Đền Hạc Linh Sơn

Đền Hạc Linh Sơn Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Đền Hạc Linh Sơn, Church, Xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An.

TỔNG QUAN VỀ DIỄN CHÂUTên gọi Diễn Châu đã xuất hiện gần 1400 năm nên chắc chắn có những làng, những xã trong huyện còn ...
22/12/2024

TỔNG QUAN VỀ DIỄN CHÂU

Tên gọi Diễn Châu đã xuất hiện gần 1400 năm nên chắc chắn có những làng, những xã trong huyện còn có tuổi đời lâu hơn thế.
Việc xác định vùng nào, làng xã nào có cư dân bản địa cổ nhất ở Diễn Châu là công việc gặp nhiều khó khăn. Bởi vì nơi đây thiên nhiên khắc nghiệt, chiến tranh liên miên và cả ý thức của con người nữa. Tất cả đã làm mờ đi những dấu tích của nó. Nhưng qua các di chỉ, truyền thuyết và một số dấu vết còn sót lại thì cư dân đầu tiên là người bản địa đã cư trú lâu đời ở Rú Ta – Đồng Mõm (nay thuộc xã Diễn Thọ) và lèn Hai Vai (xã Minh Châu). Những người đầu tiên khai khẩn ở Diễn Châu được cho là tổ tiên của dân Nho Lâm (Diễn Thọ) hiện tại. Ngoài ra còn có biết bao nhiêu người ở nơi khác đã đến đây cư trú qua nhiều thời điểm với nhiều nguyên nhân khác nhau. Người dân Diễn Châu đã cùng chung lưng đấu cật để chinh phục thiên nhiên, chống lại mọi thế lực hắc ám trong xã hội để tạo lập một Diễn Châu có bề dày lịch sử và văn hóa như ngày hôm nay.
Cũng như nhiều vùng quê xứ Nghệ, cư dân Diễn Châu sống chủ yếu bằng nghề nông. Trong nghề nông thì nghề trồng lúa là chủ yếu. Thứ đến là trồng ngô, khoai, sắn, lạc, đỗ, vừng, mía và cây công nghiệp như bông, dâu tằm,… Từ sau Cách Mạng Tháng Tám mà đặc biệt là những năm gần đây, nông nghiệp Diễn Châu đã có nhiều thay đổi về cơ cấu mùa vụ, giống cây trồng, công cụ và kỹ thuật canh tác. Bên cạnh trồng trọt, Diễn Châu cũng rất chú trọng phát triển chăn nuôi.
Ngoài ra, cư dân Diễn Châu còn sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản. Biển Diễn Châu có hầu hết các loại hải sản trong Vịnh Bắc Bộ, trong đó nhiều loại có giá trị kinh tế cao như tôm he, mực, rau câu, hải sâm,… Diễn Châu còn là huyện có nhiều nghề thủ công truyền thống như nghề luyện quặng và rèn sắt ở Nho Lâm, nghề đúc đồng ở Diễn Tháp, nghề làm nước mắm ở Vạn Phần, nghề dệt vải và tơ lụa ở Phượng Lịch,… Những làng nghề thủ công và buôn bán đã hình thành và phát triển từ bao đời nay ở Diễn Châu. Điều đó chứng tỏ bàn tay lao động cần cù cũng như sự thông minh sáng tạo của con người Diễn Châu trong suốt chặng đường dài lịch sử.
Người Diễn Châu mang trong mình khí chất của con người xứ Nghệ. Họ cần cù, chịu khó, kiên cường chinh phục thiên nhiên để xây dựng cuộc sống, quyết tâm chống lại mọi thế lực xấu xa trong xã hội để vươn mình ra muôn hướng. Bên cạnh đó, có lẽ xuất phát từ vị trí địa lí thuận lợi cho việc giao thương, nên tính cách người Diễn Châu cũng phần lanh lợi, thức thời.
Con người – mảnh đất Diễn Châu từ thời tiền sử đã lưu giữ những dấu vết của lịch sử và văn hóa nước nhà. Dấu tích của An Dương Vương hiện vẫn còn được lưu giữ trong đất, trong cát và trong tâm thức của người xứ Diễn. Diễn Châu là nơi đã
xảy ra tấn bi kịch của cha con Thục Phán An Dương Vương. Bãi biễn Cửa Hiền (Diễn Trung) chính là nơi Thục Phán đã đi vào cõi vĩnh hằng. Biết bao người đã không dấu nỗi niềm bâng khuâng, sự xúc động khi đặt chân đến đền thờ An Dương Vương, dưới chân núi Mộ Dạ.
Thời Bắc thuộc, Diễn Châu cũng như toàn cõi Văn Lang chịu sự đô hộ của các vương triều Trung Quốc. Họ đã cố thực hiện đồng hóa dân ta, chia Việt Nam thành từng quận huyện và sát nhập vào Trung Quốc. Nhưng sức sống, bản sắc văn hóa của dân tộc cùng với sắc thái văn hóa từng địa phương, trong đó có Phủ Diễn đã vượt qua sự đồng hóa đó.
Sức đề kháng, sức sống mãnh liệt của con người Phủ Diễn còn được thể hiện đậm đà trong thời kì đấu tranh bảo vệ và xây dựng nền độc lập của dân tộc. Đặc biệt ở thế kỉ thứ XIII, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thời nhà Trần, Diễn Châu là nơi tích trữ lương thực, đặt kho vũ khí, dựng trại tuyển quân và tập luyện để chuẩn bị cho kế hoạch lâu dài đánh giặc. Trong cuộc kháng chiến anh dũng này, nhân dân Phủ Diễn đã đổ nhiều xương máu và công sức cho nền độc lập dân tộc. Trong đó, nổi danh nhiều người vì tài đức của mình, được triều đình trọng dụng và đặc biệt được nhân dân khắc ghi công trạng như Trạng nguyên Bạch Liêu, Sát hải đại vương Hoàng Tá Thốn,...
