hội được công nhận là lễ hội cấp quốc gia vào năm 2001, được phục dựng lại các nghi thức truyền thống do ban quản trị lăng miếu đảm trách.
Chính lễ của Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam diễn ra trong ba ngày, gồm: Lễ Phục hiện rước tượng Bà từ đỉnh Núi Sam xuống Lăng Miếu; Lễ tắm Bà; Lễ Túc yết và Xây Chầu; Lễ Chánh tế; Lễ Hồi sắc,… Trong đó quan trọng nhất là Lễ tắm Bà diễn ra vào khuya ngày 22-4 âm lịch.

Tượng bà chúa Xứ
Như tên gọi, với những đường nét kiến trúc đặc trưng của nền nghệ thuật trầm mặc mà bay bỗng phương đông, ngôi miếu đồ sộ này chỉ thờ độc nhứt một pho tượng cổ. Đó là tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam, có kích thước to hơn người thật (tư thế ngồi, cao 1,65m).
Pho tượng đặt trên một bệ cao, kiên cố, được trang điểm bằng sơn dầu cho tăng thêm thần sắc. Do toàn thân có choàng áo rộng lộng lẫy phủ kín cả tay và chân nên rất ít người được mục kích kiểu thế ngồi của tượng.

Mắt tượng nhìn thẳng về hướng đông, uy nghiêm mà hiền ái, phúc hậu, như chan chứa cả một tấm lòng bao dung, tế độ.
Bà chúa Xứ là ai ?
Hiện nay tồn tại khá nhiều dị bản khác nhau về sự hình thành Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam. Đây được xem là tổ miếu của dạng thức tín ngưỡng này, có qui mô lớn nhất vùng, không chỉ mang ý nghĩa phản ánh đời sống văn hóa tinh thần của cư dân địa phương, mà còn có ý nghĩa trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua hoạt động du lịch.

Sự tích bà chúa Xứ
Bài viết ngắn này sẽ đề cập đến 4 sựu tích về Ba Chúa Xứ như sau:
Sự tích bà Chúa Xứ Châu Đốc thứ nhất:
Trên núi Sam ngày xưa có một bệ tượng hình vuông bằng đá sa thạch. Vào những năm đầu thế kỷ XIX, giặc Xiêm thường sang khu vực này để quấy nhiễu. Trong một lần lên núi và bắt gặp tượng Bà, họ liền có ý định cậy tượng ra khỏi bệ đá để đem xuống núi. Nhưng kỳ lạ thay tượng trở nên nặng vô cùng, họ không cách nào khiêng được mặc dù có bao nhiêu lính tráng khỏe mạnh.
Trong lúc tức giận, một quân lính người Xiêm đã vớ một khúc gỗ phang vào tượng làm sứt một miếng ở cánh tay. Ngay lập tức người lính Xiêm này hộc máu chết tại chỗ. Sau đó, một hôm dân làng lên núi thấy tượng Bà bèn cùng nhau khiêng tượng về lập miếu thờ. Tuy nhiên, cũng như lần trước, tượng nặng vô cùng, bao nhiêu trai tráng trong làng góp sức nhưng cũng không khiến cho bức tượng xê dịch được.

