22/12/2024
TỔNG QUAN VỀ DIỄN CHÂU
Tên gọi Diễn Châu đã xuất hiện gần 1400 năm nên chắc chắn có những làng, những xã trong huyện còn có tuổi đời lâu hơn thế.
Việc xác định vùng nào, làng xã nào có cư dân bản địa cổ nhất ở Diễn Châu là công việc gặp nhiều khó khăn. Bởi vì nơi đây thiên nhiên khắc nghiệt, chiến tranh liên miên và cả ý thức của con người nữa. Tất cả đã làm mờ đi những dấu tích của nó. Nhưng qua các di chỉ, truyền thuyết và một số dấu vết còn sót lại thì cư dân đầu tiên là người bản địa đã cư trú lâu đời ở Rú Ta – Đồng Mõm (nay thuộc xã Diễn Thọ) và lèn Hai Vai (xã Minh Châu). Những người đầu tiên khai khẩn ở Diễn Châu được cho là tổ tiên của dân Nho Lâm (Diễn Thọ) hiện tại. Ngoài ra còn có biết bao nhiêu người ở nơi khác đã đến đây cư trú qua nhiều thời điểm với nhiều nguyên nhân khác nhau. Người dân Diễn Châu đã cùng chung lưng đấu cật để chinh phục thiên nhiên, chống lại mọi thế lực hắc ám trong xã hội để tạo lập một Diễn Châu có bề dày lịch sử và văn hóa như ngày hôm nay.
Cũng như nhiều vùng quê xứ Nghệ, cư dân Diễn Châu sống chủ yếu bằng nghề nông. Trong nghề nông thì nghề trồng lúa là chủ yếu. Thứ đến là trồng ngô, khoai, sắn, lạc, đỗ, vừng, mía và cây công nghiệp như bông, dâu tằm,… Từ sau Cách Mạng Tháng Tám mà đặc biệt là những năm gần đây, nông nghiệp Diễn Châu đã có nhiều thay đổi về cơ cấu mùa vụ, giống cây trồng, công cụ và kỹ thuật canh tác. Bên cạnh trồng trọt, Diễn Châu cũng rất chú trọng phát triển chăn nuôi.
Ngoài ra, cư dân Diễn Châu còn sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản. Biển Diễn Châu có hầu hết các loại hải sản trong Vịnh Bắc Bộ, trong đó nhiều loại có giá trị kinh tế cao như tôm he, mực, rau câu, hải sâm,… Diễn Châu còn là huyện có nhiều nghề thủ công truyền thống như nghề luyện quặng và rèn sắt ở Nho Lâm, nghề đúc đồng ở Diễn Tháp, nghề làm nước mắm ở Vạn Phần, nghề dệt vải và tơ lụa ở Phượng Lịch,… Những làng nghề thủ công và buôn bán đã hình thành và phát triển từ bao đời nay ở Diễn Châu. Điều đó chứng tỏ bàn tay lao động cần cù cũng như sự thông minh sáng tạo của con người Diễn Châu trong suốt chặng đường dài lịch sử.
Người Diễn Châu mang trong mình khí chất của con người xứ Nghệ. Họ cần cù, chịu khó, kiên cường chinh phục thiên nhiên để xây dựng cuộc sống, quyết tâm chống lại mọi thế lực xấu xa trong xã hội để vươn mình ra muôn hướng. Bên cạnh đó, có lẽ xuất phát từ vị trí địa lí thuận lợi cho việc giao thương, nên tính cách người Diễn Châu cũng phần lanh lợi, thức thời.
Con người – mảnh đất Diễn Châu từ thời tiền sử đã lưu giữ những dấu vết của lịch sử và văn hóa nước nhà. Dấu tích của An Dương Vương hiện vẫn còn được lưu giữ trong đất, trong cát và trong tâm thức của người xứ Diễn. Diễn Châu là nơi đã
xảy ra tấn bi kịch của cha con Thục Phán An Dương Vương. Bãi biễn Cửa Hiền (Diễn Trung) chính là nơi Thục Phán đã đi vào cõi vĩnh hằng. Biết bao người đã không dấu nỗi niềm bâng khuâng, sự xúc động khi đặt chân đến đền thờ An Dương Vương, dưới chân núi Mộ Dạ.
Thời Bắc thuộc, Diễn Châu cũng như toàn cõi Văn Lang chịu sự đô hộ của các vương triều Trung Quốc. Họ đã cố thực hiện đồng hóa dân ta, chia Việt Nam thành từng quận huyện và sát nhập vào Trung Quốc. Nhưng sức sống, bản sắc văn hóa của dân tộc cùng với sắc thái văn hóa từng địa phương, trong đó có Phủ Diễn đã vượt qua sự đồng hóa đó.
Sức đề kháng, sức sống mãnh liệt của con người Phủ Diễn còn được thể hiện đậm đà trong thời kì đấu tranh bảo vệ và xây dựng nền độc lập của dân tộc. Đặc biệt ở thế kỉ thứ XIII, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thời nhà Trần, Diễn Châu là nơi tích trữ lương thực, đặt kho vũ khí, dựng trại tuyển quân và tập luyện để chuẩn bị cho kế hoạch lâu dài đánh giặc. Trong cuộc kháng chiến anh dũng này, nhân dân Phủ Diễn đã đổ nhiều xương máu và công sức cho nền độc lập dân tộc. Trong đó, nổi danh nhiều người vì tài đức của mình, được triều đình trọng dụng và đặc biệt được nhân dân khắc ghi công trạng như Trạng nguyên Bạch Liêu, Sát hải đại vương Hoàng Tá Thốn,...