Tới thế kỷ XV, khi Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của quân Minh xâm lược, ông đã đem quân vào Nghệ An để làm “chỗ đứng chân rồi dựa vào đấy để lấy nhân lực, tài lực dẹp yên thiên hạ”. Những người con ưu tú, yêu nước có tài năng của Diễn Châu đã xung phong dưới lá cờ nghĩa cả và có nhiều người trong đó đã trở thành võ tướng có tên tuổi của nghĩa quân Lam Sơn như Lam Sơn như Nguyễn Bá Lai, Cao Nhân Tới,… Nhân dân Diễn Châu đã hết lòng dốc tâm dốc sức cho nghĩa quân Lam Sơn.
Trong thế trận nông dân đứng lên chiến đấu, tinh thần quật khởi của nhân dân Diễn Châu nói riêng và cả nước nói chung đã tạo điều kiện cho cao trào khởi nghĩa nông dân to lớn do Nguyễn Huệ lãnh đạo. Người dân Diễn Châu đã góp phần không nhỏ trong đại thắng quân Thanh vào đầu năm Kỷ Dậu (1789) của cả dân tộc.
Trong những trang sử chống xâm lược của quê hương xứ Nghệ anh hùng, nhân dân Diễn Châu đã góp công xứng đáng. Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện những hành động tráo trở để xâm lược nước ta, triều đình Huế suy vong và bất lực. Các sĩ phu yêu nước đã đứng lên tập hợp nghĩa quân đánh Pháp. Tại Diễn Châu, các lò rèn Nho Lâm ngày đêm đỏ lửa, rèn đúc vũ khí cho nghĩa quân diệt giặc. Do có một số hạn chế khó tránh trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, các cuộc khởi nghĩa đã có những tiếng vang song cuối cùng vẫn thất bại. Nhiều làng quê ở Diễn Châu đã bị đốt phá. Hàng trăm dân lành bị bắt bớ, chém giết, tù đày. Thực dân Pháp và bọn tay sai đã gây nên những cuộc trả thù đẫm máu.
Trong những năm nổ ra phong trào Cần Vương, cùng với nhân dân các huyện bắc Nghệ An, nhân dân Diễn Châu đã quy tụ dưới ngọn cờ lãnh đạo của cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn. Nghĩa quân đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, khí phách cứng cỏi, bất khuất. Cụ Nghè Ôn, Đinh Văn Chất, Đề Vinh,… mãi là niềm tự hào của người dân Phủ Diễn.
Đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước ở Việt Nam diễn ra theo một xu hướng mới dưới ngọn cờ cứu nước của hai chí sĩ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Cụ Phan Bội Châu đã đến Diễn Châu, bắt liên lạc với những người đã từng hoạt động phong trào Cần Vương. Bên cạnh những hoạt động vũ trang, hoạt động duy tân và xuất dương du học, nhiều xã ở Diễn Châu tích cực mở các lớp truyền bá kiến thức mới, lập các hội học, hội buôn nhằm mở mang dân trí, chấn hưng dân khí. Trong số thanh niên Diễn Châu xuất dương hồi bấy giờ, Phùng Chí Kiên là người tiêu biểu nhất. Phùng Chí Kiên cùng Võ Mai là hai thanh niên yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng và được đi học lớp chính trị ở Quảng Châu. Vì vậy ở Diễn Châu, nhân dân được tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lê nin sớm. Một số chi hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội được xây dựng ở Vạn Phần, Cao Xá,… của Diễn Châu.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay sau đó, Đảng bộ Diễn Châu cũng được thành lập và thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cuộc đấu tranh mới quyết liệt – cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Từ năm 1930 đến năm 1945, nhân dân Diễn Châu đã hòa mình vào dòng thác cách mạng của dân tộc, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong ngày vui chiến thắng của đất nước mừng độc lập, có biết bao xương máu của chiến sĩ, của nhân dân xứ Diễn đã đổ xuống vì non song gấm vóc.
Xứ Diễn không chỉ là quê hương của những con người anh hùng bất khuất trong đấu tranh, cần cù chịu khó trong lao động mà còn là cái nôi của những con người hiếu học, luôn có tên ở tốp đầu khoa bảng, được nhân dân ca ngợi và tôn kính. Nhiều làng được được xem là làng khoa bảng như Lý Trai, Nho Lâm, Đông, Thịnh Mỹ, Vân Tập,… với những tên tuổi rạng ngời danh tiếng và đức độ như cha con Ngô Trí Tri – Ngô Trí Hòa, Nguyễn Xuân Ôn, Cao Xuân Dục, Đặng Văn Thụy, Nguyễn Hưng Hàn, Nguyễn Trung Mậu, Phùng Chí Kiên,… đã từng làm rạng danh xứ Nghệ.