Lúc đó, bỗng một phụ nữ lên đồng, tự xưng là Bà Chúa Xứ và phán rằng, muốn thỉnh Bà xuống thì cần phải có 40 cô gái đồng trinh tắm rửa sạch sẽ mới có thể khiêng Bà xuống. Dân làng tin lời và làm theo. Quả thật linh nghiệm; tuy nhiên, đến chân núi Sam thì tượng Bà lại trở nên nặng trịch, không thể khiêng tiếp được nữa. Hiểu được dụng ý của Bà, dân làng liền cho lập đền thờ ở khu vực này.
Sự tích bà Chúa Xứ núi Sam thứ hai:
Kể lại rằng cách đây gần 200 năm, có một cô gái trong làng Vĩnh Tế bỗng lên đồng, tự xưng là Bà Chúa Xứ về núi Sam để cứu dân độ thế. Bà còn nói thêm là hiện nay, tượng Bà đang ngự trên núi, yêu cầu dân làng lên núi thỉnh về để thờ phụng. Dân làng liền phái 40 chàng thanh niên lực lưỡng lên núi để khiêng tượng, nhưng cũng không thể xê dịch bức tượng. Lúc đó, cô gái lại lên đồng và cho dân làng biết chỉ cần 9 cô gái đồng trinh là có thể khiêng được. Quả thật linh nghiệm; đến chân núi Sam, dây khiêng tượng bị đứt, thế là dân làng hiểu ý Bà mà cho lập miếu thờ Bà ở đây.
Sự tích bà Chúa Xứ thứ ba:
Thì cho rằng, dưới thời Thoại Ngọc Hầu trấn thủ Châu Đốc, đeo ấn bảo hộ Cao Miên, vợ ông (tức là bà Châu Thị Tế) ở nhà thường cầu nguyện cho ông bình an trở về, nếu được thì sẽ lập chùa thờ Phật để báo ân phù hộ. Sau khi Thoại Ngọc Hầu trở về, ông vì cảm kích trước tấm lòng của vợ mình nên đã cho quân lính sang tây Trấn Thành chở cốt Phật về lập chùa để thờ, đặt tên là chùa Tây An. Chùa xây xong, ông lo ngại tin đồn ác ý rằng xây chùa để thờ Phật của giặc nên đưa pho tượng ra ngoài chùa, lập miếu thờ để tránh phiền phức.
Sự tích bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc thứ tư:
Thì kể về việc một thiếu phụ Cao Miên đi tìm chồng, đến chân núi vì quá mệt mỏi nên đã ngồi nghỉ, sau đó bà đã hóa đá ở chân núi này. Sau đó, linh hồn người phụ nữ này nhập vào cốt đồng để nói về quá khứ và tương lai để giúp đỡ những người hiền và trừng phạt những người xấu. Dân làng liền lập miếu thờ và gọi bà là Bà Chúa Xứ.
Lễ hội bà chúa Xứ núi Sam An Giang
Lễ bà Chúa Xứ có thời gian diễn ra lễ hội là từ đêm ngày 23 đến ngày 27 tháng 4 Âm lịch hằng năm. Có hai giả thuyết giải thích lý do tại sao chọn những ngày này làm lễ vía Bà. Hai giả thuyết này khác nhau phụ thuộc vào vấn đề sự ra đời của miếu Bà.
Lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc tự bản thân nó là một lễ hội hoàn chỉnh với phần lễ (thể hiện tính chất lễ nghi, tôn nghiêm sùng bái đối tượng chính là Bà Chúa Xứ) và phần hội (phần văn nghệ quần chúng, vui chơi, giải trí của cộng đồng). Tuy nhiên, tùy theo tính chất của lễ hội mà có lễ hội nặng về phần lễ hoặc có lễ hội nặng về phần hội. Theo chúng tôi, lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc nặng về phần lễ nghi hơn. Lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc là sự kết hợp của văn hóa nông nghiệp và triết lý âm dương của người Việt. Triết lý âm dương của người Việt thể hiện qua huyền thoại về việc di dời tượng bà từ đỉnh núi Sam Châu Đốc bằng 9 cô gái đồng trinh[2]. Cốt tượng Bà là một người đàn ông mập, lùn, tay chống nẹ ở tư thế ăn quá no [Nguyễn Minh San: 1994]. Không ai thấy khuôn mặt thật của bà trừ những người đầu tiên được cử ra trang điểm cho bà và những người chứng kiến cảnh khiêng tượng bà từ đỉnh núi Sam xuống vị trí điện thờ ngày nay, và không ai trong số họ mô tả lại khuôn mặt thật của tượng bà.
Lễ hội tắm cho bà chúa xứ
Chúng tôi đến Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc nghiên cứu và thông qua một số tài liệu ghi chép, có thể khái quái nghi thức lễ hội vía Bà theo trình tự thời gian và không gian như sau:

Lễ tắm tượng Bà
Tổ chức vào lúc 24 giờ đêm ngày 23, rạng ngày 24 tháng 4 âm lịch.
Nói là tượng tắm Bà nhưng thực chất là lau bụi bặm bám trên cốt tượng Bà bằng nước thơm được nấu và pha trộn nhiều nước hoa tốt do các tín thí dâng cúng. Lau bụi bặm xong, tượng Bà được thay xiêm y mới, hài mới, mão mới trong một không gian chật hẹp là chánh điện được quây lại và chỉ có những người được Ban quản trị lựa chọn mới được tham gia.