Tới thế kỷ XV, khi Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của quân Minh xâm lược, ông đã đem quân vào Nghệ An để làm “chỗ đứng chân rồi dựa vào đấy để lấy nhân lực, tài lực dẹp yên thiên hạ”. Những người con ưu tú, yêu nước có tài năng của Diễn Châu đã xung phong dưới lá cờ nghĩa cả và có nhiều người trong đó đã trở thành võ tướng có tên tuổi của nghĩa quân Lam Sơn như Lam Sơn như Nguyễn Bá Lai, Cao Nhân Tới,… Nhân dân Diễn Châu đã hết lòng dốc tâm dốc sức cho nghĩa quân Lam Sơn.
Trong thế trận nông dân đứng lên chiến đấu, tinh thần quật khởi của nhân dân Diễn Châu nói riêng và cả nước nói chung đã tạo điều kiện cho cao trào khởi nghĩa nông dân to lớn do Nguyễn Huệ lãnh đạo. Người dân Diễn Châu đã góp phần không nhỏ trong đại thắng quân Thanh vào đầu năm Kỷ Dậu (1789) của cả dân tộc.
Trong những trang sử chống xâm lược của quê hương xứ Nghệ anh hùng, nhân dân Diễn Châu đã góp công xứng đáng. Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện những hành động tráo trở để xâm lược nước ta, triều đình Huế suy vong và bất lực. Các sĩ phu yêu nước đã đứng lên tập hợp nghĩa quân đánh Pháp. Tại Diễn Châu, các lò rèn Nho Lâm ngày đêm đỏ lửa, rèn đúc vũ khí cho nghĩa quân diệt giặc. Do có một số hạn chế khó tránh trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, các cuộc khởi nghĩa đã có những tiếng vang song cuối cùng vẫn thất bại. Nhiều làng quê ở Diễn Châu đã bị đốt phá. Hàng trăm dân lành bị bắt bớ, chém giết, tù đày. Thực dân Pháp và bọn tay sai đã gây nên những cuộc trả thù đẫm máu.
Trong những năm nổ ra phong trào Cần Vương, cùng với nhân dân các huyện bắc Nghệ An, nhân dân Diễn Châu đã quy tụ dưới ngọn cờ lãnh đạo của cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn. Nghĩa quân đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, khí phách cứng cỏi, bất khuất. Cụ Nghè Ôn, Đinh Văn Chất, Đề Vinh,… mãi là niềm tự hào của người dân Phủ Diễn.
Đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước ở Việt Nam diễn ra theo một xu hướng mới dưới ngọn cờ cứu nước của hai chí sĩ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Cụ Phan Bội Châu đã đến Diễn Châu, bắt liên lạc với những người đã từng hoạt động phong trào Cần Vương. Bên cạnh những hoạt động vũ trang, hoạt động duy tân và xuất dương du học, nhiều xã ở Diễn Châu tích cực mở các lớp truyền bá kiến thức mới, lập các hội học, hội buôn nhằm mở mang dân trí, chấn hưng dân khí. Trong số thanh niên Diễn Châu xuất dương hồi bấy giờ, Phùng Chí Kiên là người tiêu biểu nhất. Phùng Chí Kiên cùng Võ Mai là hai thanh niên yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng và được đi học lớp chính trị ở Quảng Châu. Vì vậy ở Diễn Châu, nhân dân được tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lê nin sớm. Một số chi hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội được xây dựng ở Vạn Phần, Cao Xá,… của Diễn Châu.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay sau đó, Đảng bộ Diễn Châu cũng được thành lập và thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cuộc đấu tranh mới quyết liệt – cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Từ năm 1930 đến năm 1945, nhân dân Diễn Châu đã hòa mình vào dòng thác cách mạng của dân tộc, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong ngày vui chiến thắng của đất nước mừng độc lập, có biết bao xương máu của chiến sĩ, của nhân dân xứ Diễn đã đổ xuống vì non song gấm vóc.
Xứ Diễn không chỉ là quê hương của những con người anh hùng bất khuất trong đấu tranh, cần cù chịu khó trong lao động mà còn là cái nôi của những con người hiếu học, luôn có tên ở tốp đầu khoa bảng, được nhân dân ca ngợi và tôn kính. Nhiều làng được được xem là làng khoa bảng như Lý Trai, Nho Lâm, Đông, Thịnh Mỹ, Vân Tập,… với những tên tuổi rạng ngời danh tiếng và đức độ như cha con Ngô Trí Tri – Ngô Trí Hòa, Nguyễn Xuân Ôn, Cao Xuân Dục, Đặng Văn Thụy, Nguyễn Hưng Hàn, Nguyễn Trung Mậu, Phùng Chí Kiên,… đã từng làm rạng danh xứ Nghệ.