KHU VUI CHƠI GIẢI TRÍ TẠI DIỄN CHÂU
22/12/2024

KHU VUI CHƠI GIẢI TRÍ TẠI DIỄN CHÂU

NHỮNG DANH LAM THẮNG CẢNH Ở DIỄN CHÂU
22/12/2024

NHỮNG DANH LAM THẮNG CẢNH Ở DIỄN CHÂU

DI TÍCH LỊCH SỬ
22/12/2024

DI TÍCH LỊCH SỬ

| LỊCH SỬ LÀNG NHO LÂM |Nho Lâm ngày xưa là tên gọi của gần như ba xã: Diễn Thọ, Diễn Lộc và Diễn Phú hiện nay. Đây là m...
22/12/2024

| LỊCH SỬ LÀNG NHO LÂM |
Nho Lâm ngày xưa là tên gọi của gần như ba xã: Diễn Thọ, Diễn Lộc và Diễn Phú hiện nay. Đây là một làng lớn, thuộc loại nhất hương, nhất thôn, nhất xã mà Diễn Thọ hiện tại là cái “rốn” của làng Nho Lâm. Nói là cái “rốn” vì nó ở vùng đất “cựu trạch”, bao gồm 11 khoán. Còn Diễn Phú trên thực tế còn có đất của làng Xuân Dương, làng Bình Sơn và xóm Kìm (Bình Sơn và Kìm là của Diễn Lợi cắt ra). Diễn Lộc thì chính là sự tập hợp của 12 giáp.
Nho Lâm xưa – phía tây giáp làng Ngọc Lâm và làng Xuân Sơn, bắc giáp làng Quảng Hà, làng Bút Điền, làng Phú Hậu, đông giáp làng Phú Linh, làng Đa Phúc, làng Tiền Song, đông nam giáp làng Nguyệt Tiên, làng Tập Phúc, nam giáp làng Xuân Dương (Thanh Dương) và dãy Đại Vạc.
Đây là một xã lớn, vì nó có tới 11 khoán và 12 giáp. 11 khoán nằm trong lũy của đất cựu trạch có tên là Thanh Kiều (tên cũ là Bình Kiều), Phương Đình (tên cũ là Tĩnh Nguyên), Hòa Hội (nay là làng Nhân Hòa), Sơn Đầu,Tây Viên (nay là xóm 2, khu vực chợ Nho Lâm), Trung Phu (nay là Nhân Mỹ), Hòe Thị, Văn Phú (Văn Lâm), Đông Bích, Ngọ Cao, Nhân Thọ (phía bắc Đông Bích, sau này nhập vào làng Đông Bích). 12 giáp nằm rãi rác ở ngoài lũy, đó là sự b**g ra khi dân xã đông đặc, và được đặt là Vĩnh Yên, Xuân Trang, Nho Hội, Xuân Khánh, Nho Quan, Mỹ Lý, Thượng Chế (giáp này ở phía dưới đường tàu và phía nam tuyến đường liên xã chạy từ Diễn Thịnh lên Diễn Lợi hiện nay, đến năm 1986 thì chuyển toàn bộ vào trong Rú Bạc), Yên Tập, Yên Hội, Cự Kiến, Hồi Tổ, Hồi Xuân. Cũng vì đặc điểm tương đối khác với các làng ngày trước nên văn hóa Nho Lâm vừa có tính đóng vừa có tính mở. Tính đóng thường thấy ở vùng đất cựu trạch. Tính mở nằm ở các giáp.
Trong 12 giáp này thì hai giáp sau đây “hơi” có đặc điểm riêng: Cự Kiến là giáp để gom dân khác huyện, khác tỉnh đến xin ngụ cư ở làng Nho Lâm; Hồi Tổ là giáp tập trung những người Nho Lâm đi làm ăn xa lâu năm phải chịu cảnh biệt hương, ly tỉnh, nay nhớ quê cha đất tổ thì vào giáp ấy.
Với cấu trúc tương đối đặc biệt này đã tạo ra những nét rất riêng, có thể nói là rất đặc biệt mà ít làng quê có được như làng Nho Lâm.
Mỗi khoán, mỗi giáp là đơn vị hành chính thu nhỏ lại, nó tương đương như một xóm hay một đội bây giờ.
Trong hàng ngàn năm tồn tại, Nho Lâm đã thay tên gọi nhiều lần: Thung Thanh, Tùng Lâm, Hoa Lâm, Nho Lâm, Tân Nho. Ngoài các tên ấy ra còn có một tên nôm nữa là Lộ Cộ.
Tục truyền rằng: Ngày xưa ông Non, bà Non, người họ Cao vào đây khai cơ lập ấp. Làng lúc đó ở phía nam Rú Mụa, có tên là Thung Thanh. Phía nam Thung Thanh là ngàn Đại Vạc và làng Xuân Dương. Chọn đất này làm chỗ trú chân vì ông bà thấy có núi, có khe, vừa cận thủy, vừa cận thủy vừa cận sơn, có đủ điều kiện để
sinh cơ lập nghiệp, vở ruộng làm ăn. Gần núi thì vừa được núi che chắn gió bắc rét buốt, vừa có củi đuốc để nấu ăn, tre gỗ để làm nhà. Gần khe dễ bề lấy nước tưới vườn ruộng, sinh hoạt. Dần dần, dân làng ngày càng đông lên, để có đất làm ăn về lâu về dài, con cháu họ Cao đã bắc tiến. Họ ra ở vùng Cồn Lim. Cồn Lim tuy không gần núi nhưng cũng gần sông Eo Bù, đất đai lại màu mỡ hơn. Cuối cùng họ nhận thấy vùng đất phía nam núi Mã Yên (Rú Ta) là nơi ở lý tưởng nhất, nên dân Nho Lâm thuở ấy đã thiên cư đến đó.
Cái tên Thung Thanh tồn tại đến đời Trần thì được đổi tên là Tùng Lâm. Thuở ấy Hoàng thân Trần Quốc Khang vào trọng nhận đất Diễn Châu. Công chúa Hồng Thị Châu Nương, vợ ba của thượng tướng Trần Quang Khải cũng vào Châu Diễn để lập căn cứ hậu cần. Bà “định cư” tại đất Hạnh Lâm (Diễn Hạnh, Diễn Quảng hiện nay). Phía nam Hạnh Lâm là Tùng Lâm.