Nước tắm Bà là một loại nước thơm nấu bằng nước mưa hứng ngoài trời với nhiều loại hoa thơm và có thêm nước hoa hàng hiệu thơm ngát. Sau khi đã tiến hành “tắm Bà” xong, một bộ quần áo đẹp nhất dâng cúng trong kỳ lễ hội được khoác lên tượng, thắt dây đai áo và các bộ phận khác, và cuối cùng là đội mão lên đầu tượng Bà.
Toàn bộ “lễ tắm Bà” kéo dài trong khoảng một giờ; sau đó, mọi người được tự do chiêm bái. Cũng cần nói thêm rằng, toàn bộ quá trình mộc dục cho Bà đều được thực hiện sau bức màn che, nhưng có đến hàng nghìn người chen chúc nhau đến để đứng ngoài vòng rào chính điện để xem.
Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà
Lễ này thường được thực hiện vào khoảng 15h00 ngày 24 tháng 4 âm lịch. Các bô lão trong làng được cử ra cùng với Ban quản trị miếu Bà bận trang phục chỉnh tề, nghiêm trang sang thỉnh sắc ở lăng Thoại Ngọc Hầu. Đoàn thỉnh sắc phong có đội múa lân của miếu Bà đi trước, kế đến là ông chánh bái, hai vị bô lão và những chức sắc khác rồi theo sau là học trò lễ với tay cầm cờ phướng. Tới trước điện thờ Thoại Ngọc Hầu, mọi người dâng hoa, niệm hương, tế lễ. Sau đó, họ thỉnh bốn bài vị lên long đình về miếu Bà. Bốn bài vị đó là: bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu, bài vị của bà chánh phẩm Châu Thị Tế, bài vị của bà nhị phẩm Trương Thị Miệt và bài vị Hội đồng.
Lễ túc yết
Lễ này được tổ chức vào 0 giờ ngày 25 và rạng ngày 26 tháng 4 âm lịch. Tất cả các bô lão trong làng và Ban quản trị miếu với lễ phục chỉnh tề, đứng xếp thành hai bên, trước chánh điện. Phía sau các vị ấy là bốn học trò lễ và bốn đào thày. Đứng chính diện với tượng Bà là ông Chánh bái. Lễ vật cúng được chuẩn bị từ trước đó không lâu rất kỹ lưỡng gồm: một con heo trắng đã cạo lông, mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chính; một đĩa đựng ít lông và máu của con heo (ế mao huyết); một mâm xôi, một mâm trái cây, một mâm trầu cau, một đĩa gạo muối.
Khi cúng, ông Chánh bái và các vị bô lão đến niệm hương trước bàn thờ. Sau khi đánh ba hồi trống gõ và ba hồi chiêng trống, nhạc lễ bắt đầu trỗi lên là lễ dâng hương, chúc tửu và hiến trà. Từng diễn biến của buỗi lễ được hai người xướng lễ (một xướng nội, một xướng ngoại) xướng to lên. Ông Chánh bái đi trước, bốn học trò lễ và bốn đào thày đi theo sau, hướng về phía bàn thờ tổ. Tại đây, ông Chánh bái tự tay rót rượu để học trò lễ đem dâng cúng.

Sau khi dâng hoa và dâng ba lần rượu gọi là chúc tửu, ba lần trà gọi là hiến trà, theo lệnh của người xướng lễ, văn bản tế được mang đến trước bàn thờ và một người trong ban quản trị miếu đọc văn tế. Dứt bài văn tế, ông Chánh bái đốt bài văn tế này, heo cúng sống trên bàn được lật ngửa ra trước khi khiêng đi chế biến.
Lễ xây chầu
Sau lễ túc yết là lễ xây chầu. Lễ này, có mặt hầu như ở tất cả các lễ hội cúng đình ở làng Nam Bộ.
Vào lễ, người xướng nội hô to: “Ca công tựu vị”, tức thì ông Chánh bái ca công liền bước tới bàn thờ đặt giữa võ ca, tay cầm hai dùi trống nâng lên ngang trán, miệng khấn vái râm rang. Trên bàn thờ có chuẩn bị sẵn một tô nước và một nhành dương liễu. Sau khi khấn vái, tô nước được xem là nước thiêng, nước thánh của. Ông Chánh bái ca công cầm nhành dương nhúng vào tô nước rồi vảy xung quanh với động tác ma thuật tựa như mưa rơi với ý nghĩa ban phát năng lượng thiêng xuống cõi trần cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. Vừa làm những động tác ấy, ông vừa xướng to:
“Nhất xái thiên thanh (một rảy cho trời xanh).
Nhị xái địa linh (hai rảy cho đất tốt lành).
Tam xái nhân trường (ba rảy cho con người trường thọ).
Tứ xái quỷ diệt hình (bốn rảy cho ma quỷ tiêu tan)”.
Đọc xong, ông Chánh ca công đặt tô nước và cành dương liễu trở lại bàn thờ, ông đánh ba hồi trống và xướng “ca công tiếp giá”, lập tức đoàn hát bội nổi chiêng trống rộ lên và chương trình hát bội bắt đầu. Các tuồng hát chuẩn bị sẵn bắt đầu nhảy vào cuộc, trước là phục vụ, mua vui cho Bà, sau là phục vụ cho bà con tham dự lễ hội thưởng thức. Phần hội thực sự bắt đầu.
Lễ chánh tế
Bắt đầu lúc 4 giờ sáng ngày 26 tháng 4 âm lịch. Nghi thức cũng tương tự như lễ cúng túc yết, chỉ khác là thêm một phần nội dung văn tế và có thêm phần “ẩm phước” với ý nghĩa là phần thưởng của Bà ban cho nhân dân mà vị Chánh tế đứng ra nhận lãnh thay. Theo nhà văn Sơn Nam, nghi lễ “thụ tộ” hoặc “ẩm tộ” hưởng tượng trưng lộc của thần, dùng chén rượu đã cúng mà uống, thay cho dân làng: “ ‘ẩm phước’, uống phần rượu trên bàn thờ, cúng nãy giờ, đem xuống cho Chánh tế, Bồi tế uống tượng trưng, rồi “thụ tộ” ăn phần thịt đã cúng, tượng trưng, thường là ăn trái cây (nho, nhãn), ăn và uống thay mặt cho dân làng, như là lộc của thần thánh” [Sơn Nam 2005: tr.359].

Đến 14 giờ chiều ngày 27 tháng 4 lâm lịch, Ban quản trị làm lễ hồi sắc, tức đưa bốn bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu, bà Châu Thị Tế, bà Trương Thị Miệt và bài vị Ban hội đồng về lại lăng ông Thoại Ngọc Hầu, chính thức kết thúc lễ hội.
Bà chúa xứ linh thiêng
Sau lễ mộc dục chính là lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Lễ này được tiến hành vào lúc 15 giờ ngày 24; tại miếu Bà, tất cả các bô lão của làng Vĩnh Tế cùng Ban Quản trị lăng miếu lễ phục chỉnh tề (áo dài khăn đóng – lễ phục cổ truyền) tập trung đông đủ và xếp thành hai hàng hai bên tượng Bà để chuẩn bị sang lăng Thoại Ngọc Hầu dự lễ thỉnh sắc.
Dẫn đầu đoàn thỉnh sắc là đội múa lân, theo sau là ông Hương lễ bưng khay trầu rượu, học trò lễ đi hai bên, rồi đến hai ông Chánh tế, ba ông Bồi tế, ba ông Chấp kích cùng các bô lão và đại diện dân làng Vĩnh Tế tiếp nối đi theo phía sau. Khi đoàn đến trước lăng Thoại Ngọc Hầu thì các bô lão lần lượt vào dâng hương và xin phép thỉnh bài vị.
Sau đó, đoàn thỉnh bốn sắc (bài vị) lên long đình để về miếu Bà. Bốn bài vị đó bao gồm: Bài vị của Nguyễn Văn Thoại, bài vị của bà Chánh phẩm Châu Thị Tế, bài vị của bà Nhị phẩm Trương Thị Miệt và bài vị của Hội đồng. Khi các bài vị được thỉnh về và an vị trong ngôi chính điện,
Ban Quản trị của miếu Bà dâng hương thỉnh an và phần lễ thỉnh sắc kết thúc. Tuy kết thúc nhưng hàng nghìn người dân từ khắp nơi kéo về dự lễ liên tục cho đến tận đêm khuya và thậm chí là kéo dài cho đến sáng ngày hôm sau. Do vậy, ngày 25 được xem là đông vui nhất trong lễ hội vía Bà – ngày lễ chính của cả mùa lễ hội.
Lễ túc yết được bắt đầu vào lúc 0 giờ ngày 25, rạng sáng ngày 26 tháng 4 Âm lịch. Tất cả các bô lão và Ban Quản trị khu lăng miếu lễ phục chỉnh tề, đứng xếp hàng hai bên tượng Bà. Vật cúng gồm có: Một con heo trắng đã được cạo lông sạch sẽ, chưa nấu chín; một đĩa đựng một ít huyết có chút lông (mao huyết); một mâm xôi; một mâm trái cây, một mâm trầu cau và một đĩa gạo muối.
Toàn bộ lễ vật được bày trên bàn trước tượng Bà. “Vào lễ cúng, ông chánh bái và các vị bô lão đến niệm hương trước bàn thờ. Kế đến là các phần khởi cỗ. Sau khi đánh ba hồi trống và ba hồi chiêng, nhạc lễ bắt đầu nổi lên là lễ dâng hương, chúc tửu, hiến trà… Một người trong Ban quản trị lăng miếu đọc văn tế. Dứt bài văn tế, ông chánh bái đốt văn bản này và một ít giấy vàng bạc; heo cúng trên bàn thờ được lật ngửa ra trước và khiêng đi, phần cúng túc