Tên Tùng Lâm tồn tại từ thời Trần đến thời vua Lê Kính Tông (1588 – 1619). Vì kỵ húy tên chúa Trịnh Tùng (1550 – 1623) nên được đổi tên là Hoa Lâm. Trịnh Tùng ép vua phong chúa năm 1599 nên ta có thể luận ra tên Hoa Lâm xuất hiện khoảng vào thời gian đó.
Đến đời vua Gia Long, tên Hoa Lâm lại phạm húy với con dâu mới cưới của vua lúc đó mới 15 tuổi, sau là Tá Thiên Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa (1791 – 1807) của vua Minh Mạng, mẫu thân của vua Thiệu Trị. Tên Hoa Lâm lại được đổi thành Nho Lâm. Như vậy, cái tên Nho Lâm xuất hiện khoảng sau năm 1806. Ta hiểu điều này vì, thời nhà Nguyễn, ngoài cái tên Hoa bị đổi, còn có “Thực”, có “Thì”. Ca dao cũ có câu:
Cấm Hoa, cấm Thực, cấm Thì
Cấm ba điều ấy còn chi là đời.
Cho nên tên đất, tên người nếu mang tên Hoa thì gọi là Huê (tôi đố bạn biết huê gì nở mùa đông vàng cánh vàng – dân ca Phú Thọ), là Bông (phương ngữ miền Nam), là Mỹ, là Hóa (Thanh Hóa), là Ba (Đông Ba). Thực thì gọi là thật, nếu mang tên “Thì” thì gọi là Thời,… Đây là triều đại có rất nhiều từ thuộc diện quốc húy.
Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, để in dấu ấn cách mạng, đổi mới, cái tên Nho Lâm được đổi thành Tân Nho. Tân Nho là làng Nho mới. Đến cuối năm 1952, đầu năm 1953, xã Nho Lâm được chia làm ba xã: Diễn Thọ, Diễn Lộc và Diễn Phú. Thế nên, nếu như nói Nho Lâm xưa thì ta hiểu là một vùng rất rộng lớn. Còn nếu nói Nho Lâm ngày nay thì chỉ gồm phần đất của 11 khoán thuộc cựu trạch.
Có nhiều tên là thế, thay đổi tên cũng bao lần như thế nhưng hai tiếng Nho Lâm vẫn được người dân Diễn Thọ thích hơn cả. Chắc là tại cái ý nghĩa của từ này.
Dù mang tên gì đi nữa, Nho Lâm vẫn là vùng quê sơn thủy hữu tình. Ở đất này, bậc nhân giả, trí giả tha hồ nhạo sơn, nhạo thủy. Du sơn, ngoạn thủy, tâm hồn con người sẽ trở nên thoáng đãng, thư thái. Muốn xem trời xem biển, người Nho
Lâm có thể lên đỉnh Mã Yên, đỉnh Mạo Sơn. Muốn thả hồn cùng sông nước, có thể bơi thuyền, dạo bộ theo dọc kênh nhà Lê, rào Anh Liệt,…
Trở về quá khứ, Nho Lâm ngày xưa có cây cối rậm rạp. Núi cồn đầy cây. Phía bắc có núi Mã Yên, hao hao giống như một cái yên ngựa, hai đầu lồi lên, ở giữa lõm xuống. Nó lại đứng một mình giữa đồng không mông quạnh, giống như núi Thái Sơn bên Trung Quốc, nên có người gọi nó là núi Thái Sơn. Những khi lụt lội, nước trắng cả một vùng, núi Mã Yên nổi lên như một con rùa lớn. Ngoài hai cái tên Mã Yên Sơn, Thái Sơn, ngọn núi này còn có một tên nôm nữa: Rú Ta. Nguyên do cái tên ấy như sau:
Vào thời Hậu Lê, trong một lần tuần thú phương Nam, nhà vua thả voi ra quần nát ruộng nương của dân Nho Lâm. Mất của xót ruột, dân quê đã dùng cung tên bắn chết voi. Nhà vua tức giận, bắt dân Nho Lâm đan một con voi bằng tre to bằng con voi thật, rồi kiếm tiền đổ vào cho thật đầy, nếu không sẽ bị diệt cả làng. Dân Nho Lâm kiếm tiền không đủ, cả sợ. Thế là vào một đêm tối trời, họ bí mật bỏ quê ra đi. Họ đi đến Nộn Hồ, Nộn Liễu (nay là xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn). Xa lắm rồi, họ ở lại đó. Một thời gian sau, án giết voi được bãi bõ. Dân Nho Lâm lại tìm đường về quê. Khi thấy Mã Yên Sơn hiện ra trước mặt, họ đã sung sướng cùng kêu lớn: Rú ta đây rồi! Cái tên Rú Ta vừa thân thương, vừa trìu mến ra đời từ đó. Để phân biệt chỗ ở mới (Nộn Hồ, Nộn Liễu), họ lại gọi miền quê Nho Lâm là Lộ Cộ (chỗ cũ, nơi cũ). Đến nay, dù năm tháng đã mờ xa, nhưng dân Nho Lâm vẫn lưu truyền câu ca:
Lộ Cộ có lộ tiền chôn…
Phía đông nam, cách núi Mã Yên không đầy cây số là Rú Võ. Tên chữ của nó là Hạc Linh Sơn, hay còn gọi bằng cái tên nôm thần kính: Rú Thần. Tại Rú Thần xưa có đền thờ thần Rắn, người ta gọi là Đền ông Lành. Đền ông Lành gắn với một câu chuyện về đền Hạc Linh Sơn, hay Đền Thần (theo tên gọi dân gian).