Bà chúa Xứ hiển linh.
Sau khi lễ túc yết kết thúc thì diễn ra lễ xây chầu. Lễ vật dâng cúng cũng là một con heo trắng để nguyên con, một mâm xôi và một mâm cỗ đủ món. Tại gian võ ca, những người tham dự ăn mặc chỉnh tề và xếp thành hai hàng. Sai khi ông Chánh tế vái xong thì lấy roi chầu vác lên vai rồi hô lớn “Phụng mạng”.
Sau đó, ông bước ra đặt roi chầu lên khay; sau đó là đến các lễ dâng hương, dâng rượu và trà. Phía bên trái bàn thờ có một tô nước và một cành dương liễu. Ông Chánh tế ca công cầm cành dương liễu đưa ngang trán và khấn vái rồi cầm cành dương liễu nhúng vô tô nước và vẩy nước ra xung quanh; vừa vẩy vừa đọc to câu thần chú:

“Nhất xái thiên thanh” (Thứ nhất, vẩy nước lên trời mong cho trời luôn thanh bình, mưa thuạn gió hòa);
“Nhị xái địa ninh” (Thứ hai, vẩy nước xuống đất, cầu cho đất thêm tươi tốt, mùa màng bội thu);
“Tam xái nhơn trường” (Thứ ba, vẩy nước cho loài người sống trường thọ);
“Tứ xái quỷ diệt hình” (Thứ tư, vẩy nước vào loài quỷ dữ cho chúng bị tiêu diệt).
Đọc xong câu thần chú, ông Chánh bái ca công đặt tô nước, cành dương liễu về lại bàn thờ; sau đó đánh ba hồi trống và xướng “Ca công tiếp giá”, đoàn hát bội “Dạ” một tiếng thật to. Ngay lập tức, đoàn ca công hát bội nổi chiêng trống và chương trình hát bội bắt đầu. “… Tất cả các vở tuồng hát đều là tuồng hay, có ý nghĩa sâu xa, nhưng trong năm buổi diễn bắt buộc phải có vở Thứ ba San Hậu, đào kép phải hát đúng nguyên bản không được tùy tiện sửa đổi
Tiếp theo là lễ chính tế. Lễ được tổ chức trọng thể vào lúc 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 Âm lịch. Chương trình tế lễ này tương tự như nghi lễ cúng túc yết. Sau khi tế lễ chính xong thì có phần lễ tạ Mẫu và các vị thần linh; sau đó chuẩn bị cử hành lễ hồi sắc.
Lễ hồi sắc được cử hành vào buổi chiều ngày 27 (15 giờ). “Ban Quản trị lại tề tựu đông đủ, áo dài khăn đóng (mặc lễ phục cổ truyền) chỉnh tề làm lễ Tôn Vương. Khi đó, ông Chánh tế ca công nhận hàm ấn và gươm lệnh của Hoàng tử trong vở hát bội Thứ ba San Hậu dâng lên bàn thờ bà Chúa Xứ. Sau đó, ông đốt văn xây chầu và chấm dứt phần hát bộ.
Đến khi làm lễ hồi sắc thì chủ lễ thỉnh bài vị Thoại Ngọc Hầu, bài vị hai vị phu nhân và bài vị Hội đồng đưa lên long đình. Rồi đoàn đưa sắc dàn đội hình rước sắc hồi lăng Thoại Ngọc Hầu theo thứ tự giống như rước sắc về miếu hôm mở hội… Nghi lễ hồi sắc là nghi lễ cuối cùng kết thúc lễ hội vía bà Chúa Xứ núi Sam”