Trước Cách mạng Thàng 8 năm 1945. Đền Hạc Linh Sơn thờ Đức Thánh Cả là đền Hạc Linh Sơn, đền lớn nhất xã Nho Lâm. Tuy có...
22/12/2024

Trước Cách mạng Thàng 8 năm 1945. Đền Hạc Linh Sơn thờ Đức Thánh Cả là đền Hạc Linh Sơn, đền lớn nhất xã Nho Lâm. Tuy có nhiều thờ thần khác, song toàn dân Nho Lâm phải phụng tế phải đền này. Đền tọa lạc trên đồi có nhiều cây cối xanh tốt quanh năm, trước đền có hồ nước, phong cảnh son thủy hữu tình. Từ xa xưa đã có nhiều cây cổ thụ hàng mấy người ôm không xuể. Đền rất linh thiêng, nồi tiếng cả một vùng rộng lớn thuộc địa bàn phía Nam huyện Diễn Châu. Đền Hạc Linh Sơn thờ con rắn không lồ, có khả năng phun hơi lên trời làm mưu, dân thường gọi là ông Lành. Xuất phát từ sự tích đó mà dân làng thường tổ chức lễ "Đảo Vũ" cầu mưa vào những năm trời làm khô hạn mất mùa. Sau khi được mưa, xã làm lễ tạ, dân tụ tập ở đền hát múa vui vẻ.
Lâu năm thành lệ, cứ rằm tháng 3 xã đặt lễ hát quan tại sân đền. Dưới đây chỉ đề cập một số hoạt động chủ yếu của lễ tế thần và lễ tế "Đảo Vũ" ở đền Hạc Linh Sơn.
Lễ tế thần chỉ kéo dài 2 ngày vào ngày 16 và 17 tháng giêng hàng năm. Để buổi lễ trang nghiêm hoành tráng, Ban phụng sự tể lễ đền Hạc Linh Sơn phải làm tốt công tác chuẩn bị.

ĐI VÀO LỄ TẾ THẦN RẮN Ở ĐÈN HẠC LINH SƠN
Lễ tế thần chỉ kéo dài 2 ngày vào ngày 16 và 17 tháng giêng hàng năm. Để Tuối lễ trang nghiêm hoành tráng, Ban phụng sự tể lễ dên Hạc Linh Sơn phải làm tốt công tác chuẩn bị.
1.Chuẩn bị lễ tế thần.
Công việc đầu tiên là xã tổ chức họp chuẩn bị.
- Thành phần dự họp gồm: Chánh phó xã, các chức sắc của 23 khoán giáp và các ông hương chính ....
- Nội dung cuộc họp: Quyết định Lễ vật ngày Đại lễ, để mua bán các vật phẩm phục vụ cho ngày lễ. Cử ban hành lễ gồm tế chủ, 2 bồi tế, người điểm xướng, để điều hành buổi lễ, nguời soạn văn tế, nguời đọc văn tế, 2 nội tán đứng 2 bên chủ tế. Người phụ trách nhạc gồm đại nhạc tác (trống to chiêng to), tiểu nhạc các trồng nhỏ, chiêng nhỏ, thanh la, não bạt, tổ bắt âm, những người phục vụ khác trong việc bồng đăng (dâng đền hương), chước tửu (rót rượu), dâng rượu, phụng văn, đốt văn tế gọi chung là chấp sự.
Ngoài ra ở cuộc họp chuẩn bị còn chỉ thị cho các khoán giáp chuẩn bị người trai mạnh khỏe để khiêng kiệu- chuẩn bị cờ lọng. Cử người làm mâm cỗ, quét giọn tòa điện, chuẩn bị lễ vật, đón tiếp quan k
- Kinh phí dùng cho tế lễ thần, xã lấy từ lợi tức của 5 mẫu công điền mà xã đã thu. Bấy giờ Nho Lâm phải phụng sự 2 đến là Hạc Linh Sơn và Mã Yên Sơn (Rú Ta), xã dùng 10 mẫu công điền cho 2 đền.
- Tế thần là một nghi lễ linh thiêng trọng đại, nên những người trong ban hành lễ phải là những người có phẩm giá cao sang. Chủ tế phải là người đỗ đạt, có uy tín, có học vị, bậc thủ chỉ của xã, phu phụ song tồn, tử tôn hưng vượng. Những người được các khoán cử đi dự lễ phải là người có đinh bài thẻ đỏ, không phải chịu tang ai. Vật phẩm tế lễ cũng phải tinh khiết tránh mua của những người có tang chế.
2. Đi vào ngày lễ chính.
a. Lễ rước thần:
Trước ngày lễ chính một hôm có tổ chức rước từ đến Hạc Linh Sơn lên Mã Yên Sơn. Sau khi tế lễ xong ở đền Mã Yên Sơn lại rước thần về nơi cũ. Rước thần diễn ra rất long trọng hoành tráng: Đoàn rước thân kéo dài hàng nữa cây số, lễ rước thần dược dân làng chuẩn bị rất chu đảo thể hiện lọng kính nương tôn vinh biết ơn thân dã chẽ chở, đem lại mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt cho nhà nông. Với ý nghĩa đó nên đoàn rước thần di chuyển trật tự nhưng không kém sôi động. Cả một vùng đỗ rực màu cờ ngũ hành cả đuổi nheo, đi đầu là đoàn vác các giáo, mác, tế khí của đền, tiếp đến là một đôi ngựa gổ (một bạch, một tía) được sản hánh xe kéo đi. Tiếp theo là kiệu rước thần sơn son thiếp vàng, có lồng ngai thần vị, có tàn lọng che mưa năng. Theo sau kiệu là các vị khoa, các quan viên chức sắc rồi mới đến dân thường. Đoàn người rước thần ăn mặc chỉnh tề đi trong tiếng vang sôi động của tiếng trồng, tiếng công chiêng, não bạt, hòa lẫn âm thanh trầm bồng, du dương của phương bát âm, làm cho không khí vui xuân ở làng quê trở nên náo nhiệt. Dân ở các làng đều đồ ra đường trong bộ quần áo đủ màu sắc đứng xem bên đường hoặc chạy theo đoàn rước nói cười vui vẽ. Con đường rước thần được xã tu sữa hàng năm, đến bây giờ con đường này có tên là "Đường làng rước".
Đoàn rước thần đến Đền Mã Yên Sơn, làm lễ xong, rồi quay về đền Hạc Linh Sơn. Khi quay trở về đoàn người đi rước vẫn hành ngũ chỉnh tề như khi đi. Chiều hôm đó xã làm lễ yết cáo. Tối đến tố chức các trò chơi dân gian đánh bài, hát ca trù, hát dặm.. cuộc vui kéo dài đến tận sáng.