Cầu xin lộc Bà Chúa Xứ An Gian
Kinh nghiệm đi Chùa Bà Châu Đốc

– Lễ vật: Lễ vật cúng bà được đông đảo người đi hành hương là heo quay, từ đó xảy ra dịch vụ cho thuê heo quay mướn. Du khách đến đây, có thể thuê heo quay được tính bằng Kg, sau khi cúng vái xong thì chú heo quay ấy sẽ trở về vòng quay cho thuê người tiếp theo…liệu như thế bạn chứng tỏ lòng thành của mình hay chỉ là góp phần cho nạn cò heo quay lộng hành??. Do vậy, nếu bạn không thể mang heo quay từ nhà thì tốt nhất là không mua hoặc thuê heo quay tại chùa.
– Hỏi kỹ giá trước khi mua: Dọc đường đi có các trạm dừng, bạn có thể mua hoa, trái cây tại đây, hoặc mua tại các điểm gần phà. Giá ở những nơi này sẽ rẻ hơn giá ở chùa.

Nếu không mua trên đường đi thì nên vào các cửa hàng lớn xung quanh chùa và hỏi kỹ giá cả trước khi mua. Không nên mua nhang đèn từ những người bán lẻ đi theo mời mọc vì ngoài giá đắt hơn. Sau khi mua bạn còn phải tiếp tục “chịu đựng” những người đi theo chèo kéo mua vé số, xin tiền, gửi lộc…
– Ăn xin: Tình trạng ăn xin diễn ra rầm rộ khi ngày lễ diễn ra, đừng nên cho tiền ăn xin vào ngày này nếu như bạn muốn bị hàng chục người ăn xin khác vây bạn như thể bạn là một “ngôi sao”. Mặc khác, tình trạng giả bệnh, giả cụt chân, tay…được biến hóa một cách rất tài tình…lợi dụng tình trạng này mà móc túi, giật đồ diễn ra mà bạn không hay biết.
– Lộc “trời cho”: Bạn đang thẩn thần thành tâm viếng chùa, bỗng một người lạ đến đưa bạn một túi nhỏ trong đó đủ thứ những vật cúng hoặc một tờ giấy 500 đồng được xếp theo đủ kiểu dúi vào tay, túi áo…cho bạn, ngay lập tức hãy trả lại hoặc bỏ mà đi vào chùa nếu như bạn không muốn bị dính vào cảnh người dúi túi lộc đó cho bạn đi theo xin tiền “trả lễ”. Tuy là nói tùy hỷ, nhưng nếu bạn trả lộc ít thì bạn sẽ nhận lại ngay những lời lẽ thô tục.
– Giữ chặt ví tiền: Tháng giêng, miếu Bà Chúa Xứ lúc nào cũng đông khách hành hương. Khi vào khu vực chính điện của miếu, bạn phải hết sức cẩn thận với ví tiền của mình. Khi đi chùa, không nên mang theo nhiều tiền mặt, nếu để trong túi xách thì phải cài chặt và quay túi xách ra phía trước để tránh bị mất cắp.
– Chen lấn: Không thể tránh khỏi khi mà hàng trăm ngàn người đổ về chùa bà cùng lúc. Đây là cơ hội của bọn móc túi rinh tiền, điện thoại, nữ trang của bạn, do đó khi đã viếng bà những ngày này tuyệt đối không nên mang nữ trang trên người, điện thoại và ví tiền nên bỏ vào tùi quần có dây kéo cẩn thận và khó luồng tay vào được.

Address

Núi Sam, Phường Núi Sam, Châu Đốc, An Giang

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bà Chúa Xứ Châu Đốc An Giang posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

  • Want your place of worship to be the top-listed Place Of Worship?

Share