LỄ TẾ THẦN
Lễ chính thức được cử hành vào buổi sáng. Lễ tế thần, dân làng được tiến hành hết sức long trọng. Dân làng mỗ trâu bò lợn gà, đồ xôi làm cổ dâng cúng. Ngoài xôi thịt còn có hương nến, trầu rượu, hoa quả, vàng mã, cỗ được bày trên mâm cỗ bồng bằng gỗ, đặt trên các bàn thờ. Khu vực chuẩn bị cỗ bàn là 2 nhà tả vu và hữu vu ở sân hạ điện.
Lễ tế thần được cử hành tại thượng điện, còn hạ điện dành cho dân thường đến xem lễ.
Trước khi hành lễ, chủ tế phải mặc áo chủ tế màu đỏ, đội mũ chủ tế. Các bồi tế và thành phần khác cũng mặc áo dài đội mũ theo quy định. Người đi dự lễ nếu là quan chức mặc trang phục quân chức, dân thường mặc áo the, quần trắng, khăn đóng: Nghi lễ tế thần đo người diễn xưởng điều nhuận, trước thượng tề trải sẵn 4 chiếc chiếu. Chiếu sần hương án nhất là chiều bồi tế còn các người giúp việc khác, đứng 2 bên (ngoài chiếu).
- Nghi lễ tế thần gồm có các bước: + Nổi to chiêng trông ba hồi. + Đội nhạc vào vị trí và cử nhạc lên: Đội nhạc gồm đội bát âm, đại nhạc tác, tiêu nhạc tác. + Kiểm soát lễ vật: 2 chấp sự dẫn chủ tế cầm nến, hương vào nội điện để + Kiểm tra các vật phẩm dâng lễ. + Ê mao huyết (viết lông và huyết): Một người chấp sự cầm cái đĩa trong bỏ 1 ít lòng bò, lợn, và một ít tiết bỏ đi. Đây là cử chỉ tượng trưng. Sau khi chủ tế kiểm soát lễ vật xong, trừ bỏ tạp chất, còn lại thứ tinh túy để tế thần linh. + Ban hành lễ sẵn sàng vào buổi lễ: Chủ tế bồi tế đến chỗ rửa mặt, rửa tay lau khô. Bồi tế vào vị trí hành lễ.
- Lễ dâng hương: hai chấp sự hai bên bưng lư hương và hộp trầm quỳ xuống, giao cho chủ tế quỳ vái xong, chấp sự đặt lên hương án.
- Nghênh thần cúc cung bái: Chủ tế, bồi tế lạy 4 lạy theo trống, đồng xướng bái, tây xướng hưng, quỳ đứng lên.
- Dâng rượu tuần đầu: 1 nội tán dẫn chủ tế đến hương án để sẵn rượu, chấp sự mở đài rượu, rót rượu. Tế chủ và 2 nội tán lên chiếu 1 quỳ, nội tán dâng đài rượu. Chủ tế vái rồi nội tán 2 bên nâng cao đài rượu, đưa vào nội điện, chủ tế cúi lạy rồi đứng lên.
- Chuẩn bị đọc văn tế.
Tế chủ lên chiếu 1, chấp sự vào nội điện phụng văn tế ra. Chủ tế, , bồi tế, người chuyên văn, đọc văn, cả 5 người đều quỳ. Người chuyên văn quỷ bên phải đưa văn tế cho chủ tế vái 1 vái rồi giao cho người đọc văn tế. Người đọc văn tế giao cho chủ tế vái 1 vái rồi giao cho người chuyên văn. Tất cả cúi lạy hứng bái hai lần, 2 lạy đứng nghiêm trở về vị trí cũ. - Lỗ dâng rượu tuần 2, tuần 3 cũng tiến hành các bước như lần trước .
- Quân hiển âm phước (lê tượng trung thần ban phước lộc) Chủ tế thay mặt toàn dân trăm họ nhận phước lộc của thần ban cho. Chù tế quý uống rượu nhận phước.
- Thụ tộ: Chủ tế thay mặt toàn dân nhận lộc thần. Chủ tế ăn miếng trầu tượng trưng cho lộc thân. Nhận phước lộc xong chủ tế về vị trí (chiều 3),
- Tạ lẽ: Chủ tế, bồi tế cúi lạy theo nhịp trống 4 nhịp hưng bái.
- Đốt bài văn tế, vàng mã.
- Ban hành lễ làm xong các thủ tục tế lễ. Các quan viên chức sắc, các làng
tùy theo tuổi tác, phẩm trật lần lượt vào chiếu bồi tế để bái tạ, lễ thần. Các quan
viên chức sắc lễ xong, dân thường mới đước vào làm lễ.
Trên đây là nghi thức chính của buổi tế thần.
Ngoài ra, có những năm còn tuyên đọc thần tích, các sắc phong. Lễ xong, những người dự lễ tổ chức ăn uống vui vẽ, chủ tế, bồi tế, các vị khoa bảng, các vị chức sắc của xã được ban phụng sự tế lễ phân phát cổ biếu mang về nhà.
Ý nghĩa của lễ hội ở đền Hạc Linh Sơn: Đây là lễ hội Nông nghiệp. Lễ hội này hàm chứa một tâm trường vừa kín đáo, vừa sâu xa, vừa lan tỏa bao trùm là thờ cúng các vị thần thánh, tôn vinh các vị thần thánh, mong các vị thần thánh phù hộ cho mọi người dân trong cộng đồng đang sống tại xã hay làm ăn nơi xa và cả những người có quan hệ dân làng, được hóa thân nhập cuộc. Bản thân họ khi dự hội làng không những được gần gủi với nhau, gắn bó với nhau để tỏ niềm sâu kín về cội nguồn của làng (mà cũng là cội nguồn của đất nước tại một không gian thiêng trong những ngày mở lễ hội mà còn được thưởng thức văn hóa, văn nghệ dân gian, những loại hình nghệ thuật do cha ông mình sáng tạo, lưu truyền và giờ đây đang hiện diện trước mắt.

| QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ TÔN TẠO | Trong cuốn sách "Nho Lâm phong thổ ký" (sách chép tay, chưa xuất bản) của ông Đặng Văn...
19/12/2024

| QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ TÔN TẠO |

Trong cuốn sách "Nho Lâm phong thổ ký" (sách chép tay, chưa xuất bản) của ông Đặng Văn Trình, có chép về đền Hạc Linh Sơn như sau: "Chính đồng làng có núi Hạc Linh Sơn, nằm sát phía tây kênh sắt. Núi tuy không to nhưng phong cảnh rất đẹp. Cây cối rậm rạp trước kia có những cây đại mộc, hàng mấy người ôm. Đứng trên cao trông xuống nhìn giống như con chim hạc nằm sấp, xòe cách ấp con, nên có tên là Hạc Linh Sơn, là cẩm địa của xã, vì trên núi có đền thờ Đức Thánh Cả. Nguyên trước ở phía tây núi. Năm Giáp Tý (1924) dân làng dời sang phía đông. Khi khánh thành đền, ông Cử nhân- Hồng Lô Tự Thiếu Khanh- Nguyễn Xuân Khôi có bài ký lưu niệm bằng Hán văn, mở đầu có câu (do ông Tú tài- (bỏ) Cao Cự Ái dịch):
Tọa linh miểu tọa đông núi Hạc.
Ở về tây nguyên trước đã lâu
Kìa kìa ai dựng ra đầu
Mơ màng ký tái, sử đâu không tường.
Chứng tỏ ngôi đền này xây dựng đã lâu lắm.
Từ vị trị phía tây, dời sang vị trí phía đông, chỉ cách nhau một vài trăm mét là cùng. Năm dời đền, theo ông Đặng Văn Trình, là năm 1924. Nhưng lý do dời đền, thì cho đến nay không có ai biết rõ. Tuy nhiên, có điều sau đây, thì có người vẫn nhớ. Trong bài thơ nói về việc sửa đền của ông Tam trường Cao Cự Lân có câu:
Sửa đền nhiều thợ có tài
Làm sao cổng đổ đến hai ba lần.
"Sửa đền" tức là di chuyển dền từ phía tây sang phía đông núi, như đã nói ở trên. Còn cổng ở đây là cổng tam quan- cổng vào đền. Cồng xây lên cao, bị đổ lại dến hai ba lần, dưới bàn tay của những người thợ nỗi tiếng của cả tỉnh lúc bấy giờ, như ông Cả Long, ông Nhiêu Trình. Ông Cả Long là người thợ chính xây đền Công. Còn ông Nhiêu Trình, thì sau khi sửa xong đền Hạc Linh Sơn là bị điên, suốt ngày đi lang thang khắp làng khắp xã.
Đền Hạc Linh Sơn không chỉ của một thôn xóm, của một làng xã phụng tự. Mà là của nhiều thôn, xóm, nhiều làng xã phụng tự:
- Làng Nho lâm- ngay nay là xã Diễn Thọ, Diễn Lộc Diễn Phú (bỏ).
- Làng Đa Phúc- ngày nay thuộc xã Diễn Tân.
- Thôn Hậu Khoán- Ngày (Bỏ) nay thuộc xã Diễn Thành.
- Làng Tràng Thân- ngay (bỏ) nay thuộc xã Diễn Phúc.
- Làng Yên Xuân- ngày nay thuộc xã Diễn Phúc.
- Làng Mai Các- ngay nay thuộc xã Diễn Thành.
- Làng Lạc Sở- ngày nay thuộc xã Diễn Cát.
Thường thì, những thôn xóm, làng xã được tham gia phụng tự có hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là, cấp trên làm đền, rồi giao cho cho cấp dưới phụng tự. Như làng xã làm giao cho thôn xóm. Huyện phủ làm giao cho làng xã. Trường hợp thứ hai là do tín nhiệm một ngôi đền nào đó, nên đến xin được phụng tự, với ý nguyện mong cho địa phương mình được thần linh phù hộ.
Ở đây, đền Hạc Linh Sơn là của làng xã thì chỉ có thể giao cho khoán giáp trong làng mình, chứ không thể giao cho các làng xã ở nơi khác được.Nhưng lại có nhiều làng xã khác tham gia, thì chắc chắn là thuộc về trường hợp thứ hai. Điều đó chứng tỏ rằng, đền Hạc Linh Sơn là một ngôi đền nổi tiếng, được nhiều nơi, nhiều người ngưỡng mộ.

19/12/2024

| LỊCH SỬ HÌNH THÀNH ĐỀN HẠC LINH SƠN |

Theo "Thần phả Đền Sò" và lời truyền ngôn của các bậc cao niên xưa này kể lại: Xưa có ông Hoàng Kiến Bảng (Tên thường gọi ông Dục Xanh), lấy bà Võ Thị Quyền, người xã Quỳ Trạch, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu. Hai ông bà sống rất hiền lành, lấy nhau đã nhiều năm vẫn chưa có con. Ông bà đi cầu khẩn nhiều đền, chùa, miếu, mạo. Lòng thành động đến cửu trùng thiên, Ngọc Hoàng Thượng Đế cho hai tiểu đồng xuống đầu thai. Một hôm bà Quyền ra một khúc sông gần nhà để tắm. Về nhà, bà thấy toàn thân ngứa ngáy, khó chịu. Vài hôm sau thấy trong người khang khác. Rồi bà có mang. Đến ngày, đủ tháng, bà sinh ra hai cái trứng. Thấy lạ, ông Bảng lấy một cái chậu đất, đổ nước vào hơn nửa chậu, rồi bỏ hai cái trứng vào. Lạ thay, hai cái trứng, cái trước cái sau, đuổi nhau chạy vòng tròn. Sau đó, hai cái trứng nở ra hai con rắn có hình thù hơi khác nhau. Con nở trước có hình giống con Long xà, người cha đặt tên là Hoàng Cảnh Kỳ. Con nở sau có hình con Giao Long, người cha đặt tên là Hoàng Tiến Sơn. Từ đó, hai ông bà nuôi nấng Kỳ và Sơn như nuôi hai con người vậy. Đi đâu, ông Bảng cũng cho hai con đi theo. Trời hạn hán một độ rất lâu. Gặp dịp trời mưa to, ông Bảng vác thuổng ra đồng đào đất để dện hốt ( Lấy đất lấp chặt những chỗ bờ ruộng bị khô nẻ, nước bị thất thoát). Hai con quấn quýt bên chân. Trong lúc chắn đất, vì sơ ý, ông chắn vào đuôi của Tiến Sơn. Máu chảy đầm đìa. Tiến Sơn rất đau đớn kêu khóc. Hai anh em Kỳ và Sơn dìu nhau về trước. Còn người cha hiền lành, khốn khổ thì ở lại làm xong công việc rồi về sau. Vừa về đến đầu cửa, hai con Rắn đều há miệng đòi cắn. Ông Bảng phải quỳ xuống nói với hai con một cách thành thật, thảm thiết: "Sao hai con lại căn cha? Cha vô ý chắn phải đuôi Tiến Sơn, chứ có phải chủ ý đâu. Cha xin hai con tha tội". Hai con nghe lời, rồi cùng cha vào nhà. Ông Bảng kiếm thuốc đắp rịt chỗ đau cho Tiến Sơn. Ba năm sau, Cảnh Kì nói với cha mẹ và em: "Nay đã hết hạn đầu thai dương thế, con xin cáo biệt cha mẹ và em". Nói xong, liền hóa thành mưa to, gió lớn, sấm chớp, rồi nhằm hướng Đông Nam mà đi. Về sau Cảnh Kỳ có giáng thế xuống thôn Phong Phú Trung. (Vùng Đền Sò bây giờ). Có lần Trời mưa to, sấm chớp đầy trời. Nhân dân trong thôn nhìn thấy rất rõ hình thù một con Long xà trong mưa. Mọi người bảo nhau sắm sửa hương hoa khấn vái, sau đó bàn nhau quyên góp tiền của công sức xây dựng đền để thờ Long xà. Cái đền ấy, nay là đền Sò vậy. Duệ hiệu ban đầu của thần là " LONG XÀ ĐẠI VƯƠNG". Dân trong vùng thường gọi là ÔNG LÀNH để tỏ lòng tôn kính và trìu mến. Tiến Sơn ở lại cùng cha mẹ. Sau đó một thời gian, không biết do có sự cố gì, mà Tiến Sơn bỏ cha mẹ ra đi. Người cha phải cất công đi tìm, hàng tháng trời vẫn vô tăm, biệt tích. Buồn phiền, thất vọng, cuối cùng ông kiệt sức nằm chết giữa đường đi. Dân trong vùng cảm thương gọi nhau xúm vào lo việc chôn cất. Về sau lập đền để thờ. Và sau đó, biết rõ sự tình, họ cũng lập luôn đền thờ người con, ở thôn Diệu Ốc tổng Vân Tụ, huyện Yên Thành. Đền này gọi là đền Diêu Ốc, thờ Ông Cụt. Ngày nay ở Nho Lâm còn lưu lại câu phương ngôn :"Nho Lâm đảo vũ, Vân Tụ được mưa" là vì vậy. Căn cứ vào tài liệu chép tay được viết từ năm 1979, hiện lưu tại nhà thây giáo Nguyễn Đức Ngọ (đã nghỉ hưu) tại làng Vĩnh Yên, xã Diễn Lộc, Huyện Diễn Châu, đây cũng là tài liệu dùng để biên soạn cuốn lịch sử xã Diễn Lộc xuất bản năm 2010. Trong tài liệu này tác giả đã sử dụng và tham khảo "Nho Lâm phong thổ ký của Đặng Văn Trình là cháu Đặng Văn Thụy"; Tham khảo sách "Đông thành phong thổ ký" của ông Trương Sỹ Quán người Lý Trai; Đồng thời tác giả còn ghi nhận và cảm ơn sự đóng góp nhiệt thành của cụ Cao Danh Hậu- một người am hiểu về phong thổ Nho Lâm cũng như hiểu biết sâu, rộng về các sắc thần, thần tích ở Diễn Châu nói chung, Nho Lâm nói riêng. Tiếc rằng tài liệu này tác giả chưa nêu rõ Đền Hạc Linh Sơn được xây dựng vào thời gian nào? Mà chỉ ghi: "Thần Tích Đức Thánh Cả trước xã (chỉ xã Nho Lâm) đã có từ điển ghi chép rõ ràng, nhưng sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, xã Nho lâm chia làm 3 xã, từ điển bị thất lạc". Tuy nhiên, trong tài liệu chép tay này có đoạn viết: "Đền thờ được xây dựng đã lâu, mãi đến năm Quí mùi (1764) đời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 24 mới được sắc phong làm thần thượng đắng tối linh đại vương". Qua tài liệu trên đây chúng ta có thể kết luận, dưới triều Lê Trung Hưng đền thờ Đức Thánh Cả đã có, như vậy đền Đệ Nhất thờ Đức Thánh cà là một trong những ngôi đền cổ ở Diễn Châu nói riêng, ở Nghệ An nói chung với tuổi trên 300 năm.

Address

Xã Diễn Lộc, Huyện Diễn Châu
Tỉnh Nghệ An

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đền Hạc Linh Sơn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category